1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Sản lượng bia 100,00 Sản lượng rượu 100,00 Sản lượng nước giải khát 100,00

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (481.75 KB, 99 trang )


1. Sản lượng bia 100,00


100,00 100,00
100,00
- Bia chai 56,43
56,50 55,60
55,11 - Bia lon
10,29 15,23
15,45 17,08
- Bia hơi 33,27
28,27 28,95
27,81

2. Sản lượng rượu 100,00


100,00 100,00
100,00
- Rượu trắng có độ cồn từ 25
o
trở lên 3,76
5,93 11,58
11,90 - Rượu mầu có độ cồn từ 25
o
trở lên 2,85
0,96 1,60
1,40 - Rượu champagne các loại
0,24 0,13
0,17 0,16
- Rượu vang từ hoa quả tươi 5,08
3,91 4,22
4,3 - Rượu dân tự nấu
88,07 89,07
82,43 82,25

3. Sản lượng nước giải khát 100,00


100,00 100,00
100,00
- Nước uống có gaz 42,30
29,53 22,33
20,46 - Các loại đồ uống không gaz
27,12 9,02
7,47 5,93
- Nước quả các loại 0,75
5,52 4,75
5,20 - Nước tinh lọc
4,08 31,45
46,97 49,82
- Nước khống 25,76
24,49 18,47
18,59
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu, IPSI, 2008
Trong cơ cấu sản phẩm bia, bia chai chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 55 còn bia lon chiếm tỷ trọng thấp nhất ở tất cả các năm. Dường như có sự chuyển
dịch cơ cấu giữa sản phẩm bia lon và bia hơi. Tỷ trọng bia lon đang có xu hướng tăng lên trong khi bia hơi lại có xu hướng giảm dần.
Về sản phẩm rượu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại rượu là rượu dân tự nấu, tỷ trọng của loại rượu này luôn ở mức cao trên 82. Trong giai đoạn từ
năm 2000 đến năm 2007, tỷ trọng rượu dân tự nấu đang có xu hướng giảm nhưng còn chậm. Đến năm 2007, rượu tự nấu vẫn còn chiếm tới 82,25 trong
các sản phẩm của ngành rượu. Bên cạnh đó, rượu vang từ hoa quả tươi có điều kiện để phát triển nhưng lại có xu hướng giảm trong giai đoạn 2000-2005 năm
2000 chiếm 5,08, đến năm 2005 còn 3,91 và tăng chậm trong giai đoạn 2005-2007.
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
Về cơ cấu nước giải khát, tỷ trọng nước uống có gaz và các loại nước không gaz pha chế từ hương liệu giảm nhanh, trong đó, nước uống có gaz giảm
từ 42,30 năm 2000 xuống còn 20,46 năm 2007; nước hương liệu tương ứng giảm từ 27,12 xuống còn 5,93. Trong khi đó tỷ trọng nước tinh lọc lại tăng
mạnh, năm 2000 mới chỉ chiếm hơn 4 nhưng đến năm 2007 đã lên tới gần 50. Về nước khoáng và nước quả các loại mặc dù có nhu cầu tăng lên nhưng
trong thời gian qua, tỷ trọng nước khoáng lại đang giảm xuống còn nước hoa quả lại đang chiếm tỷ trọng quá nhỏ: năm 2000 là 0,75, đến năm 2007 vẫn chỉ mới
chiếm 5,2 nhỏ nhất trong các loại nước giải khát, trong khi đây được xem là xu hướng tiêu dùng chính về nước giải khát trong thời gian tới.
3.2. Chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm của ngành Bia – Rượu – Nước giải khát ở nước ta có
thể chia thành hai nhóm tương ứng với quy mô của các doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp lớn nhìn chung đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm,
hợp thị hiếu người tiêu dùng. Ngược lại, sản phẩm của các cơ sở sản xuất nhỏ lại có chất lượng thấp, khơng đảm bảo VSATTP và rất khó kiểm sốt được.
Đối với các doanh nghiệp lớn trong từng lĩnh vực của ngành Bia – Rượu – Nước giải khát, nhiều doanh nghiệp đã và đang xây dựng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO. Hệ thống chất lượng ISO và HACCP là những tiêu chuẩn quốc tế chuẩn mực được áp dụng phổ biến hiện nay trên toàn thế giới cho
các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm. Các tiêu chuẩn này thể hiện khả năng sản xuất và cung cấp các sản phẩm có chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cho
người sử dụng. Đây là mục tiêu mà các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm đồ uống hướng đến để phát triển và có một thị trường ngày càng mở rộng.
SVTH: Nguyễn Thị Hồi Thu Lớp KTPT47B
Trong lĩnh vực sản xuất bia, Cơng ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam VBL là nhà máy đầu tiên ở nước ta được nhận chứng chỉ Hệ thống Quản lý
chất lượng ISO 9002:1994 và là nhà máy bia đầu tiên trên thế giới được công nhận đạt tiêu chuẩn Quản lý chất lượng ISO 9001:2000; Công ty TNHH Nhà
máy bia Hà Tây được tổ chức BM STRADA Anh cấp giấy chứng nhận quản lý chất lượng ISO 9001:2000 và HACCP; SABECO và HABECO ngày càng khẳng
định uy tín của mình trên thị trường bằng việc duy trì và thực hiện tốt hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000...
Đối với ngành sản xuất rượu, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.
Các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 9002:2000. Công ty TNHH
TMDV Tân Hiệp Phát là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên được nhận cả chứng nhận ISO và HACCP...
Nhìn chung, các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát do những nhà máy này sản xuất ra có chất lượng khá cao và ổn định.
Ngược lại, sản phẩm của các cơ sở nhỏ thì hầu hết khơng đảm bảo chất lượng VSATTP và khơng kiểm sốt được.
Đối với sản xuất bia, sản phẩm của các cơ sở bia địa phương sản xuất với cơng suất thấp có chất lượng không cao, chủ yếu đáp ứng nhu cầu trong vùng.
Các cơ sở nhỏ khác không đủ trang thiết bị để sản xuất bia lon và bia chai thì thường chỉ sản xuất bia hơi. Để giảm chi phí sản xuất, các cơ sở này mua các
nguyên liệu malt, houblon, nấm men chất lượng kém, giá rẻ, nguồn gốc không rõ ràng, nguồn nước không đảm bảo. Bia cỏ không những chất lượng thấp mà còn
khơng đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, gây hại cho người tiêu
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
dùng. Các loại bia cỏ này không quản lý được, thường được các quán bia trộn lẫn với bia Việt Hà, bia Hà Nội hay các loại bia có tiếng khác để bán.
Chất lượng các sản phẩm rượu thì càng đáng báo động hơn. Các sản phẩm rượu chất lượng kém, rượu tự nấu, rượu giả, rượu lậu lưu hành phổ biến trên thị
trường. Theo số liệu cơng bố tại hội thảo Kiểm sốt vệ sinh an toàn thực phẩm
đối với rượu tự nấu - Thực trạng và giải pháp diễn ra trong 2 ngày 24 và 25122007 do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế phối hợp với Vụ Công
nghiệp tiêu dùng, Bộ Công thương tổ chức mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 350 triệu lít rượu, trong đó có 250 triệu lít rượu tự nấu chiếm trên 70 tổng
lượng rượu tiêu thụ. Trước đây người nấu rượu thường tự làm men, nhưng bây giờ chủ yếu là sử dụng men của Trung Quốc sản xuất. Hơn nữa, quy mơ các lò
sản xuất rượu rất nhỏ lẻ, tự phát nên rất khó kiểm sốt. Thậm chí có những cơ sở tận dụng bã rượu nấu lần thứ nhất, pha thêm cồn và thuốc trừ sâu DDT để làm
trong rồi đem bán. Nhiều hộ gia đình sản xuất rượu chỉ để tận dụng bã rượu làm thức ăn cho gia súc nên không quan tâm đến chất lượng, điều kiện an toàn vệ
sinh thực phẩm. Trong một nghiên cứu gần đây cũng của Viện Chiến lược và Chính sách y
tế - Bộ Y tế cho thấy, nồng độ Anđêhyt trong rượu tự nấu lên đến 235 mgl; trong khi đó nồng độ này trong rượu của nhà máy sản xuất chỉ là 11 mglít. Độ
cồn bậc cao trong rượu tự nấu là 767 mgl, trong khi đó nồng độ này trong rượu của nhà máy sản xuất chỉ nhỏ hơn 50 mgl. Có thể thấy rằng, độc chất có trong
rượu tự nấu cao hơn rất nhiều lần so với rượu sản xuất tại nhà máy. Hậu quả mà những loại độc chất trong rượu tự nấu gây ra cũng rất nghiêm trọng, dễ dẫn đến
bệnh gan, rối loạn thần kinh, rối loạn hành vi, ngộ độc dẫn đến tử vong...
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
Theo số liệu của Bộ Y tế, trong năm 2008 có tới 42 số ca tử vong do ngộ độc thực phẩm là có nguyên nhân từ rượu kém chất lượng. Kết quả kiểm tra của
Bộ Y tế cho thấy, cả nước có hơn 20.000 cơ sở sản xuất rượu nhưng chỉ có khoảng 10 công bố tiêu chuẩn chất lượng trong khi đó nước ta đến nay cũng
mới chỉ có quy chuẩn cho 3 loại rượu là: Rượu trắng TCVN 7043:2002, rượu mùi TCVN 7044:2002 và rượu vang TCVN 7045:2002, việc công bố chất
lượng đối với từng loại rượu thì chưa có chế tài quy định. Mới đây, Sở Y tế Sơn La đã lấy 87 mẫu rượu tự nấu để kiểm tra VSATTP thì có tới 83 mẫu khơng đạt
u cầu. Nồng độ Methanol vượt quá quy định hàng chục thậm chí hàng trăm lần. Đây cũng là tình trạng chung của các địa phương trên tồn quốc.
Tình trạng rượu giả, rượu lậu cũng rất phổ biến. Đặc điểm của rượu giả, rượu nhái là dùng rượu kém chất lượng của các cơ sở nhỏ lẻ công nghệ chưng
cất thấp, bớt công thức, nguyên liệu, dùng cồn công nghiệp pha chế với nước lã... nên chất lượng kém, rất nguy hiểm cho người sử dụng.
Trong kết quả phân tích một số chai rượu giả của Halico thu được, nồng độ rượu giả chỉ có 29,7V, nhưng nồng độ Aldehyde là 61,88V, Iso-propano
là 29,29 mgl, Ethyacetate là 107,08 mgl, Iso-amylic là 18,86 mgl và đặc biệt chỉ số Methanol khá cao trong khi rượu thật những chỉ số đó bằng 0 hoặc rất
thấp so với tiêu chuẩn Việt Nam. Trong các loại rượu thì rượu ngoại là mặt hàng bị làm giả nhiều nhất. Thủ
đoạn sản xuất rượu giả của các đối tượng là dùng một số rượu rẻ tiền bán trên thị trường pha với hương liệu, nước đường nấu lên để tạo màu, mùi đặc biệt. Nhiều
đối tượng làm giả bằng cách pha trộn rượu của Halico với khoảng 20 rượu ngoại thật và chất tạo màu làm từ kẹo đắng, đóng vào các vỏ chai rượu ngoại dán
tem thật hoặc tem giả. Cá biệt có đối tượng mua men rượu pha với hương liệu,
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
axit acetic, cồn 90 độ, nước lã, rồi ủ khoảng 2-3 ngày sau đó đóng vào chai. Với rượu ngoại những đối tượng làm hàng giả thường khoan một lỗ nhỏ dưới đáy
chai rồi rút bớt rượu thật ra và bơm rượu giả vào sau đó dùng một loại keo đặc dụng bịt lại.
Sự phát triển tràn lan của các cơ sở sản xuất nước giải khát trong thời gian qua cũng làm cho các cơ quan quản lý không theo kịp dẫn đến buông lỏng quản
lý về chất lượng. Một lượng lớn nước ngọt pha chế được sản xuất từ các loại hương liệu và
phẩm màu không rõ nguồn gốc xuất xứ, nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, nhiễm khuẩn và tồn dư nhiều kim loại nặng. Ngày nay người dân thường có thói
quen mua những bình nước tinh khiết về uống. Nhưng không phải tất cả đều sạch sẽ, chứ chưa nói đến tinh khiết. Từ nguồn nước máy, nước giếng khoan
và thậm chí là nước ao, hồ, một số xưởng sản xuất thủ công đem về lọc rồi đóng chai, dán lên những cái tên nhai nhái như Levi, Lavu, Vitales để đánh lừa
khách hàng. Tình trạng này diễn ra thường xuyên ở các địa phương trong cả nước. Đặc biệt là những vùng sâu vùng xa hẻo lánh thì tình trạng này còn diễn ra
thường xuyên với mức độ cao hơn. Tại các hàng quán ở đây các loại đồ uống đều bị biến tướng một cách độc đáo: Lavie thì biến thành Levi, Lavi, Lavu,
Vitales, Pepsi thì biến thành Pesi, Peasi, CocaCola thì biến thành Colacoca, Cola, Coocacola, Aquafina biến thành Aquanafi, Aquafine…Ta có thể dễ dàng
bắt gặp những chai nước nhái bày bán nhan nhản tại các mẹt hàng ở bến tàu, bến xe. Những cơ sở sản xuất nước tinh khiết đóng chai nhưng thực tế nước tinh
khiết ở đây chỉ là nước máy. Ngay trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng không thể kể xiết tên tuổi, xuất xứ của các loại nước uống đóng chai nước uống tinh
khiết. Từ các nhãn hiệu quen thuộc như Aquafina, Laska, Sapuwa, Favor… đến
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
những loại có cái tên na ná hoặc rất lạ như Aquabeta, Ada, Nasa, Panona, Amswa, Icewa, Aliwa, New Life, Fujice, Valentine.
Rất nhiều loại nước giải khát bán trên thị trường đã được phát hiện có nhiễm khuẩn Coliform có trong phân người và vi khuẩn Pseudomonas
aeruginosa có thể gây tiêu chảy nặng và nhiễm trùng huyết…Tại thành phố Hồ Chí Minh, 89 số mẫu nước giải khát bán lẻ đều nhiễm bẩn. Đó là con số mà Uỷ
ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội công bố về chất lượng đồ ăn, thức uống hàng ngày mọi người đang dùng.
3.3. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trong thời gian qua, sản phẩm của ngành Bia – Rượu – Nước giải khát
Việt Nam chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước và đã chiếm được một vị trí nhất định. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm bia, rượu, nước giải khát của ngành có
thể phân thành các nhóm sau: Nhóm thứ nhất: Những sản phẩm đã có thương hiệu, thường là sản phẩm
của các doanh nghiệp lớn. Khả năng cạnh tranh của nhóm này tương đối cao. Đối với bia, sản phẩm của các cơng ty lớn trong ngành như SABECO,
HABECO có chất lượng tốt, giá thấp hơn các sản phẩm nhập khẩu và hơn nữa lại hợp “gu” của người Việt nên có khả năng cạnh tranh cao.
Các sản phẩm rượu của Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội HALICO hay vang Thăng Long, vang Đà Lạt...có khả năng cạnh tranh nhờ giá thấp hơn
rượu ngoại do không phải chịu thuế nhập khẩu và nhìn chung đảm bảo chất lượng VSATTP, không chứa nhiều độc tố như rượu tự nấu.
Nước giải khát của các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam như SABECO, Tân Hiệp Phát, Interfood...với chất lượng ngày càng được cải thiện, phong phú về
SVTH: Nguyễn Thị Hoài Thu Lớp KTPT47B
chủng loại và mẫu mã do sớm phải cạnh tranh với các nhãn hiệu hàng đầu trên thế giới như Coca-Cola, Pepsi nên có sức cạnh tranh khá cao.
Nhóm thứ hai: sản phẩm của các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Những sản phẩm này hầu như năng lực cạnh tranh rất thấp do chất lượng kém, chủ yếu đánh vào
sự thiếu hiểu biết của người tiêu dùng. Đối với bia, bia cỏ, bia kém chất lượng được pha trộn với các loại bia có
tiếng để tiêu thụ. Đối với rượu, rượu dân tự nấu chứa nhiều độc tố hiện nay vẫn đang tiêu thụ mạnh, nhiều sản phẩm rượu giả, rượu nhái vẫn đang trôi nổi trên
thị trường. Tuy nhiên, cùng với mức thu nhập tăng lên, nhu cầu về bia, rượu có chất lượng tốt, đảm bảo VSATTP tăng lên, những sản phẩm này sẽ khó có thể
tiêu thụ được. Tương tự đối với nước giải khát, hiện nay đang có rất nhiều sản phẩm nước giải khát nhái hay kém chất lượng được bày bán, nhưng khi sự hiểu
biết của người tiêu dùng cao lên, các sản phẩm này sẽ rất khó tiêu thụ.

4. Về thị trường


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (99 trang)

×