1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Kết quả điều tra

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


thấy rằng ở các loại hình từ năm 2000 đến năm 2007 mặc dù lợi nhuận bình quâncơ sở ở các doanh nghiệp giai đoạn 2005-2007 có giảm chút it tuy
nhiên xét về chỉ tiêu nộp ngân sách bình quân các cơ sở đều nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, nguyên nhân xuất phát từ việc số lượng cơ sở
KTTN tăng lên về quy mô và chất lượng theo từng năm, mặt khác chứng tỏ ý thức chấp hành luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước đã được các cơ sở sản
xuất kinh doanh thuộc khu vực KTTN trên địa bàn chấp hành khá tốt. Công ty TNHH là loại hình có đóng góp cho Ngân sách lớn nhất, tiếp
theo đó là DNTN, hộ cá thể và cuối cùng là công ty CP. Xét một cách tổng thể điều này khẳng định vai trò quan trọng của loại hình cơng ty TNHH,
DNTN bên cạnh đó loại hình hộ cá thể cũng cho thấy được giá trị to lớn mà nó đóng góp cho sự phát triển kinh tế của Kim Thành. Sự phát triển kinh tế
của Kim Thành nói chung và sự phát triển khu vực KTTN nói riêng khơng thể tách rời sự phát triển của kinh tế hộ cá thể. Khu vực KTTN cho thấy giá trị
cũng như tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong những năm vừa qua và sau này, để góp phần phát triển nhanh kinh tế huyện nhà cần biết khai thác một cách
tốt hơn nữa giá trị đóng góp của khu vực KTTN.

4.1.2 Kết quả điều tra


4.1.2.1 Tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh a Cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động.
Đất đai: Theo số liệu điều tra, bình quân mỗi cơ sở khu vực KTTN sử dụng
1365,6m
2
đất vào sản xuất kinh doanh. Công ty CP có diện tích đất bình qn sử dụng lớn nhất trên 1ha 11146.8m
2
, bình qn mỗi cơng ty TNHH sử dụng 5642,5m
2
đất, DNTN là 846,5m
2
đất. Hộ cá thể có diện tích đất bình qn thấp nhất là 111,5m
2
. Diện tích đất sử dụng bình qn của cơng ty CP lớn gấp 100 lần của hộ
86
cá thể, gấp 1,97 lần công ty TNHH và gấp 13 lần DNTN. Hộ cá thể và DNTN hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
chiếm số lượng nhiều cho nên diện tích đất sử dụng thấp hơn những cơ sở KTTN khác trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
Bảng 4.18 Diện tích đất đai và nhà xưởng của các cơ sở KTTN
Loại hình ĐVT
Số Đất sử dụng
Nhà xưởng Tổng diện
tích m
2
bq 1 đơn vị m
2
Tổng diện tích m
2
bq 1 đơn vị m
2
1. Hộ cá thể Hộ
120 13380
111,5 5972
49,77 2. DNTN
DN 35
29627 846,5
5468 156,23
3. C.ty TNHH C.ty 28
157991 5642,5
23576 842,00
4. C.ty CP C.ty
5 55734
11146,8 4276
855,20 Tổng số
188 256732
1365,6 39292
209,00 Nguồn số liệu: Số liệu điều tra
Đối với hộ cá thể, đất kinh doanh chủ yếu là đất thuộc quyền sử dụng của chủ hộ được mua bán, hoặc được Nhà nước cấp quyền sử dụng, rất ít hộ
cá thể làm thủ tục lập dự án xin thuê đất sản xuất kinh doanh. Tính đến hết năm 2007 mới có 5 hộ cá thể xin thuê đất với diện tích bình qn lập dự án là
2500m
2
. Đối với DNTN, Công ty TNHH, công ty CP đất sản xuất chủ yếu là đất
dự án thuê dài hạn của Nhà nước và tập trung ở các khu, cụm cơng nghiệp đã được quy hoạch.
Nhìn chung diện tích đất sử dụng của các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành vẫn ở mức thấp hơn rất nhiều so với diện tích đất sử dụng
của các khu vực kinh tế khác.
87
Nhà xưởng Tổng diện tích nhà xưởng sản xuất của các cơ sở thuộc nhóm điều tra
là 39292 m
2
, bằng 15,3 diện tích đất, bình qn mỗi cơ sở có diện tích nhà xưởng gần 209 m
2
. Hộ cá thể có số lượng lớn nhất nhưng có diện tích đất sử dụng và diện
tích nhà xưởng sản xuất kinh doanh bình qn thấp nhất. Tổng số diện tích sản xuất kinh doanh của hộ cá thể là 5972 m
2
, bằng 44,65 so với diện tích đất, diện tích bình quân nhà xưởng của mỗi hộ cá thể là 49,77m
2
. Tổng diện tích nhà xưởng của các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN
là 33320m
2
, bằng 13,7 diện tích đất, bình qn mỗi cơ sở có diện tích nhà xưởng là 490m
2
. Trong đó DNTN có tổng diện tích nhà xưởng là 5468 m
2
, bằng 18,45 diện tích đất, bình qn mỗi doanh nghiệp có diện tích nhà
xưởng là 156,23m
2
; Cơng ty TNHH có tổng diện tích nhà xưởng là 23576 m
2
, bằng 14,92 diện tích đất, bình qn mỗi doanh nghiệp có diện tích nhà
xưởng là 842m
2
; Cơng ty CP có tổng diện tích nhà xưởng là 4276 m
2
, bằng 7,6 diện tích đất, bình qn mỗi doanh nghiệp có diện tích nhà xưởng là
855,2m
2
; Qua số liệu điều tra cho thấy, công ty CP và công ty TNHH có diện tích
nhà xưởng tương đối lớn và được trang bị khá đồng bộ, còn với DNTN và hộ cá thể có diện tích nhà xưởng sản xuất kinh doanh nhỏ và được trang bị thiếu
đồng bộ, nhiều cơ sở còn xuống cấp, khơng được đầu tư bảo dưỡng, điều kiện sản xuất kinh doanh khơng đảm bảo an tồn.
Diện tích nhà xưởng của các cơ sở thuộc khu vực KTTN còn chiếm tỷ lệ thấp so với diện tích đất của các cơ sở này là do các doanh nghiệp xin th
đất dự án có tính đến việc mở rộng quy mô sản xuất sau này nên thuê diện tích đất lớn hơn nhu cầu sử dụng hiện tại và trong 5 năm trở lại đây nhiều cơ
88
sở làm ăn có lãi nên quy mơ sản xuất kinh doanh, nhà xưởng ngày càng được mở rộng.
Riêng bộ phận hộ kinh doanh cá thể và DNTN do tiềm lực tài chính có hạn chế hơn, và đặc biệt là loại hình hộ cá thể tập trung kinh doanh trong lĩnh
vực bán bn và bán lẻ hàng hóa là chủ yếu, số cơ sở sản xuất sản phẩm trong hai loại hình này chiếm tỷ lệ ít cho nên diện tích nhà xưởng sản xuất, kinh
doanh và diện tích đất sử dụng là khá thấp. So với công ty TNHH, và cơng ty CP thì DNTN và hộ cá thể được
phân bố xen kẽ trong các khu dân cư tập trung, các khu đô thị nên mặt bằng sản xuất kinh doanh đa số được bố trí chưa thực sự khoa học, hệ thống xử lý
chất thải còn chưa được quan tâm đúng mức nên khơng tránh khỏi tình trạng gây ô nhiễm cho dân cư.
Trang thiết bị, máy móc kỹ thuật Vấn đề trang thiết bị và trình độ cơng nghệ là một trong những điểm
yếu nhất của các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành. Các cơ sở KTTN, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN
trang bị máy móc thiết bị hiện đại chưa nhiều, thiết bị chủ yếu được mua trong nước, một số cơng ty TNHH, cơng ty CP tìm kiếm việc nhập khẩu
thiết bị máy móc nhưng chủ yếu là máy móc thế hệ thứ 2 từ các nước Trung Quốc, Đài Loan. Tiêu chuẩn máy móc của các nước này còn kém xa
so với tiêu chuẩn Châu Âu, chính vì vậy sản phẩm sản xuất ra có chất lượng khơng cao, máy móc kém chất lượng là cho năng suất lao động thấp,
tăng chi phí cho doanh nghiệp. Qua điều tra các cơ sở KTTN cho thấy trang thiết bị hiện đang được
sử dụng đã lạc hậu so với các nước trong khu vực, ở các nước như Thái Lan, Singapor…những cơng nghệ như vậy hầu như đã khơng còn được sử
89
dụng. Trong các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN đã có 90 số đơn vị có
trang bị máy vi tính phục vụ cho hoạt động của mình. Tuy nhiên hiệu quả thực tế mang lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh chưa nhiều. Hầu hết các
doanh nghiệp có trang bị máy vi tính thì chỉ bộ phận làm cơng tác kế tốn tài chính là sử dụng có hiệu quả còn các bộ phận khác nhiều khi máy tính mới
phát huy tác dụng như một máy chữ dùng để soạn thảo văn bản thông thường hoặc dùng để giải trí, chơi điện tử…Tỷ lệ số máy tính được nối mạng cũng rất
thấp, dưới 15. Số lượng các doanh nghiệp có trang Web riêng, ứng dụng cơng nghệ
thơng tin vào điều hành sản xuất, quảng bá thương hiệu chưa nhiều. Mới chỉ có 368 doanh nghiệp, bằng 4,4 có trang Web riêng.
Lao động bình quân 1 đơn vị sản xuất kinh doanh:
Bảng 4.19 Số lượng lao động trong các cơ sở kinh tế tư nhân
Loại hình Đơn vị tính
Số lượng
Số lượng lao động
người Bình quân
LĐ1 đơn vị người
1. Hộ cá thể Hộ
120 479
3,99 - so với tổng số
- 25,82
- 2. DNTN
DN 35
314 8,97
- so với tổng số -
16,93 -
3. C.ty TNHH C. ty
28 627
22,39 - so với tổng số
- 33,80
- 4. C.ty CP
C. ty 5
435 87,00
- so với tổng số -
23,45 -
Tổng số 188
1855 9,87
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra Hộ cá thể: Theo điều tra 120 hộ cá thể có 479 lao động, chiếm 25,82
so với tổng số lao động trong nhóm điều tra, bình qn mỗi hộ có 3,99 lao
90
động làm việc; DNTN có 314 lao động làm việc, chiếm 16.93, bình qn mỗi doanh nghiệp có 8,97 lao động; Cơng ty TNHH có 627 lao động làm
việc, bình qn mỗi cơng ty có 22,39 lao động; Cơng ty CP có 435 lao động, chiếm 7,37, bình qn mỗi cơng ty CP có 87 lao động.
Lao động bình qn1 đơn vị của loại hình cơng ty CP gấp 3,88 lần cơng ty TNHH, gấp 9,69 lần DNTN.
Lao động bình quân1 đơn vị của loại hình cơng ty TNHH gấp 2,49 lần DNTN.
Từ số liệu điều tra cho thấy, công ty CP là loại hình có số lao động bình qn cao nhất trong tổng số vì chủ yếu các cơng ty CP ở địa bàn hoạt động
trong lĩnh vực công nghiệp da giầy nên thu hút nhiều lao động, trong khi đó hộ cá thể là loại hình có số lao động bình quân thấp nhất, tuy nhiên do số
lượng nhiều nên mặc dù bình quân lao động trên hộ thấp nhất so với các loại hình khác nhưng hộ cá thể vẫn thu hút số đông lao động làm việc.
Với sự phát triển của các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện hằng năm giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lao động là con em địa phương vào
làm việc, góp phần tích cực vào q trình thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc
đẩy kinh tế của địa phương phát triển đi lên. b Vấn đề vốn sản xuất kinh doanh
Tổng nguồn vốn Bên cạnh chỉ tiêu vốn đăng ký, tổng nguồn vốn cũng phản ánh quy mơ
và năng lực tài chính của doanh nghiệp tại mỗi giai đoạn phát triển. Theo số liệu điều tra, tổng nguồn vốn của các cơ sở KTTN tính đến
31122007 là 111937 triệu đồng, Trong đó: Hộ cá thể có tổng nguồn vốn 6810 triệu đồng, chiếm 4.0; DNTN có tổng nguồn vốn 16446 triệu đồng,
91
chiếm 9,7; Cơng ty TNHH có tổng nguồn vốn 64352 triệu đồng chiếm 38; Cơng ty CP có tổng nguồn vốn là 24329 triệu đồng, chiếm 48.3.
Bảng 4.20 Vốn sản xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế tư nhân
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu ĐVT
Hộ cá thể hộ
DNTN DN
Công ty TNHH
C.ty Công ty
CP C.ty 1. Số lượng đơn vị
120 35
28 5
2. Tổng nguồn vốn Tr.đ
6810 16446
64352 24329
- BQ 1 đơn vị Tr.đ
56,75 469,89
2298,29 4865,8
3. Vốn chủ sở hữu Tr.đ
5572 12595
35585 10055
4. Tỷ lệ vốn CSHTổng vốn Tr.đ
81,82 76,58
55,3 41,33
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra Xét về chỉ tiêu vốn bình qn: Hộ cá thể có tổng nguồn vốn bình quân
xấp xỉ 56 triệu đồnghộ; DNTN có tổng nguồn vốn bình qn xấp xỉ 470 triệu đồngDN; Cơng ty TNHH có tổng nguồn vốn bình qn 2298 triệu đồng;
cơng ty CP có tổng nguồn vốn bình qn 4865 triệu đồng. Tổng nguồn vốn bình qn của cơng ty CP cao gấp hơn 2 lần so với
công ty TNHH, và gấp 10 lần so với DNTN. Tổng nguồn vốn bình quân của công ty TNHH cao gấp 4,8 lần so với
DNTN. Trong số các cơ sở KTTN thì loại hình cơng ty CP có tổng nguồn vốn
bình qncơng ty là lớn nhất, tuy nhiên số lượng công ty CP không nhiều, thực tế hoạt động hiện nay chỉ có 5 cơng ty cho nên xét về chỉ tiêu tổng nguồn
vốn thì loại hình cơng ty TNHH có tổng nguồn vốn lớn nhất. Loại hình hộ cá thể tuy có tổng vốn bình quânhộ thấp nhưng do số lượng nhiều nên tổng
nguồn vốn đầu tư lớn ngang bằng với loại hình cơng ty TNHH. Vốn chủ sở hữu
92
Theo số liệu điều tra tổng số vốn chủ sở hữu của các cơ sở KTTN đạt 63807 triệu đồng, bằng 57 so với tổng nguồn vốn hoạt động tính đến thời
điểm này. Vốn chủ sở hữu của hộ cá thể là 5572 triệu đồng, bằng 81,82 so với
tổng nguồn vồn hoạt động; DNTN là 12595 triệu đồng, bằng 76,58 so với tổng nguồn vốn hoạt động; Công ty TNHH là 35585 triệu đồng, bằng 55,3
so với tổng nguồn vốn hoạt động; Công ty CP là 10055 triệu đồng, bằng 41,33 so với tổng nguồn vốn hoạt động.
Kết quả cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng vốn ở loại hình hộ cá thể, DNTN là rất cao, đều trên 75; ở loại hình cơng ty TNHH khá cao trên
50: Điều này cho thấy rằng các cơ sở KTTN thuộc các loại hình này rất hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài. Hiệu suất thu hồi vốn của
các loại hình này còn thấp, tài sản có giá trị thế chấp khơng lớn, do đó việc vay vốn tín dụng dài hạn từ ngân hàng gặp khó khăn, chính vì vậy khiến cho
các cơ sở KTTN ở loại hình hộ cá thể và DNTN thiếu khả năng đầu tư nhiều vào thiết bị, máy móc kỹ thuật và hiện đại nhà xưởng.
Đối với DNTN rất thiếu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, khiến cho một bộ phận doanh nghiệp này sản xuất cầm chừng, chủ yếu
theo đơn hàng, bị khống chế từ khách hàng cung cấp đầu vào cho mình. Nguyên nhân của vấn đề trên ngồi lý do chủ quan từ phía doanh
nghiệp, có lý do từ phía các Ngân hàng. Khả năng tiếp cận vốn đầu tư hạn chế một phần do những vướng mắc về chính sách, những yêu cầu về tài sản thế
chấp là lớn nhất khi tiếp cận các khoản vay lớn, dài hạn, những hạn chế về thế chấp và quy định về sử dụng đất còn làm tăng chi phí Ngân hàng khi cấp tín
dụng cho các cơ sở kinh tế tư nhân; giá trị khoản vay thấp trong khi danh mục tài sản thế chấp bị hạn chế. Khả năng huy động, tiếp cận vốn kém làm cho
các cơ sở KTTN khơng mua sắm được máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ
93
sản xuất, thiết bị lạc hậu. Các thủ tục vay Ngân hàng còn phức tạp, quy trình cho vay còn chậm,
nhiêu khê, vẫn còn một số khâu, bộ phận ở một số Ngân hàng có hiện tượng gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tiếp cận vốn vay, điều này nảy sinh tiêu
cực, khi doanh nghiệp muốn vay được vốn phải mất một khoản chi phí nhất định cho các cán bộ làm thủ tục thẩm định dự án vay vốn. Chính điều này làm
cho mối quan hệ giữa Ngân hàng và các doanh nghiệp có khoảng cách nhất định và ngày càng xa nhau.
c Doanh thu, lợi nhuận bình quân của các cơ sở KTTN Doanh thu bình quân:
Theo số liệu điều tra, doanh thu bình quân của các cơ sở KTTN năm sau đều cao hơn năm trước. Công ty TNHH và công ty CP là hai loại hình có
doanh thu bình qncơng ty cao hơn rất nhiều so với DNTN và Hộ cá thể. Năm 2007, Doanh thu bình qn của cơng ty CP cao gấp 8,6 lần so với
DNTN và gấp 41 lần so với hộ cá thể; Doanh thu bình quân của công ty TNHH cao gấp 7,3 lần so với DNTN và gấp 35 lần so với hộ cá thể.
Bảng 4.21 Doanh thu, lợi nhuận của các cơ sở kinh tế tư nhân
Chỉ tiêu ĐVT
Hộ cá thể hộ
DNTN DN
Công ty TNHH
C.ty Công ty
CP C.ty
1. Số lượng đơn vị 120
35 28
5 2. Tổng Doanh thu
Tr.đ 39024
54075 319144
67125 - bình quân 1 đơn vị
Tr.đ 325,2
1545 11389
13425 3. Tổng Lợi nhuận
Tr.đ 3596,4
3962 5275,2
1061,5 - bình quân 1 đơn vị
Tr.đ 29,97
113,2 188,4
212,3 Nguồn số liệu: Số liệu điều tra
Năm 2007 doanh thu bình quân của hộ cá thể đạt 325, 2 triệu đồng, gấp 1,1 lần so với năm 2006 đạt 295,2 triệuhộ.
94
DNTN: Năm 2007 doanh thu bình quân đạt 1545 triệu đồng, gấp 1,17 lần so với năm 2006 đạt 1323 triệuDN.
Công ty TNHH: Năm 2007 doanh thu bình quân đạt 11389 triệu đồng, gấp 1,05 lần so với năm 2006 đạt 10829 triệuCơng ty.
Cơng ty CP: Năm 2007 doanh thu bình quân đạt 13425 triệu đồng, gấp 1,17 lần so với năm 2006 đạt 11476 triệucông ty.
Qua số liệu phản ánh cho thấy các cơ sở KTTN trong những năm qua không những tăng lên về số lượng hộ, doanh nghiệp, có doanh thu tăng lên
theo từng năm mà doanh thu bình quândoanh nghiệp, hộ cá thể cũng tăng lên chứng tỏ ngồi việc phát triển theo quy mơ, các cơ sở KTTN còn có sự phát
triển về chất lượng ngay trong nội tại từng doanh nghiệp, từng hộ kinh doanh. Lợi nhuận bình qn:
Do có quy mơ đầu tư vốn cũng như quy mô sản xuất kinh doanh lớn hơn, nên cơng ty CP và cơng ty TNHH có doanh thu lớn hơn, do đó lợi nhuận
bình qncơng ty cũng cao hơn rất nhiều so với lợi nhuận bình quân của DNTN và Hộ cá thể.
Theo số liệu điều tra, năm 2007 lợi nhuận bình qn của cơng ty CP cao gấp 1,9 lần so với DNTN và gấp 7 lần so với Hộ cá thể; lợi nhuận bình
quân của công ty TNHH cao gấp 1,66 lần so với DNTN và gấp 6,3 lần so với hộ cá thể.
Năm 2007 lợi nhuận bình quân của hộ cá thể đạt
29,97
triệu đồng, gấp 1,12 lần so với năm 2006 đạt 26,7 triệuhộ.
DNTN: Năm 2007 lợi nhuận bình quân đạt
113,2
triệu đồng, bằng 0,72 lần so với năm 2006 đạt
156,7
triệuDN. Công ty TNHH: Năm 2007 lợi nhuận bình quân đạt
188,4
triệu đồng, bằng 0,51 lần so với năm 2006 đạt
365,7
triệuCông ty, bằng 0,59 lần so với
95
năm 2005 đạt
314,4
triệuCông ty. Công ty CP: Năm 2007 lợi nhuận bình quân đạt
212,3
triệu đồng, bằng 0,43 lần so với năm 2006 đạt
498,8
triệuCơng ty. Xét riêng từng loại hình thì hộ cá thể có lợi nhuận bình qn tăng lên,
còn các loại hình doanh nghiệp: DNTN, cơng ty TNHH, cơng ty CP có lợi nhuận bình qn có xu hướng giảm xuống.
Điều này cũng là phù hợp với tình hình phát triển hiện tại vì trong giai đoạn 2005-2007 trong xu thế cơng nghiệp hóa trên địa bàn huyện diễn ra
mạnh mẽ, nhiều loại hình DNTN, cơng ty TNHH, cơng ty CP mới đăng ký thành lập và một bộ phận mới đi vào sản xuất kinh doanh, một bộ phận khác
vừa xây dựng vừa sản xuất nên phần lợi nhuận đạt được bình quân của các doanh nghiệp này có xu hướng giảm xuống chút ít.
d. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chính của hộ, doanh nghiệp. Theo số liệu điều tra, thị trường tiêu thụ sản phẩm chính của các cơ sở
KTTN vẫn là thị trường nội địa chiếm tới 81. Thị trường nước ngoài chỉ chiếm trên 10 và chủ yếu tập trung ở các thị trường khá dễ tính như Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác, rất ít các cơ sở KTTN thâm nhập được vào thị trường EU và Mỹ xây dựng cho mình
thị trường tiêu thụ sản phẩm chính của doanh nghiệp tại đây. Trong số các cơ sở kinh tế tư nhân, Hộ cá thể và DNTN chủ yếu hoạt
động tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa, chiếm tới 90 số cơ sở. Nguyên nhân do hộ cá thể và DNTN chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực thương mại,
dịch vụ, tham gia nhiều vào lĩnh vực bán lẻ hàng hóa nên các cơ sở này tập trung chủ yếu vào trị trường nội địa. Một số hộ sản xuất hàng tiểu thủ công
nghiệp và thủ công mỹ nghệ đã xây dựng cho mình thị trường tiêu thụ sản phẩm chính tại Trung Quốc, Hàn Quốc…Đây cũng là một hướng xuất khẩu
96
quan trọng đối với các mặt hàng chế biến nơng sản trong thời gian tới. Có 30 số cơng ty TNHH và công ty CP hoạt động trong lĩnh vực
công nghiệp nhẹ, da giầy, may mặc xuất khẩu và đóng tàu đã xây dựng được cho mình thị trường tiêu thụ sản phẩm chính tại nước ngồi và cũng tập trung
chủ yếu ở thị trường Trung Quốc, Đài Loan chiếm tới trên 80.
Bảng 4.22 Thị trường tiêu thụ sản phẩm chính của các cơ sở kinh tế tư nhân
Diễn giải Loại hình
Tổng cộng
Hộ cá thể DNTN
Cơng ty TNHH
Cơng ty CP Số
lượng người
Tỷ lệ Số
lượng người
Tỷ lệ Số
lượng người
Tỷ lệ Số
lượng người
Tỷ lệ
1 Số được hỏi 120
35 28
5 188
2 Số trả lời 120
35 28
5 188
- Thị trường nội địa
107 89,17 26
74,29 18
64,29 2
40,00 153 -
Thị trường nước ngoài
13 10,83
9 25,71
10 35,71
3 60,00 35
+ Châu Âu 2
20 2
+ Hoa Kỳ 1
10 1
+ Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc
13 100
5 55,56
6 60,00
3 100,00
27 + Đông Nam Á
4 44,44
1 10,00
0,00 5
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra Trong thời gian tới, thị trường trong nước vẫn là thị trường chính trong
việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành. Việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu ra nước ngoài đối với
các doanh nghiệp cũng hết sức quan trọng, và hướng đi đúng đắn là các doanh nghiệp nên tập trung hướng vào thị trường Trung Quốc, Đài Loan, vì hai thị
trường này có tập quán sinh hoạt của người dân khá tương đồng với điều kiện
97
của Việt Nam, mức độ yêu cầu về chất lượng và sự đa dạng chủng loại hàng hóa của hai thị trường này cũng ở mức độ mà các cơ sở KTTN trên địa bàn
huyện Kim Thành có thể đáp ứng được. Việc tìm kiếm và xâm nhập thị trường EU và Mỹ cũng là hướng đi mới
cho các cơ sở KTTN tuy nhiên hai thị trường này rất “khó tính” và u cầu nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, nên việc xây dựng thị trường chính của
doanh nghiệp tại đây là rất khó khăn. e Những chính sách ưu đói mà cỏc cơ sở KTTN trên địa bàn đó được hưởng.
- Theo số liệu điều tra, có 28 số hộ cá thể; 8,5 số DNTN; 7,1 số công ty TNHH được hỏi trả lời chưa biết một chủ trương, chính sách ưu đãi
nào của Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân. Những ưu đãi của Nhà nước đối với khu vực KTTN hiện nay được áp
dụng trên địa bàn không tách rời những chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nói chung đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh.
Có trên 40 số DNTN, trên 80 số cơng ty TNHH và công ty CP được hỏi đã trả lời được hưởng ưu đãi trong giải phóng mặt bằng. Đây là con
số khá cao, vì chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện tối đa trong giải phóng mặt bằng và lập phương án đề bù khi doanh nghiệp triển khai lập dự án
xin thuê đất tại địa bàn được tỉnh và huyện thực hiện từ nhiều năm nay. Có trên 90 số cơ sở KTTN được hỏi cho rằng thủ tục đăng ký kinh
doanh là thuận lợi và nhanh gọn. Hiện nay, để góp phần tích cực trong việc phát huy tối đa nguồn lực của tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội đóng
góp vào sự phát triển kinh tế của huyện nhà, nhiều năm nay tỉnh Hải Dương, huyện Kim Thành đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt
nhất với thời gian nhanh nhất trong việc cấp đăng ký kinh doanh cho các cơ sở đến đăng ký làm thủ tục thành lập doanh nghiệp.
98
Trong số các cơ sở KTTN trả lời đã được hưởng ưu đãi về thủ tục vay vốn thuận lợi: chỉ có 15 Hộ cá thể, 25 DNTN, 42 công ty TNHH, 20
công ty CP trả lời đã được hưởng ưu đãi này. Đây là con số khá thấp, cho thấy việc vay vốn Ngân hàng đối với các cơ sở KTTN vẫn còn khó khăn và nhiều
thủ tục phức tạp. Có nhiều cơ sở KTTN sau khi chờ đợi thủ tục thẩm định của cán bộ tín dụng Ngân hàng đã để mất cơ hội và thời cơ kinh doanh do khơng
có vốn, một số cơ sở khác đã chủ động tìm kiếm nguồn vốn cho mình bằng việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng phi chính thống bên ngồi thị
trường.
99
Bảng 4.23 Những chính sách ưu đãi áp dụng cho kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện
Diễn giải Loại hình
Hộ cá thể DNTN
Cơng ty TNHH Cơng ty CP
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
1 Số được hỏi 120
35 28
5 2 Số trả lời
120 35
28 5
- Chưa biết một chính sách ưu đãi nào đối với
khu vực KTTN 34
28,33 3
8,57 2
7,14 0,00
- Đã được hưởng các ưu đãi về. 86
32 26
5 + Ưu đãi về thuế
3 9,38
2 7,69
1 20,00
+ Hỗ trợ về thông tin 3
9,38 5
19,23 2
40,00 + Ưu đãi về giải phóng mặt bằng
15 46,88
21 80,77
4 80,00
+ Thủ tục vay vốn thuận lợi, nhanh gọn 13
15,12 8
25,00 11
42,31 1
20,00 + Thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản,
thuận lợi 86
100,00 29
90,63 26
100,00 5
100,00 - Cho rằng ưu đãi quan trọng nhất là
120 32
28 5
+ Ưu đãi về thuế 21
17,50 8
25,00 3
10,71 0,00
+ Hỗ trợ về thông tin 12
10,00 2
6,25 3
10,71 0,00
+ Ưu đãi về giải phóng mặt bằng 8
6,67 3
9,38 7
25,00 1
20,00 + Thủ tục vay vốn thuận lợi, nhanh gọn
67 55,83
16 50,00
11 39,29
4 80,00
+ Thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản 12
10,00 3
9,38 4
14,29 0,00
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra
100
- Khi được hỏi về đánh giá của các cơ sở KTTN về mức độ quan trọng của các ưu đãi, có trên 50 số cơ sở KTTN trả lời ưu đãi quan trọng nhất là
Thủ tục vay vốn nhanh gọn, thuận lợi. Điều này cho thấy nhu cầu vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các cơ sở KTTN hiện nay là hết sức cấp thiết.
Doanh nghiệp đang thực sự cần vốn nhưng vẫn không tiếp cận được với Ngân hàng và các tổ chức tín dụng chính thống của Chính phủ. Đây cũng
là vấn đề đặt ra cho các cấp lãnh đạo khi nghiên cứu về chính sách phát triển đối với KTTN cần hết sức lưu ý tới khía cạnh này.
è Đánh giá của các cơ sở KTTN về những khó khăn chính mà họ gặp phải trong quá trỡnh hoạt động.
Theo kết quả điều tra, khi được hỏi về khó khăn mà cơ sở KTTN gặp phải: hầu hết các cơ sở KTTN đều cho rằng khó khăn chính là vấn đề vốn sản
xuất kinh doanh, mặt bằng sản xuất kinh doanh và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, lao động trong đơn vị.
Về vốn sản xuất kinh doanh: có 38 hộ cá thể; 22,8 DNTN; 28,6 cơng ty TNHH; 40 cơng ty CP trả lời khó khăn chính mà đơn vị mình gặp
phải trong sản xuất kinh doanh đó là vấn đề huy động vốn cho sản xuất. Bên cạnh yếu tố vốn kinh doanh, hộ cá thể là loại hình gặp khó khăn
nhất về mặt bằng sản xuất kinh doanh, có tới 42 số hộ được hỏi trả lời hộ gặp khó khăn nhất chính là về mặt bằng sản xuất kinh doanh. Do diện tích đất
và nhà xưởng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của hộ cá thể ở mức khá thấp và được bố trí xen kẽ trong các khu dân cư nên khả năng mở rộng nhà xưởng
là rất hạn chế và hầu như khơng thể thực hiện được, chính vì vậy khi muốn mở rộng quy mơ sản xuất kinh doanh của mình thì vấn đề mặt bằng sản xuất
kinh doanh là điều là chủ hộ phải băn khoăn nhất.
101
102
Bảng 4.24 Những khó khăn chính của kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Thành
Diễn giải Loại hình
Hộ cá thể DNTN
Cơng ty TNHH Cơng ty CP
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
1 Số được hỏi
120 35
28 5
2 Số trả lời
120 35
28 5
- Vốn sản xuất kinh doanh
46 38,33
8 22,86
8 28,57
2 40,00
- Mặt bằng sản xuất kinh doanh
51 42,50
5 14,29
4 14,29
0,00 -
Máy móc thiết bị lạc hậu 6
5,00 4
11,43 4
14,29 1
20,00 -
Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phấm 2
1,67 5
14,29 6
21,43 1
20,00 -
Quan hệ với các cơ quan quản lý địa phương 4
3,33 2
5,71 2
7,14 0,00
- KTTN chưa được đối xử bình đẳng
3 2,50
2 5,71
2 7,14
0,00
- Đội ngũ cán bộ quản lý, lao động chưa đáp
ứng được trình độ 8
6,67 9
25,71 2
7,14 1
20,00
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra
103
Khó khăn chính được các hộ đánh giá nhiều thứ ba đó là khó khăn về trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và người lao động còn thấp.
Trong các cơ sở KTTN hiện nay lao động có trình độ từ trung cấp trở lên, được đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu vẫn là lao động phổ thơng, được
truyền nghề ngắn hạn nên trình độ tay nghề không cao, dẫn tới năng suất lao động và chất lượng sản phẩm làm ra thấp.
+ Về yếu tố tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm: có 14 DNTN, 21 cơng ty TNHH, 20 cơng ty CP đánh giá là khó khăn chính mà doanh
nghiệp mình đang gặp phải. Đây là yếu tố đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ, vì song song với việc duy trì thị trường hiện có việc tìm kiếm
được thị trường tiêu thụ sản phẩm mới, mởi rộng thị phần của doanh nghiệp cũng là điều hết sức quan trọng. Nếu khơng có thị trường tiêu thụ sản phẩm
ổn định đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có nguy cơ cao bị phá sản. g. Một số giải pháp được các cơ sở KTTN đề xuất
Theo kết quả điều tra, những giải pháp mà các cơ sở KTTN khi được hỏi đề xuất như sau:
Về lựa chọn sản phẩm kinh doanh phù hợp, xác định đúng thị trường mục tiêu: có 74 hộ cá thể, 65 DNTN, 85 công ty TNHH, 80 công ty
CP đề xuất giải pháp. Về tăng cường vốn sản xuất kinh doanh: có 76 hộ cá thể, 87
DNTN, 89 công ty TNHH, 100 công ty CP đề xuất giải pháp. Về hỗ trợ về mặt bằng sản xuất kinh doanh: có 63 hộ cá thể, 68
DNTN, 76 công ty TNHH, 60 công ty CP đề xuất giải pháp. Về đổi mới máy móc thiết bị: có 55 hộ cá thể, 75 DNTN, 64
công ty TNHH, 60 công ty CP đề xuất giải pháp. Về tăng cường quản bá thương hiệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản
phấm: có 46 hộ cá thể, 81 DNTN, 80 cơng ty TNHH, 80 công ty CP
104
đề xuất giải pháp.
105
Bảng 4.25 Đề xuất những giải pháp của kinh tế tư nhân huyện Kim Thành
Diễn giải Loại hình
Hộ cá thể DNTN
Cơng ty TNHH Công ty CP
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
Số lượng người
Tỷ lệ Số lượng
người Tỷ lệ
1 Số được hỏi
120 35
28 5
2 Số trả lời
120 35
28 5
-
Lựa chọn sản phẩm kinh doanh phù hợp, xác định đúng thị trường mục tiêu
89 74,17
21 65,63
24 85,71
4 80,00
- Tăng cường Vốn sản xuất kinh doanh
92 76,67
28 87,50
25 89,29
5 100,00
- Hỗ trợ về Mặt bằng sản xuất kinh doanh
76 63,33
22 68,75
21 75,00
3 60,00
- Đổi mới máy móc thiết bị
67 55,83
24 75,00
18 64,29
3 60,00
- Tăng cường quản bá thương hiệu, tìm kiếm
thị trường tiêu thụ sản phấm
56 46,67
26 81,25
17 60,71
3 60,00
- Hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền
45 37,50
19 59,38
16 57,14
2 40,00
- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý,
lao động trong doanh nghiệp
38 31,67
20 62,50
17 60,71
4 80,00
Nguồn số liệu: Số liệu điều tra
106
Về Hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền: có 37 hộ cá thể, 59 DNTN, 57 cơng ty TNHH, 40 công ty CP đề xuất giải pháp.
Về Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, lao động trong doanh nghiệp: có 31 hộ cá thể, 62 DNTN, 60 công ty TNHH, 80 công ty CP
đề xuất giải pháp. Đó là một số giải pháp chính có số lượng các cơ sở đề xuất chiếm tỷ lệ
cao. Trong số các giải pháp được đề xuất ở trên có giải pháp xuất phát từ phía các cơ sở kinh tế tư nhân, có giải pháp cần có sự hỗ trợ của nhà nước và các
tổ chức tín dụng: Tập trung vào các giải pháp về lựa chọn sản phẩm, tìm kiếm thị trường, giải pháp về vốn, mặt bằng sản xuất kinh doanh.

4.1.3 Đánh giá chung và nguyên nhân ảnh hưởng


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×