1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Đánh giá chung và nguyên nhân ảnh hưởng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


Về Hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền: có 37 hộ cá thể, 59 DNTN, 57 công ty TNHH, 40 công ty CP đề xuất giải pháp.
Về Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, lao động trong doanh nghiệp: có 31 hộ cá thể, 62 DNTN, 60 công ty TNHH, 80 công ty CP
đề xuất giải pháp. Đó là một số giải pháp chính có số lượng các cơ sở đề xuất chiếm tỷ lệ
cao. Trong số các giải pháp được đề xuất ở trên có giải pháp xuất phát từ phía các cơ sở kinh tế tư nhân, có giải pháp cần có sự hỗ trợ của nhà nước và các
tổ chức tín dụng: Tập trung vào các giải pháp về lựa chọn sản phẩm, tìm kiếm thị trường, giải pháp về vốn, mặt bằng sản xuất kinh doanh.

4.1.3 Đánh giá chung và nguyên nhân ảnh hưởng


Khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành trong những năm qua đã có những bước phát triển khá vững chắc, đạt được những kết quả khả
quan. Điều này được thể hiện thông qua sự tăng trưởng không ngừng về quy mô, vốn, lao động, doanh thu và đóng góp vào ngân sách Nhà nước trên địa
bàn huyện. Ngồi ra khu vực KTTN còn góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lao động tại địa phương, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ
trong độ tuổi làm việc, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên ngoài những ưu điểm, khu vực KTTN vẫn còn bộc lộ một số những mặt hạn chế yếu kém nhất định, cần phải khắc phục, chính điều này
làm cản trở sự phát triển cũng như chưa phát huy tối đa tiềm năng của khu vực KTTN trong những năm qua.
Việc đánh giá, tổng kết tìm ra nguyên nhân từ đó có những giải pháp tích cực để phát huy những mặt mạnh, kịp thời phát hiện hạn chế yếu kém để
khắc phục là việc hết sức quan trọng.
Qua kết quả nghiên cứu ở trên có thể rút ra một số nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của khu vực KTTN tại huyện Kim Thành
107
như sau: a Thị trường, liên kết doanh nghiệp, vốn kinh doanh
- Vấn đề tìm kiếm thị trường, mở rộng thị trường và khả năng chiếm lĩnh thị trường của KTTN hiện nay còn yếu. Nguyên nhân là do một số hạn
chế về vốn, trình độ cơng nghệ còn thấp, chi phí đầu vào cao, năng suất lao động thấp dẫn tới giá thành sản phẩm sản xuất ra ở mức cao, khó có thể cạnh
tranh với sản phẩm cùng loại của các nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan…
Theo kết quả khảo sát, thăm dò ý kiến về phía chủ các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện có trên 90 số đơn vị cho rằng việc tìm kiếm thị trường tiêu
thụ của doanh nghiệp hiện tại đang gặp khó khăn, và điều này có ảnh hưởng khơng nhỏ của việc tăng chi phí sản xuất do giá các yếu tố đầu vào của sản
xuất không ngừng biến động trong thời gian vừa qua. Đối với hộ cá thể chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ hàng hóa nên
thị trường tiêu thụ sản phẩm chính là thị trường nội tại trên địa bàn huyện. Đối với các loại hộ này khả năng mở rộng thêm thị trường là rất hạn chế, do
thị trường tiêu thụ là cố định và phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và thu nhập của dân cư nơi đó.
Một số hộ cá thể hoạt động trong lĩnh vực chế biến hàng nông sản, tiểu thủ công nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơng nghiệp
nhẹ có xu hướng tìm kiếm thị trường xuất khẩu ra nước ngồi, tuy nhiên hầu hết các cơ sở này chủ yếu ký hợp đồng gia cơng sản phẩm cho đối tác nước
ngồi là chính, còn việc tìm kiếm thị trường trực tiếp, xuất khẩu hàng hóa trực tiếp ra nước ngồi gặp nhiều khó khăn. Qua khảo sát cho thấy, chưa một cơ
sở nào thuộc khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành có văn phòng đại diện hay cửa hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm ở thị trường nước ngoài.
Điều này cho thấy khâu xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, tự tìm
108
kiếm thị trường của các DNTN còn rất yếu. Các sản phẩm của các cơ sở KTTN ở huyện Kim Thành có khả năng
cạnh tranh kém trên thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong các thị trường mới, chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa. Các cơ sở hoạt động trong lĩnh
vực thương mại, dịch vụ tuy thời gian vừa qua có những bước phát triển mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực Nhà hàng, khách sạn…tuy nhiên quy mơ còn ở
mức khiêm tốn, chất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ chưa cao. Khả năng cập nhật thông tin về thị trường còn nhiều hạn chế nhất là
thơng tin về thị trường quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ để mở rộng thì trường, đáp ứng yêu cầu
cạnh tranh, điều cần thiết là thông tin và hiểu biết về dịch vụ thị trường, trang thiết bị kỹ thuật, phương thức tổ chức quản lý, chính sách xuất nhập khẩu của
Nhà nước, chất lượng sản phẩm, thương hiệu và điều quan tâm hơn cả là quy cách chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay nhiều doanh
nghiệp trong khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành tỏ ra lúng túng về tiêu chuẩn chất lượng, rào cản kỹ thuật và thông tin thị trường xuất khẩu.
- Vấn đề liên kết doanh nghiệp: Vấn đề hợp tác, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế
nói chung và trong nội bộ khu vực KTTN nói riêng ngày càng đa dạng và hiệu quả hơn. Trên địa bàn huyện Kim Thành sự hợp tác liên kết giữa các
doanh nghiệp, hộ cá thể đã xuất hiện dưới dạng các hợp đồng gia công từng khâu của quá trình sản xuất sản phẩm đến hình thức liên kết dưới dạng đại lý,
chi nhánh giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ và với hộ cá thể, nhóm kinh doanh, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ dệt
may, da giày và chế biến hàng nông sản. Các kênh hợp tác, liên kết doanh nghiệp ngày càng mở rộng và mang
tính trực tiếp hơn. Các doanh nghiệp đã bước đầu chủ động tự tìm kiếm và tổ
109
chức hợp tác. Các kênh hợp tác có tổ chức ngày càng được kiện tồn, bước đầu đã thể hiện được vai trò nhất định.
Tuy nhiên nhìn nhận vấn đề một cách khách quan có thể chỉ ra một số tồn tại cần khắc phục trong vấn đề hợp tác liên kết giữa các cơ sở sản xuất
kinh doanh trên địa bàn huyện Kim Thành như sau: Các quan hệ hợp tác, liên kết, hỗ trợ nhau mới chỉ “khép kín” trong nội
bộ từng thành phần kinh tế, đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân, có sự xuất hiện hiện tượng hợp tác thiếu tổ chức, co cụm giữa một số nhóm các doanh
nghiệp dẫn tới sự cạnh tranh thiếu lành mạnh. Hình thức hợp tác còn chưa phong phú, chưa xuất hiện các hình thức
hợp tác, liên kết hiện đại dưới dạng cơng ty mẹ, cơng ty con, hay tập đồn kinh tế…
Nội dung hợp tác, liên kết chưa sâu, chưa gắn kết chặt chẽ trong các công đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu, chưa có sự phân cơng một cách
chun nghiệp giữa các khâu đối với từng đơn vị trong chuỗi hợp tác, liên kết. Mà sự liên kết ở đây còn rời rạc, cắt đứt từng cơng đoạn, khơng tạo thành một
tổng thể thống nhất trong liên kết, hợp tác. Sự liên kết hợp tác trong khu vực KTTN còn nhỏ hẹp, chưa thực sự
phát triển rộng rãi, chưa tạo ra một xu thế nhất định nào. Chưa có sự định hướng của một tổ chức nào cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa thực
sự chủ động trong quá trình tìm kiếm sự liên kết hợp tác trong sản xuất kinh doanh, chủ yếu là do các cơ sở sản xuất kinh doanh khi thấy nhu cầu thực sự
cần thiết thì mới tìm kiếm sự hợp tác với các đơn vị khác. Nguyên nhân của vấn đề trên do những bất cập từ nhiều khía cạnh, thứ
nhất do sự thiếu chủ động từ phía các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc tìm kiếm sự liên kết hợp tác lẫn nhau. Mặt khác do mối quan hệ giữa cơ quan
quản lý Nhà nước ở địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp với bản thân các doanh nghiệp chưa thực sự gần gũi. Giữa
110
họ vẫn còn một khoảng cách nhất định. Vai trò trong hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp chưa thực sự nổi bật, chưa thể hiện được là chỗ dựa cho
doanh nghiệp khi gặp khó khăn. - Vấn đề vốn kinh doanh:
Theo số liệu thực trạng đã phân tích ở trên tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn của hộ cá thể là 81,8; của DNTN là 76,58; Công ty
TNHH là 55,3; Cơng ty CP là 41,33. Có thể thấy rằng loại hình hộ cá thể và DNTN là hai loại hình phổ biến và chiếm số lượng nhiều nhất trong khu
vực KTTN nhưng xét về chỉ tiêu vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn ở mức rất cao, chứng tỏ nguồn vốn vay của hai loại hình này rất thấp, có nghĩa
là khu vực KTTN hiện nay đang gặp vấn đề khó khăn về vốn, đặc biệt trong việc huy động vốn vay từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Nhu cầu vay vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh hiện nay đang là vấn đề rất bức xúc của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay lãi suất Ngân hàng đang
ở mức rất cao do lạm phát tăng. Thủ tục cho vay của các ngân hàng cũng hết sức rắc rối và yêu cầu tài
sản thế chấp mà khu vực KTTN rất khó đáp ứng được yêu cầu trên. Tài sản cố định của khu vực KTTN có giá trị khơng cao, nên nhiều cơ sở mặc dù vay
được vốn Ngân hàng nhưng cũng ở mức rất thấp, không đủ đáp ứng cho nhu cầu về vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Hiện nay, các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn huyện Kim Thành chủ yếu cho các
chương trình xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng. Khu vực KTTN chưa thể tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi.
Nhiều doanh nghiệp, hộ cá thể do khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng chính thống đã tự tìm giải pháp cho mình bằng cách huy động vốn từ các
nguồn phi chính thống như thế chấp, cầm cố tài sản để vay vốn từ tư nhân với
111
lãi suất rất cao. Điều này mặc dù giúp cho tư nhân có thể vay vốn một cách nhanh chóng tuy nhiên tiềm ẩn một nguy cơ rủi ro rất cao, có thể dẫn tới phá
sản, vỡ nợ bất cứ lúc nào nếu tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn.
Từ thực trạng trên có thể thấy rằng hiện nay khu vực KTTN đang rất “đói” vốn, nhu cầu về vốn để phát triển đang ở mức rất cao. Giải pháp cho
vấn đề vốn cần sự nỗ lực khơng chỉ từ phía các doanh nghiệp mà cần có sự hỗ trợ từ phía Ngân hàng, từ phía cơ quan Nhà nước, chính quyền ở địa phương
trong việc hoạch định chính sách, có cơ chế cụ thể để giải quyết vấn đề trên. b Mặt bằng sản xuất kinh doanh
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Hải Dương, trong một số năm qua kinh tế huyện Kim Thành có những bước khởi sắc rõ nét, tốc độ
cơng nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ. Nắm bắt được nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn. Huyện Kim Thành có
quy hoạch định hướng, trình ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt 5 khu, cụm công nghiệp tập trung để lấy mặt bằng thu hút các doanh nghiệp vào địa bàn hoạt
động sản xuất kinh doanh. Các khu, cụm công nghiệp trên đều nằm ở vị trí hết sức thuận lợi về vị
trí địa lý, giao thông. Tuy nhiên, thực tế hiện nay được hưởng những ưu đãi, thuận lợi đó mới
chỉ có một bộ phận các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN có quy mơ sản xuất lớn, tiềm lực vốn đủ mạnh, chủ yếu mặt bằng các khu, cụm công nghiệp
phục vụ cho các cơng ty nước ngồi, hoặc liên doanh vốn với nước ngồi và các doanh nghiệp Nhà nước. Còn lại hầu hết loại hình hộ cá thể, một bộ phận
lớn các DNTN, và công ty TNHH thuộc khu vực KTTN gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất kinh doanh do hiện nay
chi phí xây dựng cơ bản và mức đền bù tiền thuê đất đang ở mức cao, vượt
112
quá khả năng của một bộ phận cơ sở KTTN. c Trình độ quản lý của người đứng đầu cơ sở KTTN
Trong một vài năm qua, các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện có sự tăng lên nhanh chóng về quy mơ và chất lượng. Trong môi trường cạnh tranh gay
gắt như hiện nay trình độ quản lý của người đứng đầu là rất quan trọng. Hiện nay cơ bản người đứng đầu các cơ sở KTTN đã ý thức được việc thường
xuyên cập nhật kiến thức kinh doanh, rút kinh nghiệm từ thực tế. Đối với hộ kinh doanh cá thể: trình độ quản lý của người đứng đầu
xét về bằng cấp chuyên môn đa số mới chỉ dừng ở mức tốt nghiệp Trung học phổ thơng, rất ít chủ hộ cá thể có bằng cấp chun mơn. Chủ yếu do
kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn, mặt khác loại hình kinh doanh của hộ cá thể trên địa bàn huyện Kim Thành chủ yếu tập trung ở lĩnh vực thương
mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp và quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, nên hầu hết chủ hộ cá thể chưa từng tham gia một khóa học bổ sung kiến
thức kinh doanh, ngắn hạn nào. Đây cũng là hạn chế, bất cập nhất định đối với loại hình kinh doanh cá thể.
Đối với loại hình DNTN, cơng ty TNHH, công ty CP: Chủ doanh nghiệp đã tỏ ra khá nhanh nhạy trong việc thích ứng với cơ chế thị trường
hiện tại, có trình độ quản lý ở mức chun nghiệp hơn, bài bản hơn. Dần thể hiện được vai trò của những ơng chủ có bản lĩnh kinh doanh trong thương
trường. Tuy nhiên vẫn còn một số bất cập nhất định cần phải nhìn nhận một cách khách quan và đội ngũ quản lý doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN cần
phải thấy được. Đó là:
Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của chủ các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN hiện nay không đồng đều: Nguyên nhân do cơ chế khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển, trong đó có chính sách khuyến khích
113
KTTN phát triển, nên một số chủ DNTN là công chức về hưu, một bộ phận khác trưởng thành từ thực tế kinh doanh ở hình thức hộ cá thể do làm ăn tốt đã
chuyển đổi nâng cấp thành DNTN hoặc công ty TNHH…, một bộ phận là sinh viên, thanh niên mới ra trường, có vốn, có kiến thức đứng ra thành lập doanh
nghiệp hoạt động. Chính vì vậy kiến thức pháp luật, khả năng điều hành doanh nghiệp giữa các chủ doanh nghiệp là khơng đồng đều và có sự phân cấp rõ
ràng. Một số chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức về chuyên môn, ngành nghề
hoạt động đăng ký kinh doanh của đơn vị mình., một bộ phận khác có trình độ chuyên môn nhưng lại non kém về kiến thức quản lý thực tế. Nguyên
nhân của vấn đề này do hiện nay cơ chế đăng ký kinh doanh ở địa phương còn chưa thực sự chặt chẽ trong việc yêu cầu về bằng cấp chuyên môn đối
với một số ngành. Xuất phát từ năng lực hạn chế trong quản lý điều hành dẫn tới khả năng
nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp không cao, doanh nghiệp thường tỏ ra lúng túng, khó khăn khi đối phó với những thay đổi bất thường từ thị
trường trong nước cũng như thế giới. Các doanh nghiệp còn yếu, hầu như chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh dài hạn, chủ yếu mới quan tâm tới
những vấn đề trong ngắn hạn. Nhiều doanh nghiệp còn chạy theo số lượng, lợi nhuận mà chưa quan tâm tới xây dựng thương hiệu, chất lượng sản phẩm,
duy trì, xây dựng doanh nghiệp lớn mạnh trong tương lai. Khả năng tự đào tạo, thường xuyên cập nhật kiến thức của chủ các cơ
sở KTTN hiện nay chưa nhiều. Và thường là do tự thân từng người, từng doanh nghiệp có nhu cầu thì đào tạo hoặc th chun gia đào tạo riêng. Chưa
có một sự hợp tác nào giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc với cơ quan quản lý Nhà nước, hoặc với các hiệp hội doanh nghiệp trong việc mở các khóa đào
tạo bài bản, định kỳ cho các doanh nghiệp. e Môi trường pháp lý, nhận thức xã hội về KTTN
114
Một số các Văn bản về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển có liên quan đến khu vực KTTN mà tỉnh Hải Dương đã ban hành như:
+ Quyết định số: 374QĐ-UB, ngày 09111987 về việc ban hành quy định tạm thời về tổ chức quản lý và chính sách khuyến khích đối với kinh tế
cá thể và tư nhân trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải và kỹ thuật.
+ Quyết định số 1098QĐ-UBND, ngày 0371997 Về việc ban hành quy định về thủ tục cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty
trên địa bàn tỉnh Hải Dương. + Quyết định số 3056QĐ-UBND, ngày 23111998 Về việc ban hành
quy định về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
+ Quyết định số 1817QĐ-UBND, ngày 2762001 Về việc thành lập ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp tỉnh Hải Dương.
+ Quyết định số 541QĐ-UBND, ngày 1132002 Về việc thành lập ban chỉ đạo “áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo các tiêu chuẩn
quốc tế tại các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2002-2005”.
+ Quyết định số 2764QĐ-UBND, ngày 0772003 về kiểm tra việc quản lý, tổ chức thực hiện các dự án sau khi được cấp giấy phép đầu tư và
việc quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hải
Dương. + Quyết định số 3576QĐ-UBND, ngày 0492003 về việc cho phép
thành lập hội các nhà doanh nghiệp trẻ tỉnh Hải Dương. + Quyết định số 3799QĐ-UBND, ngày 1892003 về việc Phê đuyệt
“Đề án hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp giai đoạn 2004-2006”.
115
+ Quyết định số 4068QĐ-UBND, ngày 09102003 Về việc thành lập Ban chỉ đạo đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp giai đoạn 2004-2006”. + Quyết định số 4855QĐ-UBND, ngày 01122004 về việc kiện toàn
Ban đổi mới và phát triển donah nghiệp tỉnh Hải Dương. + Quyết định số 5015QĐ-UBND, ngày 10122004 về việc thành lập
Ban chỉ đạo kiểm tra, xử lý quản lý sử dụng nhà, đất các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
+ Quyết định số 761QĐ-UBND, ngày 28022006 Về việc giao nhiệm vụ xử lý các vướng mắc, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về thủ
tục hành chính. + Quyết định số 2246QĐ-UBND, ngày 2762006 Về việc công nhận
Điều lệ Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương. + Quyết định số 1406QĐ-UBND, ngày 0942007 về việc tổ chức tiếp
nhận những phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về thủ tục hành chính theo quy định tại quyết định số 761QĐ-UBND ngày
2822006 của Chủ tịch UBND tỉnh trên trang tin điện tử của ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương.
+ Quyết định số 1910QĐ-UBND, ngày 28052007 về việc Ban hành quy định phối hợp quản lý doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Hải Dương. + Quyết định số 3349QĐ-UBND, ngày 2092007 về việc Thành lập
trung tâm Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tư vấn và xúc tiến đầu tư thuộc sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương.
Quan niệm về KTTN nói chung trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức xã hội đã thực sự thay đổi về kinh tế tư nhân.
Đặc biệt là các cấp chính quyền của huyện Kim Thành đã hết sức coi trọng
116
vai trò, giá trị đóng góp của khu vực KTTN trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà. Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện, các phòng, ban
ngành của huyện đã thường xuyên tuyên truyền, quán triệt đường lối chủ trương, chính sách pháp luật về kinh tế tư nhân. Đại bộ phận tầng lớp nhân
dân trong toàn huyện, đã nhận thức được vai trò của kinh tế tư nhân, tỏ ra phấn khởi với chủ trương phát triển KTTN của Đảng, Nhà nước và Chính
phủ, đặc biệt là chủ chương cho đảng viên làm kinh tế tư nhân. Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, ủng hộ, tạo môi trường thuận lợi cho KTTN phát
triển. Vị trí, vai trò của KTTN đã được xã hội khẳng định và tôn vinh. Hằng
năm lãnh đạo huyện đã tổ chức gặp mặt các doanh nghiệp vào dịp cuối năm với mục đích động việc, khích lệ và biểu dương những đóng góp của các
doanh nghiệp với sự phát triển kinh tế của huyện Nhà. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định từ phía cơ quan quản lý
Nhà nước cũng như từ phía nhân dân gây phiền hà, cản trở sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Trong khâu triển khai giải phóng mặt bằng, nhiều nơi các hộ dân đòi mức giá đền bù quá cao làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn, gây mất nhiều
thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Một số nơi còn gây mất ổn định cho doanh nghiệp bằng các hoạt động kiện cáo kéo dài, làm cho doanh nghiệp
không yên tâm sản xuất kinh doanh. Các quy định về mẫu biểu kê khai, các thủ tục quy định về báo cáo tài
chính còn rườm rà, phức tạp và nhiều mục phải kê khai dẫn tới một số doanh nghiệp nộp báo cáo chậm hoặc không nộp báo cáo khi có yêu cầu.
Những việc làm như trên đã làm cản trở phần nào sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, làm ảnh hưởng tới tâm lý đầu tư của các nhà đầu tư vào
địa bàn vì họ có tâm lý e ngại, sợ tình hình, mơi trường kinh doanh không ổn
117
định sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp của mình.

4.2 Giải pháp phát triển KTTN tại huyện Kim Thành trong thời kỳ hội nhập


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×