1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Giải pháp phát triển KTTN tại huyện Kim Thành trong thời kỳ hội nhập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


Dương. Xây dựng và phát triển KTTN song song với các thành phần kinh tế khác phát triển lâu dài, quan hệ bình đẳng.
+ Có biện pháp hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho KTTN đầu tư, kinh doanh trên địa bàn, đồng thời có biện pháp bảo đảm quản lý tốt những
hoạt động đó. Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện, trong đó có quy hoạch và các kế hoạch phát triển KTTN trên địa bàn huyện
theo từng gian đoạn. + ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương, đặc biệt
tư tưởng và đời sống của người dân bị thu hồi đất phục vụ cho phát triển công nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp trong các khâu chuẩn bị lập dự án, xây
dựng phương án đề bù, giải phóng mặt bằng khi doanh nghiệp tiến hành đầu tư vào địa bàn.
+ Phát triển KTTN phải mang lại lợi ích cho kinh tế, xã hội của huyện trong dài hạn, không được làm ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, tác động
xấu tới phát triển kinh tế xã hội của huyện. Phải xuất phát từ thực tiễn tình hình kinh tế , xã hội của huyện.
+ Tăng cường vai trò và sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền địa phương các cấp và các hội, đoàn thể với sự phát triển KTTN nói
chung và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong khu vực KTTN nói riêng.

4.2.2 Giải pháp phát triển KTTN tại huyện Kim Thành trong thời kỳ hội nhập


4.2.2.1- Nhóm giải pháp chung Hồn thiện mơi trường kinh doanh, tạo điều kiện để huy động mọi
nguồn lực của dân cư vào đầu tư phát triển, khuyến khích DNTN mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Tiếp tục hồn thiện mơi trường pháp lý: Việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của KTTN đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện hệ thống
pháp luật đối với kinh tế tư nhân. Tiếp tục hoàn thiện Luật Doanh nghiệp,
121
tạo ra sự bình đẳng thực sự giữa nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp trong khu vực KTTN phải được thể hiện
trong tất cả các quan hệ quản lý từ việc đăng ký kinh doanh, tổ chức điều hành của các hộ tư nhân đến các việc nộp thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, thanh
kiểm tra, kiểm toán… + Xúc tiến việc xây dựng luật cạnh tranh và các luật về kinh doanh cá
thể trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ các loại, luật kinh tế hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
+ Việc xây dựng hành lang pháp lý phải rõ ràng, đầy đủ, quy định rõ những việc mà tư nhân được làm, không được làm, đồng thời quy định rõ
trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành và lãnh thổ đối với việc tôn trọng quyền và trách nhiệm của cơ sở kinh tế tư nhân, trách nhiệm đền bù những
thiệt hại của DNTN do cơ quan quản lý gây ra. + Cần có thể chế để kiểm soát các văn bản dưới luật do các bộ và địa
phương ban hành. Kiên quyết xử lý những hành động làm trái pháp luật, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh của kinh tế tư nhân, cũng như những hành
vi trái pháp luật của chủ doanh nghiệp tư nhân. - Hồn thiện mơi trường kinh tế vĩ mô, bảo đảm cho KTTN phát triển
ổn định và bền vững: - Tiếp tục ổn định môi trường chính trị- xã hội trong nước, tạo mơi
trường quốc tế thuận lợi cho sản xuất kinh doanh Tiếp tục bổ sung, sửa đổi hồn thiện hệ thống chính sách của Nhà
nước, góp phần thúc đẩy KTTN phát triển. - Thừa nhận sự tồn tại lâu dài, bảo hộ sở hữu và lợi ích hợp pháp
của kinh tế tư nhân, thực hiện sự bình đẳng giữa KTTN và các loại hình kinh tế khác.
- Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nhà nước có chính sách giảm hoặc miễn
122
thế thu nhập cho phần lợi nhuận dùng vào tích lũy, cần đẩy mạnh và đổi mới hoạt động của các Ngân hàng thương mại để có thể huy động hết số tư
bản tích lũy mà chưa sử dụng, để phục vụ cho nhu cầu tái đầu tư của các doanh nghiệp khác.
Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với nhau dưới những hình thức thích hợp để tặng quy mơ sản xuất và quy mơ tích lũy.
Tạo cơ chế chính sách để các DNTN có thể tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư một cách thuận lợi, khuyến khích các DNTN liên kiết với các doanh
nghiệp nhà nước dưới hình thức cơng ty mẹ, cơng ty con. Các hộ cá thể làm vệ tinh cho các doanh nghiệp dưới hình thức các đại lý, cửa hàng giới thiệu
sản phẩm hoặc đảm nhận một khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chính sách khuyến khích đổi mới cơng nghệ đối với DNTN trong khu vực kinh tế tư nhân. Cần quy định về thời gian, hiệu lực phải thay đổi cơng
nghệ. Có chính sách miễn thuế cho phần lợi nhuận mà doanh nghiệp dùng để tái đầu tư cho cơng nghệ, máy móc thiết bị, giảm thuế đối với việc nhập khẩu
thiết bị công nghệ mới phục vụ cho nhu cầu đổi mới, cải tiến của các doanh nghiệp. Từng bước xây dựng và hình thành thị trường các doanh nghiệp sản
xuất và kinh doanh thiết bị cơng nghệ, hình thành khu vực thương mại công nghệ tập trung về một số lĩnh vực kinh doanh trọng yếu.
- Chính sách đất đai: + Có chính sách để hình thành quỹ đất để quy hoạch các khu công
nghiệp nhỏ gắn với vùng dân cư để bố trí sản xuất cho các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, xây dựng các làng nghề thích hợp.
+ Bên cạnh các khu cơng nghiệp lớn dành cho các doanh nghiệp có quy mơ về vốn lớn, cần hình thành các vùng sản xuất dành cho tiểu thủ công
nghiệp để dần dần đưa các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp ra khỏi dân cư
123
và tạo điều kiện cho sản xuất cá thể phát triển. + Do giá đất hiện nay đang lên cao, trong lúc vốn của các DNTN vừa
và nhỏ rất hạn chế. Cần có chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng và cho thuê đất thích hợp, miễn giảm tiền đất một số năm khi mới đầu tư, cho trả dần từng
năm theo một lãi suất ưu đãi. - Chính sách tài chính:
+ Đổi mới chính sách tín dụng: Đa dạng hóa thị trường vốn để khu vực KTTN có điều kiện tiếp cận với
nhiều nguồn vốn khác nhau để đầu tư phát triển. Tạo điều kiện thuận lợi để KTTN có thể tiếp cận với các quỹ đầu tư
phát triển, thực hiện sự bình đẳng trong thực tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong việc vay vốn của nhà nước và các tổ
chức tín dụng trong và ngoài nước. Phải trên cơ sở đánh giá đúng đắn hiệu quả các dự án để xác định đối tượng, quy mô cho vay, không nên phân biệt
theo thành phần kinh tế. Xây dựng và mở rộng quy mơ hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân ở
nơng thơn, khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, cư dân đô thị tham gia CP quỹ tín dụng nơng thơn, chuyển dần thành những cơng ty cho
vay CP hoạt động ở nông thôn. Đổi mới cơ chế cho vay, hướng chủ yếu là cho vay trung hạn và dài
hạn để đầu tư phát triển gắn liền với một lãi suất thích hợp cho từng loại đối tượng vay vốn.
Hình thành tổ chức đánh giá tài sản cố định và cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản nhà xưởng, máy móc, phương tiện vận tải… để DNTN có cơ sở
pháp lý về tài sản để được thế chấp vay vốn. Có chính sách bảo hộ cho DNTN vay vốn của các tổ chức tín dụng
nước ngồi theo các dự án về mở rộng sản xuất và đổi mới cơng nghệ.
124
+ Đổi mới chính sách thuế: Lựa chọn các loại thuế, xác định cơ cấu thuế hợp lý, vừa bảo đảm tăng
thu cho ngân sách, vừa đảm bảo tính hiệu quả và cơng bằng, làm cho thuế có tác dụng phát triển nguồn thu để tăng thu.
+ Xem xét để sớm thu hẹp thuế khoán đang áp dụng phổ biến hiện nay, tiến tới thực hiện một phương pháp nộp thuế VAT thống nhất.
+ Đề nghị áp dụng mức thuế suất thống nhất giữa các đối tượng chịu thuế VAT, xóa bỏ việc điều tiết tỷ lệ theo ngành nghề khi hộ cá thể, doanh
nghiệp nộp VAT thấp hơn thuế doanh thu trước đây, mà chủ yếu điều tiết qua thuế thu nhập.
+ Tiếp tục nghiên cứu để xác định hợp lý mức thuế thu nhập phù hợp với các đối tượng kinh doanh.
+ Có chính sách miễn thuế cho phần thu nhập được sử dụng để đầu tư phát triển hoặc đóng góp vào các phúc lợi xã hội của cộng đồng.
+ Trong nông nghiệp bên cạnh các loại thuế hiện hành mà nông dân đã chấp nhận cần quy định và quản lý các hình thức “lệ phí” tràn lan, khắc phục
tình trạng “phụ thu, lạm bổ” đang diễn ra khá trầm trọng ở nơng thơn. - Chính sách thị trường giá cả.
Trên quan điểm thị trường là một thể thống nhất, các hộ kinh doanh, doanh nghiệp đều bình đẳng trên thương trường, cần vận dụng các quy luật
vận động của kinh tế thị trường để rà soát và sửa chữa những mặt, những điểm bất hợp lý tạo nên sự phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế nhà nước và
khu vực KTTN trên thương trường. Có chính sách để tạo điều kiện cho khu vực KTTN có thể tiếp cận với các loại thị trường như thị trường vốn, thị
trường bất động sản, thị trường thiết bị công nghệ thơng tin. Khuyến khích và tạo điều kiện cho khu vực KTTN có thể mở rộng thị trường ra nước ngoài,
bao gồm cả xuất khẩu tư bản, xuất khẩu hàng hóa, thiết bị cơng nghệ, nguồn
125
nhân lực. Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá cả có sự tác độ của nhiều nhân
tố, nhất là chịu sự tác động của thị trường quốc tế ngoài tầm ảnh hưởng của sự quản lý nhà nước. Cần xây dựng các quỹ bảo hiểm, hỗ trợ giá cho từng
ngành hàng nông sản, thủy sản, công nghiệp chế biến…, điều phối kịp thời và có hiệu quả các loại quỹ đó để hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh khi có những biến động lớn về giá. - Chính sách khuyến khích KTTN tham gia các hoạt động kinh tế
đối ngoại. Sự phát triển của KTTN trong thời gian qua cho thấy khu vực tư nhân
có thể tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại trên nhiều mặt: xuất nhập khẩu, liên doanh sản xuất kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài, xuất
khẩu lao động và dịch vụ, đầu tư kinh doanh ở nước ngoài. + Ưu tiên hàng đầu là chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng hóa để
tạo thị trường cho kinh tế nội địa, nhập khẩu vật tư, thiết bị, nguyên liệu để phục vụ, thúc đẩy sản xuất, hiện đại hóa khu vực kinh tế tư nhân. Nghiên cứu
điều chỉnh thuế suất đối với thuế xuất nhập khẩu, nhất là đối với những hàng hóa có quy mơ lớn và với thiết bị, ngun liệu nhập khẩu.
+ Tạo điều kiện cho tư nhân có thể xuất khẩu trực tiếp không qua trung gian. Đối với những mặt hàng quy mô sản xuất từng hộ kinh doanh khơng
lớn, nhưng khối lượng hàng hóa trên thị trường lại nhiều, cần tổ chức các hình thức thích hợp hợp tác xã tiêu thụ, đại lý, mua bán liên kết với các cơ sở xuất
nhập khẩu của nhà nước để đưa hàng hóa ra thị trường ngồi nước. Để tạo điều kiện cho KTTN tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại
một cách thuận lợi, nhà nước cần hỗ trợ giúp KTTN tìm kiếm thị trường, cung cấp thông tin về khả năng phát triển kinh tế đối ngoại trên từng lĩnh vực,
giúp KTTN có điều kiện tiếp cận trực tiếp với thị trường, với đối tác thông
126
qua các hội trợ,các cuộc viếng thăm, khảo sát thị trường, tham gia triển lãm giới thiệu mặt hàng ở những nước có khả năng xuất khẩu hoặc đầu tư.
Giúp các doanh nghiệp khu vực KTTN xây dựng và quảng bá thương hiệu ra nước ngồi. Khuyến khích các hiệp hội nghề nghiệp xây dựng các
trang Web để quảng bá thương hiệu cho các đơn vị trong hiệp hội khơng có điều kiện mở trang Web riêng.
- Chính sách đào tạo nguồn nhân lực và xử lý các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế tư nhân
Khu vực KTTN là khu vực thu hút phần lớn lao động xã hội vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Do tính chất ngành nghề đa dạng
với nhiều loại quy mô khác nhau, khu vực này vẫn là khu vực đầy tiềm năng để giải quyết việc làm cho nhiều loại lao động với chất lượng tay
nghề khác nhau. Một trong những đặc điểm lớn về lao động khu vực KTTN là tuyệt đại bộ phận không qua đào tạo; Nhiều ngành nghề được hình
thành theo kiểu “cha truyền con nối” hoặc đào tạo tại chỗ qua sản xuất, lao động; Bộ phận lao động phi cơ cấu khá lớn luôn lưu động từ ngành này sang
ngành khác. Trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường, sức lao động đã trở
thành hàng hóa. Các DNTN trong cơng nghiệp, thương mại dịch vụ cũng như các trang trại trong nông nghiệp đều tự do mua bán, tuyển mộ lao động trên
thị trường thơng qua nhiều hình thức. Thị trường sức lao động đang thừa lao động giản đơn, thuận lợi cho các cơ sở tư nhân tuyển chọn, nhưng lại thiếu
lao động có kỹ thuật. Việc trả cơng cho người lao động trong khu vực này cũng không tuân theo một chuẩn mực nào, chủ yếu là theo thỏa thuận giữa hai
bên, có những cơ sở làm ăn có lãi thì người lao động được trả lương cao, có những cơ sở trả lương người lao động thấp, quan hệ giữa người sử dụng lao
động và người lao động khá lỏng lẻo; Người lao động khơng muốn thì bỏ
127
việc, người sử dụng lao động khơng muốn thì cho thơi việc. Nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động khơng có hợp đồng, khơng đóng bảo hiểm xã hội
cho người lao động. Nhiều cuộc đình cơng, tranh chấp lao động diễn ra. Luật lao động của Nhà nước chưa được các cơ sở tư nhân thực thi đầy đủ.
Tình hình trên đòi hỏi phải hồn thiện các chính sách đối với lao động trong khu vực KTTN để bảo vê lợi ích cho người sử dụng lao động và người
lao động. Đổi mới sự quản lý của Nhà nước đối với KTTN
+ Đổi mới quan niệm về quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân + Hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trong quản lý kinh
tế tư nhân + Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước làm công cụ điều tiết
vĩ mơ có hiệu lực đối với kinh tế tư nhân. + Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước đối với khu vực KTTN.
+ Thực hiện thường xuyên việc giao lưu đối thoại giữa cơ quan Nhà nước, các ngành liên quan với các DNTN để tháo gỡ những vướng mắc của
doanh nghiệp. + Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước và các cơ quan
chức năng. + Tiếp tục đấu tranh nhằm đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực của
KTTN. Từng bước xã hội hóa KTTN theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo
lập dần những nhân tố xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển KTTN.. + Thực hiện sự định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển của
KTTN. + Khuyến khích và ủng hộ, kinh tế hộ nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ đi vào con đường hợp tác với nhiều hình thức
128
phong phú và đa dạng. + Mở rộng sự liên kết của các loại hình KTTN với các doanh nghiệp
Nhà nước, từng bước hình thành những hình thức tư bản Nhà nước với nhiều loại hình thích hợp.
4.2.2.2 Những giải pháp cụ thể phát triển KTTN trong điều kiện huyện Kim Thành
Về Lựa chọn sản phẩm và quan hệ với bạn hàng Sản phẩm ở đây có thể là hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất ra bởi cơ
sở KTTN. Mỗi loại sản phẩm có một vòng đời nhất định. Tính chủ động của cơ sở KTTN trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã sẽ giúp
sản phẩm kéo dài hoặc bước sang một vòng đời mới. Các cơ sở KTTN có thể phát triển sản phẩm thông qua nhập khẩu dây chuyền thiết bị đặc thù mà các cơ
sở khác chưa có. Cơng tác nghiên cứu thị trường về sản phẩm phải được tiến hành một cách nghiêm túc. Cơ sở KTTN cần tránh đầu tư tràn lan, chồng chéo,
kém hiệu quả gây lãng phí nguồn lực. + Các cơ sở KTTN trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Tiếp tục đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đã có thị phần trên thị trường như: Dệt
may, da giày, vật liệu xây dựng…Bên cạnh đó nghiên cứu đầu tư các cơ sở sản xuất các sản phẩm cơng nghiệp phụ trợ, linh kiện, bán thành phẩm có hàm
lượng lao động và có giá trị gia tăng cao, làm vệ tinh cho các cơng ty, các tập đồn lớn hoạt động trong các khu công nghiệp tập trung như Khu công nghiệp
Tàu thuỷ Lai Vu, Phú Thái…cũng là một hướng đi cho các cơ sở KTTN. Với vị trí có nhiều con sơng lớn chảy qua, thuận lợi cho giao thông
đường thủy với hệ thống các bến bãi vật liệu xây dựng hiện có, các hộ cá thể, DNTN hoạt động trong lĩnh vực này cần nâng cấp máy móc thiết bị, đầu tư
mở rộng bến bãi, đa dạng hóa các chủng loại mặt bàng vật liệu xây dựng.
129
Huyện có đường quốc lộ chạy qua, là trung tâm tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, nên lĩnh vực vận tải hàng hóa bằng đường bộ cũng là nơi
phát triển tốt của kinh tế tư nhân, có thể thành lập các cơ sở kinh doanh vận tải hàng hóa Bắc Nam, Vận tải hàng hóa từ sân bay Nội Bài, cảng Hải Phòng
theo trục Hà Nội Hải Phòng, Hải Phòng Quảng Ninh, Hà Nội- Quảng Ninh. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp phụ tùng, sửa chữa phương tiện giao
thông vận tải theo tuyến Quốc lộ 5 và Tỉnh lộ 188. Hiện nay Huyện Kim Thành có tốc độ phát triển khá nhanh tốc đơ thị
hóa, cơng nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ. Khu vực KTTN có thể lựa chọn phát triển theo hình thức các cơ sở kinh doanh, cung cấp vật liệu xây dựng xi
măng, gạch, ngói, thiệt bị nội thất, vệ sinh…, và kinh doanh vận tải hàng hóa nội địa bằng loại hình ơ tơ nhỏ.
+ Đối với tiểu thủ cơng nghiệp và làng nghề: Phát triển theo các ngành nghề truyền thống theo vùng quy hoạch như nghề làm hương Phúc Thành,
mây tre đan Tuấn Hưng, đồ mộc dân dụng Cổ Dũng, đóng gạch ba panh Lai Vu.
+ Trong lĩnh vực dịch vụ: Phát triển các loại hình dịch vụ ăn uống, khách sạn, nhà nghỉ theo tuyến Quốc lộ 5 phục vụ khách hàng.
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp: Phát triển các cơ sở nuôi trồng thủy sản tại các vùng quy hoạch như: nuôi ba ba, nuôi tôm dưới hình thức các trang
trại và nhà hàng, sản phẩm phục vụ khách du lịch và hướng ra xuất khẩu. Thị trường chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…
Các hộ cá thể, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nông nghiệp tại các vị trí trung tâm các khu dân cư, các thị tứ, thị trấn.
Xây dựng hệ thống các cơ sở chế biến, sơ chế sản phẩm nông sản: hành, tỏi, vải nhãn, rau quả tại Cộng Hòa, Đồng Gia. Sản phẩm nông sản xuất
khẩu sang thị trường Trung Quốc, Đài Loan…
130
- Về lựa chọn giá bán: Doanh nghiệp cần chủ động đề ra chiến lược giá bán thích hợp với từng thời gian, từng thị trường. Doanh nghiệp cần xây dựng
chiến lược đa dạng về giá phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Với thị trường Trung Quốc u cầu khơng q khắt khe, có thể áp
dụng chiến lược chất lượng vừa phải, giá bán thấp. Để tiêu thụ được nhiều sản phẩm.
Với thị trường Thái Lan, Nhật Bản hoặc châu Âu, yêu cầu chất lượng cao, doanh nghiệp cần lựa chọn giá bán cao hơn, với chất lượng tốt nhất theo
yêu cầu. - Về phân phối sản phẩm: Sản phẩm được phân phối qua hai kênh trực
tiếp và gián tiếp. Hộ, doanh nghiệp có thể sử dụng đồng thời cả hai kênh phân phối song tỷ lệ phải cần nhắc do chi phí và mức độ thâm nhập thị trường.
- Quan hệ với bạn hàng: Trong nền kinh tế thị trường với nhiều mối quan hệ phức tạp, công tác đối ngoại ngày càng tỏ rõ vai trò của nó. Đó là mối
quan hệ giữa hộ, doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, dịch vụ cho doanh nghiệp; đó là mối quan hệ của hộ, doanh nghiệp với các cơ quan
chức năng, lãnh đạo địa phương…Đây không phải là quan hệ hành chính đơn thuần, cơng tác này giúp hộ, doanh nghiệp nhanh chóng đề xuất các vướng
mắc về chính sách với cơ quan có thẩm quyền, phối hợp chặt chẽ với bạn hàng vì lợi ích chung.
Hồn thiện bộ máy tổ chức quản lý và công tác quản để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở KTTN.
Cần có cách thức sắp xếp bố trí các nguồn lực mơt cách khoa học, hợp lý để sử dụng các nguồn lực có hạn một cách hiệu quả nhất, phục vụ cho việc
thực hiện các mục đích đặt ra. Việc hồn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhằm tạo ra một tổ chức năng
động, hiệu quả, nhạy cảm và có tính thích nghi với mơi trường kinh doanh,
131
tạo ra một cơ chế quản lý đảm bảo nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động, phát huy cao độ tính chủ động và những tài năng sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi bộ
phận trong việc xử lý các tình huống trong sản xuất kinh doanh. Cơ cấu tổ chức phải ổn định lâu dài, vừa đảm bảo tính năng động, phù
hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ. Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, cần áp dụng chế độ khuyến khích đặc biệt, gắn
liền với hiệu quả kinh doanh, đó là các yếu tố về tiền lương, bảo hiểm, điều kiện làm việc…Nên tránh hiện tượng đưa các thành viên trong gia đình vào
tham gia quản trong cơng ty mặc dù họ khơng có trình độ, chúng ta nên chọn những người có trình độ, có năng lực, nhạy bén có khả năng mang lại lợi ích
tốt nhất cho doanh nghiệp ở từng vị trí. Phải nâng cao trình độ cho cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp bằng
các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý, chuyên môn, khoa học , kỹ thuật dưới các hình thức, mở các lớp tại chỗ hoặc hỗ trợ tạo điều kiện về thời
gian, tài chính cho cán bộ, cơng nhân tham gia các lớp học ngoài giờ mở tại các trường đào tạo. Thực tế hiện nay cho thấy các nhà quản lý DNTN phần
đông hoạt động thiếu bài bản, dựa nhiều vào kinh nghiệm, chạy theo thị hiếu thị trường, khơng có phân tích khoa học nên khơng ít doanh nghiệp làm ăn
khơng có hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao trình độ cho các nhà quản lý phải được đưa vào kế hoạch và tiến hành ngay.
Cần có chiến lược thu hút lao động, đặc biệt là lao động có trình độ và tay nghề cao thơng qua các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ
hội thăng tiến… Trong doanh nghiệp cần xây dựng chức năng, nhiệm vụ cho từng vị trí
từ đó đặt ra u cầu về trình độ đào tạo, kinh nghiệm, giới tính, độ tuổi…Việc đào tạo lại, bổ sung nghiệp vụ để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
doanh nghiệp cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
132
Đẩy mạnh hoạt động Marketing trong các cơ sở KTTN nhằm thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần. Hiện nay hoạt động kinh doanh của
các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện tuy có những bước phát triển nhất định song hầu như nhận thức về hệ thống lý thuyết Marketing là rất yếu, vì vậy khi
gặp những thay đổi của thị trường, hay nhu cầu khách hàng các DNTN thường rất lúng túng.
Mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh trong khu vực KTTN cần xây dựng một chiến lược kinh doanh riêng, phù hợp với khả năng về vốn, năng lực cán bộ
và trình độ phát triển, trong đó cần xác định rõ mục tiêu phát triển, căn cứ ngành hàng sản xuất kinh doanh, bàn hàng và thị trường, các nguồn lực để
thực hiện chiến lược kinh doanh cũng như kế hoạch và giải pháp tổ chức, thực hiện trong từng giai đoạn. Mọi hoạt động của hộ, doanh nghiệp phải
nhằm vào thực hiện mục tiêu cụ thể của chiến lược sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, những thất bại trong kinh doanh hầu hết là do chưa có chiến
lược hoặc chiến lược sai lầm, hạn chế trong việc triển khai một số chiến lược kinh doanh đúng đắn.
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới các cơ sở KTTN cần xây dựng và tổ chức thực hiện tố ba chiến lược sau: chiến lược hướng tới
khách hàng, chiến lược cạnh tranh, chiến lược thích nghi thơng qua tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trong đó chiến lược hướng tới khách hàng là quan trọng
nhất, bởi vì khi nắm bắt được nhu cầu đích thực của khách hàng, kết hợp với khả năng nguồn lực của mình để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì chắc
chắn doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm, sản xuất kinh doanh sẽ có lãi và phát triển đi lên.
Việc nghiên cưu, nắm bắt các thông tin về thị trường, sẽ giúp các cán bộ, quản lý các nhà chính sách của doanh nghiệp vạch ra những chiến lược
cụ thể trong việc giữ gìn thị trường hiện có và mở rộng kinh doanh sang khu
133
vực khác. Các cơ sở KTTN nói chung đều rất hiểu nhưng đặc điểm của thị trường
nội địa nhưng chưa nắm bắt được nhu cầu đối với từng hàng hóa cụ thể, bằng chứng là rất nhiều hàng hóa Trung quốc được người tiêu dùng Việt Nam rất
ưu chuộng, trong khi các sản phẩm cùng loại của Việt Nam rất ít được biết đến. Do đó, để đứng vững trên thị trường nội địa đòi hỏi các cơ sở KTTN
phải thực sự coi trọng đầu tư nguồn lực và vật chất và con người cho việc nghiên cứu thị trường nội địa.
+ Hiện nay, các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành đa số không chủ động và thiếu tính kế hoạch trong việc nghiên cứu thị trường quốc
tế. Doanh nghiệp gần như lựa chọn theo cách phản ứng lại với thị trường. Trong thời gian tới, các DNTN xuất khẩu cần phải cố gắng chuyển từ tiếp cận
thị trường một cách có định hướng, có mục tiêu và có chiến lược rõ ràng. Doanh nghiệp nên chủ động lựa chọn thị trường, phân loại khách hàng,
thường xuyên cập nhật các thông tin về thị trường quốc tế. Đối với các mặt hàng xuất khẩu là nông sản, thủy sản như: Rau, củ, quả, ba ba, ếch…nên tập
trung vào thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan vì các thị trường này có dân số đơng, nhiều nét văn hóa tương đồng đối với người Việt Nam, việc
nghiên cứu, thâm nhập thị trường này cũng dễ dàng hơn. Đối với các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản…là các thị trường lớn, khắt khe về chất
lượng sản phẩm thì các doanh nghiệp xuất khẩu nên tập trung vào các sản phẩm: May mặc, da giầy…và chủ yếu nên chọn hình thức gia cơng lại, hợp
tác với một doanh nghiệp nhập khẩu của nước ngồi để doanh nghiệp bạn giúp mình làm tốt cơng tác nghiên cứu thị trường, các quy định của nước sở
tại, vì các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện ở thời điểm này chưa đủ khả năng xuất khẩu trực tiếp, và bán sản phẩm trực tiếp tới thị trường trên.
Để đảm bảo thành công cho chiến lược kinh doanh và cạnh tranh, các cơ
134
sở KTTN cần có thơng tin đầy đủ, tin cậy và kịp thời về thị trường, sản phẩm, các điều kiện thương mại, về các dịch vụ hỗ trợ. Phải tiến hành nghiên cứu thị
trường, kể cả thị trường trong nước và thị trường thế giới nghiên cứu thị trường có thể gây tốn kém cho đơn vị nhưng lợi thế mà nó mang lại là rất lớn. Trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, doanh nghiệp nào chưa sẵn sàng đầu tư cho nghiên cứu thị trường thì đồng nghĩa với việc sẽ phải chấp nhận kết qủa
kinh doanh không được như mong muốn. Khơng đầu tư để có thơng tin sẽ không nắm bắt được nhu cầu thị trường, sẽ thua kém đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu thị trường không phải là cơng việc dễ dàng, nó đòi hỏi những kỹ thuật và công cụ khá tốn kém. Các cơ sở KTTN có thể thuê hoặc
mua để có kết quả nghiên cứu thị trường, tránh thiệt hại cho việc cập nhật thơng tin khơng đúng, thiếu độ tin cậy. Có thể khai thác các thông tin về thị
trường quan mạng Internet, các cơ quan thông tin đại chúng, qua đài báo… + Đẩy mạnh xúc tiến thương mại:
Ngồi cơng tác nghiên cứu thị trường thì bên cạnh đó các cơ sở KTTN cũng cần hết sức quan tâm tới các hoạt động xúc tiến thương mại. Do tài
chính có hạn nên đơn vị cần tăng cường quảng cáo trên các phương tiện truyền tin, khuyếch trương, bằng cách quảng cáo trên báo chí, đài phát thanh,
truyền hình, sử dụng tờ rơi, quảng cáo trên internet…, tham gia các hội trợ quốc tế, giới thiệu sản phẩm. Các cơ sở KTTN cần trang bị kiến thức đầy
đủ, có tính nhạy cảm, có đầy đủ thơng tin, và xử lý thơng tin nhanh trong các hoạt động tác nghiệp của hoạt động xúc tiến thương mại.
Công tác tiếp thị ở các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện đã có những bước phát triển nhất định trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đến nay vẫn
còn ít được đầu tư hoặc chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng. Do hạn chế về tài chính nên hầu hết các cơ sở KTTN chưa có các chương trình cụ thể hay có
một sự chuẩn bị ban đầu về quảng cáo sản phẩm thông qua các quảng cáo ở
135
nước ngồi, tìm hiểu lĩnh vực, cơ hội và các đối tác đầu tư. Các hoạt động định hướng khách hàng trong nước như khuyến mãi, khuếch trương sản
phẩm, quan hệ công chúng chưa được các cơ sở KTTN sử dụng rộng rãi. Các cơ sở KTTN cần tích cực, thường xuyên tham gia các hội chợ,
triển lãm được tổ chức tại tỉnh Hải Dương và trong cả nước. Đặc biệt coi trọng các cuộc hội thảo, hội nghị, tranh thủ tiếp cận các đối tác, bạn hàng,
nắm bắt và tận dụng mọi cơ hội để đàm phán, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho cơ sở mình.
Cần tích cực xây dựng, quảng bá thương hiệu. Khi đã có thương hiệu, lấy được uy tín, lòng tin đối với khách hàng cần tiếp tục duy trì, bảo vệ
thương hiệu của mình. Các cơ sở KTTN cần đăng ký thương hiệu tại các cơ quan có thẩm quyền để được pháp luật bảo vệ tránh được hiện tượng bị đánh
cắp thương hiệu hoặc kiện cáo về sau. Thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh.
Trong sản xuất kinh doanh thì rủi ro là điều khơng thể tránh khỏi, nó ln xảy ra bất kỳ lúc nào do vậy hộ, doanh nghiệp phải phòng ngừa và hạn chế
những tác động của chúng. Để hạn chế tố rủi ro hộ, doanh nghiệp cần làm tốt các vấn đề sau:
+ Thâm nhập vào thị trường từng bước để đánh giá được phản ứng của thị trường đối với sản phẩm của hộ, doanh nghiệp để điều chỉnh cho phù hợp.
+ Đa dạng hóa sản phẩm, ngành nghề kinh doanh để hỗ trợ cho nhau. Cần tập trung vào một số sản phẩm chính có khả năng thu lợi nhuận cao, giảm
thiểu rủi ro. + Liên kết với những hộ, doanh nghiệp khác để mua các yếu tố đầu vào
và tiêu thụ sản phẩm, tận dụng được lợi thế của nhau, hạn chế rủi ro. + Dự trữ nguồn lực ở mức hợp lý nhất để phòng ngừa rủi ro, song
không để bị đọng vốn lớn để tăng hiệu quả kinh doanh. Mức dự trữ nguồn lực
136
phụ thuộc vào mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh đang tiến hành và khả năng của hộ, doanh nghiệp.
Như vậy, hoạt động trong cơ chế thị trường, hộ, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược, kế hoạch kinh doanh riêng phù hợp với năng lực của
mình, cần phải xác định rõ mục tiêu phát triển, căn cứ vào điều kiện cụ thể của hộ, doanh nghiệp để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, và đưa ra những
cách thức để thực hiện kế hoạch đề ra. Tăng cường đầu tư cơng nghệ mới, hiện đại hóa trang thiết bị
Công nghệ mới và thiết bị đi kèm sẽ giúp cho các cơ sở KTTN có năng suất cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt hơn và có thể tung ra thị trường nhiều
mẫu mã mới. Cơ sở KTTN cần phải tính tốn, cân nhắc kỹ giữa u cầu đầu tư cơng nghệ mới, hiện đại hóa các trang thiết bị và yêu cầu tăng doanh thu để
đạt được hiệu quả cao nhất. Đầu tư công nghệ mới là vấn đề phải đặt ra thường xuyên nhằm dành thắng lợi trong thương trường cạnh tranh gay gắt.
Những đơn vị nào mạnh dạn đầu tư cơng nghệ hợp lý, đó là những đơn vị đã có “gan làm giàu”. Tùy theo mức độ hiện đại của từng thiết bị trong dây
chuyền sản xuất sản phẩm mà nên đầu tư vào từng phần hay tồn bộ. Có thể đầu tư cơng nghệ mới vào khâu sơ chế, tạo ra sản phẩm hoặc khâu tạo bao bì,
đóng gói sản phẩm. Nếu sự đầu tư vào từng khâu khơng tạo được sự tương thích hợp lý, đó là lúc sẽ phải nghĩ tới đầu tư đồng bộ.
Để mua sắm thiết bị thật sự có hiệu quả, các cơ sở KTTN cần nghiên cứu kỹ thị trường cung cấp thiết bị thông qua các trang Web trên Internet, các
văn phòng đại diện của các cơng ty nước ngoài, các trung tâm xúc tiến thương mại của các nước…Qua thư tín thương mại các cơ sở KTTN sẽ có nhiều chào
hàng để so sánh các thơng số kỹ thuật, giá bán, bảo hành và các dịch vụ khác sau bán hàng. Hộ, doanh nghiệp có thể u cầu cơng ty chào hàng cung cấp
cho mình một số khách hàng đã mua hàng để tham khảo ý kiến sử dụng. Công
137
việc này tốn kém thời gian và tiền bạc song là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả đầu tư.
Huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn và tài sản hộ, doanh nghiệp
Để chủ động được trong việc huy động vốn hộ, doanh nghiệp cần phải tính tốn được nhu cầu tài chính trong ngắn hạn và dài hạn, xây dựng kế
hoạch huy động vốn. Đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ phải tính tốn đầy đủ chi phí huy động vốn vì đây là yếu tố ảnh hưởng tới giá thành, giá bán của
hàng hóa từ đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của đơn vị. Cần có một chiến lược, kế hoạch tài chính lâu dài, có độ chính xác cao.
Hộ, doanh nghiệp cần quan tâm điều chỉnh tài chính như các tín dụng, ưu đãi thuế…Một kế hoạch tài chính có độ chính xác cao sẽ giúp hộ, doanh nghiệp
trong việc huy động vốn kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu động. Khả năng thanh tốn kịp thời các khoản chi phí, phản ánh sự lành mạnh về tài chính của
hộ, doanh nghiệp. Kế hoạch thu chi đầy đủ, đúng quy định là một phần quan trọng không thể thiếu trong kế hoạch tài chính.
Các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành cần hình thành kỹ năng xây dựng dự án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi làm cơ sở tạo
lòng tin với ngân hàng. Trong đó: Hộ, doanh nghiệp phải nêu rõ được mục tiêu của dự án, dự tính được kết quả kinh doanh, khả năng hồn trả vốn, phân
tích kinh tế- kỹ thuật dự án, tổ chức quản lý sản xuất, lao động, đào tạo, dự trù cân đối thu chi và kế hoạch trả nợ ngân hàng. Để dễ dàng tiếp cận các nguồn
vốn, các cơ sở KTTN cần liên kết với nhau thành các nhóm kinh doanh theo ngành nghề với sự bảo lãnh tín chấp của chính quyền địa phương, các hội,
đồn thể xã hội. Hộ, doanh nghiệp cần thực hiện tốt việc kiểm sốt nội bộ hoạt động tài
chính của đơn vị, tiến tới thực hiện kiểm toán độc lập theo định kỳ qua đó xây
138
dựng lòng tin đối với Ngân hàng, nhà đầu tư. Cần có sự cân đối hợp lý về tỷ lệ giữa vốn lưu động và vốn cố định, để bảo toàn phát triển vốn cố định, các
cơ sở KTTN nên sử dụng một số phương pháp như đánh giá lại tài sản cố định thường xuyên; lựa chọn các phương pháp khấu hao thích hợp để thu hồi
vốn nhanh, bảo toàn được vốn. Sau mỗi kỳ kế hoạch người quản lý cần tiến hành phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn cố định thơng qua những chỉ
tiêu phân tích và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, trên cơ sở đó rút ra những bài học về quản lý, bảo toàn vốn cố định. Đối với vốn lưu động, đơn vị
cần xác định rõ số vốn cần thiết đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tổ chức khai thác các nguồn huy động vốn lưu động với chi phí thấp nhất.
Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, xử lý kịp thời các vật tư hàng hóa chậm luân chuyển, áp dụng các hình thức tín dụng thương mại. Kịp thời điều chỉnh và có
biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thơng qua việc phân tích các chỉ tiêu như: Vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn lưu động,
hệ số nợ… Hiện nay các kênh huy động vốn rất đa dạng, nhưng đối với các cơ
sở KTTN cần nghiên cứu kỹ lưỡng, lựa chọn cho mình một kênh huy động vốn hợp lý với chi phí thấp và sử dụng vốn có hiệu quả.
+ Về huy động vốn: Đối với các cơ sở KTTN có thể sử dụng cơng cụ huy động vốn truyền thống như vay Ngân hàng, vay vốn nội bộ, sử dụng vốn
tự có, một số cơng ty CP, cơng ty TNHH có quy mơ lớn có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty, hoặc phát hành cổ phiếu qua thị
trường chứng khoán... Khi huy động vốn các cơ sở KTTN cần sử dụng linh hoạt các phương thức huy động. Đối với các cơ sở kinh tế tư nhân, việc huy
động vốn từ các cổ đông hiện hữu bao giờ cũng thuận lợi hơn huy động vốn từ bên ngoài. Nếu huy động từ nguồn sẵn có từ cổ đơng của mình, doanh
nghiệp khơng phải tốn các chi phí giao dịch trong làm thủ tục vay vốn, đồng
139
thời tạo sự gắn bó lâu dài của cổ đông với doanh nghiệp. Đối với vay vốn từ Ngân hàng đã thiết lập quan hệ tín dụng, việc tiếp tục các khoản vay cũng
giảm được nhiều chi phí thẩm định và thời gian hoàn tất thủ tục nhận được các khoản vay cũng ngắn hơn. Vì vậy, trước khi huy động vốn, các cơ sở
KTTN cần đánh giá nguồn lực sẵn có để tận dụng triệt để cho việc huy động vốn.
Nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp Các hiệp hội kinh tế, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, cũng như xã hội-
chính trị đã, đang và ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tăng cường hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, thành phần kinh tế ở
các địa phương cũng như trên toàn quốc. Để phát huy vai trò của các hiệp hội và các tổ chức này, cần coi
trọng cả việc tiếp tục kiện toàn, thành lập thêm các hiệp hội và tổ chức mới, vừa xúc tiến đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức, hiệp hội theo
mơ hình và thơng lệ hoạt động của các tổ chức và hiệp hội tương tự ở các nước phát triển trên thế giới hoặc điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ
thể từng địa phương ở Việt Nam. Thành lập hội các doanh nghiệp trên địa bàn huyện dưới hình thức câu
lạc bộ doanh nghiệp. Trong đó có ban chủ nhiệm câu lạc bộ gồm có các thành viên là giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị một số doanh nghiệp có uy tín
trên địa bàn do chính các doanh nghiệp trên địa bàn tín nhiệm bầu chọn. Hội các doanh nghiệp này có một cơ quan hoạt động thường trực, có trụ sở, có
quỹ hoạt động riêng. Hội doanh nghiệp huyện Kim Thành có nhiệm vụ: bảo vệ quyền lợi của các hội viên; tổ chức nghiên cứu, cung cấp thông tin về các
chính sách của Nhà nước liên quan tới doanh nghiệp cho các doanh nghiệp; tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ cho các chủ doanh nghiệp trên địa bàn; là
cầu nối giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp, là đầu mối để các
140
doanh nghiệp trên địa bàn huyện có thể tiếp cận hợp tác, mở rộng thị trường ra quốc tế…
Ngồi ra từng nhóm doanh nghiệp thuộc cùng loại hình, hoặc có ngành nghề kinh doanh tương tự nhau có thể hình thành các chi hội nhỏ, thường
xuyên gặp gỡ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tìm kiếm thị trường cho nhau…Các ông chủ thuộc nhóm doanh nghiệp này có thể gặp gỡ thường
xuyên vào các ngày cuối tuần tại các câu lạc bộ bàn trà, có thể trao đổi thơng tin trực tiếp, không nhất thiết phải tổ chức hội nghị. Hình thức này tạo ra sự
linh hoạt cho các doanh nghiệp khi muốn tìm kiếm thơng tin hỗ trợ trong điều kiện thời gian có hạn và tiết kiệm được nhiều chi phí khác.
Giải pháp hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương. Thực tế cho thấy, sự phát triển của kinh tế nói chung, sự lớn mạnh của
khu vực KTTN nói riêng gắn rất chặt với vai trò quản lý của chính quyền địa phương.
Những địa phương có cán bộ chính quyền năng động, sáng tạo và quan tâm tới việc tạo lập môi trường kinh doanh lãnh mạnh luôn đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Thực tế cho thấy, khơng phải cứ có ưu đãi đầu tư, hay có vị trí đại lý, cơ sở hạ tầng là có thể tạo nên sự khác biệt
trong phát triển kinh tế giữa các địa phương. Chính sách năng động, sáng tạo trong quản lý kinh tế của chính quyền địa phương mới là yếu tố quyết định
cho sự thành công trong phát triển kinh tế của nhiều địa phương. Ngược lại những địa phương có cán bộ cơng chức tham nhũng, không tận tâm, môi
trường pháp lý không minh bạch sẽ có thể làm thui chột các doanh nhân giỏi, các doanh nghiệp có tiềm năng đóng góp lớn cho nền kinh tế.
Vai trò của chính quyền địa phương khơng chỉ đơn thuần là thực thi chính sách của Trung ương, hay việc cố gắng tạo thuận lợi, giảm chi phí giao
dịch cho doanh nghiệp. Hơn tất cả chính là thái độ của chính quyền địa
141
phương đối với vị trí của khu vực KTTN. Sự ủng hộ của chính quyền địa phương là điều mà các DNTN rất mong đợi. Điều này thể hiện bởi:
+ Chính quyền địa phương chủ động hỗ trợ doanh nghiệp bằng những cam kết và các hành động tích cực. Hằng năm cần tổ chức các Hội nghị biểu
dương các hộ, doanh nghiệp kinh doanh tốt, lãnh đạo Huyện cần tổ chức đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp theo từng vấn đề, nhằm kịp thời cùng doanh
nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong kinh doanh. + Chính quyền địa phương cần thể hiện tính thân thiện với doanh
nghiệp. Thái độ thiện chí, cởi mở của lãnh đạo, cũng như cán bộ làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương đều là những nhân tố
quan trọng góp phần làm tăng thiện cảm của nhà đầu tư đối với chính quyền. Rất nhiều chủ doanh nghiệp cho rằng, chính tính thân thiện của cán
bộ Nhà nước, lãnh đạo các ban, ngành của Huyện, Tỉnh đối với doanh nghiệp là yếu tố quyết định đến kết quả đầu tư của doanh nghiệp và cũng là của Tỉnh,
Huyện nói chung. + Tạo mơi trường đầu tư có tính lành mạnh. Môi trường hoạt động lành
mạnh là điều kiện cần thiết để sản sinh những doanh nghiệp kinh doanh chân chính và thành đạt.
Trong phạm vi quyền hạn cũng nhưng trách nhiệm của mình trong quy trình làm thủ tục phê duyệt dự án thì các cơ quan chức năng của Huyện cần
công khai, minh bạch đầy đủ các quy định các yêu cầu cần thiết để tiến hành làm dự án cho các nhà đầu tư nắm được. Vì khi lập một dự án đầu tư các nhà
đầu tư phải tính tốn bài tốn về chí phí, vốn và lợi nhuận. Một trong những lo ngại của nhà đầu tư hiện nay là khơng dự tính được khoản đầu tư ban đầu một
cách chính xác, do có q nhiều các khoản chi phí khơng được cơng khai, nhiều thủ tục khơng nằm trong quy trình chính thức. Nhiều doanh nghiệp
không tin vào những con số như giá thuê đất, chi phí giải phóng mặt bằng do
142
cơ quan Nhà nước cơng bố, mà phải tìm thơng tin từ các doanh nghiệp đi trước. + Chính quyền Huyện cần chủ động thay mặt các cơ sở KTTN giải
quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn bản pháp luật. Những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý của mình thì cần tập trung chỉ đạo đội ngũ cán bộ
chuyên môn phối hợp với các doanh nghiệp tìm ra giải pháp cho những điều chưa thực sự rõ ràng về môi trường pháp lý, khi các văn bản pháp luật còn
mập mờ, có thể hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, điều mà rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay, chưa thể khắc phục triệt để trong thời gian ngắn. Đối với
những vấn đề ngoài sự quản lý của địa phương, lãnh đạo Huyện và các phòng chức năng chuyên mơn cần có đề nghị với các cơ quan cấp trên sớm có
phương án giải quyết thấu đáo cho các doanh nghiệp đến đầu tư tại địa phương.
- Hỗ trợ cho các cơ sở KTTN có thể tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư chính thống:
Đối với chính quyền cấp Huyện khơng có thẩm quyền quyết định trực tiếp những chính sách về vốn, tín dụng đối với hệ thống Ngân hàng. Chính vì
vậy để hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cơ sở KTTN có thể tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư cần làm tốt một số vấn đề sau:
+ Chính quyền Huyện cần năng động, thường xuyên quan tâm, cập nhật thông tin, tiếp cận với các nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư từ Trung ương, Tỉnh, từ
các quỹ đầu tư phát triển của các tổ chức trong và ngồi nước. Nắm các thơng tin về thủ tục từ đó sẽ hướng dẫn các cơ sở KTTN trên địa bàn có thể tiếp cận
với các nguồn vốn này. + Thành lập tổ thẩm định các dự án khả thi trực thuộc Phòng Tài chính-
Kế hoạch huyện, có chức năng, nhiệm vụ sàng lọc những dự án khả thi, có lợi cho địa phương nhưng thiếu vốn. Từ đó Huyện sẽ có chương trình làm
việc với Ngân hàng cùng phối hợp với hộ, doanh nghiệp tìm ra giải pháp tốt
143
nhất để huy động vốn cho hộ, doanh nghiệp phát triển. + Cần có sự thay đổi trong tư tưởng cũng như cách thức hoạt động của
các Ngân hàng kể cả trong và ngồi quốc doanh. Kiên quyết xóa bỏ tình trạng đối xử khơng bình đẳng trong vay vốn giữa khu vực tư nhân với khu vực Nhà
nước. Các Ngân hàng phải thực sự coi khu vực tư nhân là khách hàng, gắn lợi ích của Ngân hàng với lợi ích của doanh nghiệp, cần tích cực tháo gỡ khó
khăn, nâng cao khả năng vay vốn cho doanh nghiệp, tháo bỏ những thủ tục vay rườm rà, tích cực mở rộng những tài sản có thế chấp trong khi vay vốn
của doanh nghiệp. + Có giải pháp kiến nghị, phối hợp với Tỉnh phát triển các công ty cho
thuê tài chính để cho doanh nghiệp dễ dàng tiến hành sản xuất kinh doanh mà không cần vốn lớn và không phải thế chấp tài sản. Các công ty cho thuê tài
chính sẽ hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cho người thuê đạt hiệu quả khi sản xuất.
- Hỗ trợ các cơ sở KTTN trong việc tuyển dụng lao động, là cầu nối giữa doanh nghiệp và các nhà trường, trung tâm trong việc đào tạo nguồn
nhân lực tại các cơ sở KTTN: Lực lượng lao động của Huyện Kim Thành rất dồi dào nhưng chất
lượng lao động trong khu vực KTTN còn hạn chế. Để nâng cao chất lượng lao động cho khu vực này rất cần có sự quan tâm của địa phương trong việc hỗ
trợ đào tạo nguồn nhân lực: Cụ thể:
Chính quyền huyện, đặc biệt là phòng Lao động, Thương binh và xã hội, phòng Cơng thương huyện với chức năng là cơ quan tham mưu cho
lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện cần có các chương trình các đề án về cụ thể để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương, và có giải pháp
hỗ trợ việc đạo tạo lao động làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn.
144
Thơng qua việc: + Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức và cá nhân mở cơ sở dạy nghề
ngoài công lập, hỗ trợ các làng nghề, nghệ nhân, thợ cả trong việc đào tạo nghề, truyền nghề.
+ Phối hợp với các Trường Đại học, Các Trường dạy nghề, các Trung tâm dạy nghề của Nhà nước, mở các khóa học tại địa phương để đào tạo, cập
nhật kiến thức cho lao động cũng như cán bộ quản lý của các khu vực kinh tế trong đó có khu vực kinh tế tư nhân. Địa phương hỗ trợ về địa điểm học tập,
kiến nghị với Tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí mở lớp học từ ngân sách Tỉnh, ngân sách huyện, Doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia học tập đóng
góp một phần kinh phí. + Thành lập trung tâm giới thiệu việc làm trực thuộc Phòng Lao động
thương binh và xã hội huyện, xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, là cầu nối giữa doanh nghiệp và người lao động.
+ Liên đoàn lao động Huyện, Đồn Thanh niên, Phòng lao động thương binh xã hội huyện cần phối hợp với doanh nghiệp định kỳ mở các lớp bồi
dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, chuyên môn và quản trị kinh doanh cho người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp,
đặc biệt là DNTN trên địa bàn. - Hỗ trợ mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho các cơ sở KTTN
Trong vấn đề này, các cấp lãnh đạo địa phương phải đặc biệt coi trọng công tác quy hoạch sử dụng đất, cần nghiêm túc, khẩn trương công bố quy
hoạch đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, cơng bố những quỹ đất chưa sử dụng để doanh nghiệp có nhu cầu thuê đăng ký thuê.
Thu hồi những diện tích đất sử dụng sai mục đích hay bỏ hoang để doanh nghiệp có thể thuê làm mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Kiến nghị với ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi những diện tích đất mà các
145
doanh nghiệp thuộc Tỉnh quản lý thuê đất trên địa bàn huyện nhưng vẫn bỏ hoang không triển khai xây dựng đưa vào sản xuất kinh doanh quá thời hạn
quy định, tiếp tục giao cho các đơn vị khác có đầy đủ năng lực để xây dựng đi vào hoạt động. Giảm các loại thuế, phí trong việc đăng ký mua hoặc chuyển
quyền sử dụng đất. Giao cho Ban quản lý dự án huyện là cơ quan chủ trì tham mưu cho ủy
ban nhân dân huyện quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung, các khu sản xuất, làng nghề truyền thống công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên tại các
cụm xã trên địa bàn nằm xa khu dân cư. Kêu gọi vốn đầu tư vào xây dựng mặt bằng các cụm công nghiệp này và xây dựng đường giao thông nối liền với
đường quốc lộ, tỉnh lộ. - Hỗ trợ về thông tin
Thực tế cho thấy, chất lượng thông tin thu thập được của khu vực KTTN không cao, đặc biệt là những thông tin về thị trường. Bản thân từng
doanh nghiệp lại rất khó giải quyết được vấn đề này. Do vậy, để giúp khu vực này nâng cao được chất lượng nguồn thông tin cơ quan Nhà nước ở địa
phương cần thực hiện một số giải pháp sau: Giao cho Ban quản lý dự án huyện phối hợp với Đài phát thanh huyện
có nhiệm vụ thường xun tìm hiểu, cập nhật các thơng tin mới về thị trường trong và ngồi nước…có các giải pháp cung cấp hỗ trợ thông tin cho các
doanh nghiệp, những thơng tin này phải mới, chính xác, cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp.
Xây dựng và thường xun đổi mới thơng tin về tình hình kinh tế chính trị, địa phương, các chủ trương, quan điểm của lãnh đạo huyện…trên trang
Web của Huyện. Các cơ sở KTTN trên địa bàn có thể được hỗ trợ miễn phí về khai thác thông tin trên trang Web của huyện cũng như đưa các thông tin
quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của đơn vị mình.
146
Lãnh đạo huyện và các phòng chức năng thường xuyên có các buổi đối thoại với các doanh nghiệp trên địa bàn, để cung cấp thông tin, nắm bắt kịp
thời những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải, từ đó có những giải pháp hỗ trợ tháo gỡ kịp thời.

5. KẾT LUẬN


5.1 Kết Luận


Qua kết quả nghiên cứu ở trên Luận văn chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành từ năm 2000 trở lại đây đã có sự phát triển nhanh. Đặc biệt là sự phát triển và tăng lên của loại hình
hộ cá thể cũng như các loại hình doanh nghiệp ngày càng khẳng định được giá trị đóng góp cho kinh tế địa phương.
1. Số lượng các cơ sở KTTN có sự tăng lên nhanh chóng. Tính đến năm 2007 tăng lên 4,7 lần so với năm 2000. Trong giai đoạn 2000-2007 trung bình
147

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×