Tải bản đầy đủ - 32 (trang)
Một số đặc điểm kinh tế - xã hội

Một số đặc điểm kinh tế - xã hội

Tải bản đầy đủ - 32trang

lưới gia cơng cho các xí nghiệp của thủ đơ trong q trình cơng nghiệp hố - hiện đại hố.
Bắc Ninh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, trong đó đặc biệt là cơng nghiệp chế biến nơng sản và dịch vụ du lịch.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, công
tác giải quyết việc làm và trong đó có cơng tác xuất khẩu lao dộng của Bắc Ninh.

1.2 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội


a, Đặc điểm kinh tế Với điều kiện tự nhiên như trên thì quả thật Bắc Ninh có lợi thế lớn
trong giai đoạn phát triển kinh tế của mình. Trong những năm qua GDP của tỉnh luôn tăng trưởng ở mức khá.
Trong năm 2009, tổng sản phẩm GDP của Bắc Ninh tăng 12,54, thu ngân sách Nhà nước đạt 3.500 tỷ đồng.
Trong 5 năm qua, GDP của tỉnh tăng trưởng trung bình 15,1năm, thu nhập bình
quân đầu người hiện đạt 1.800 USD, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,5 khá thấp so với mức 11 của cả nước....
Trong năm 2009, quê hương của dân ca quan họ đã vươn lên đứng thứ 10 toàn quốc về giá trị sản xuất cơng nghiệp từ vị trí 19 năm 2004. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch mạnh với tỷ lệ công nghiệp-xây dựng chiếm 64,8, dịch vụ hơn 24, nơng nghiệp chỉ còn 11. 15 khu cơng nghiệp trong tỉnh đã góp
một phần lớn làm nên tỷ trọng cao của công nghiệp trong cơ cấu GDP. Đặc biệt, tỉnh vừa hình thành khu cơng nghiệp hỗ trợ góp phần hạn chế nhập khẩu,
nâng cao giá trị gia tăng, giá trị nội địa hố của các sản phẩm cơng nghiệp. Tính đến thời điểm này, Bắc Ninh đang xuất siêu 100 triệu USD với
kim ngạch xuất khẩu đạt 1,25 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm
Nguyễn Kim Thanh Lam 14
qua tỉnh xuất siêu. Về thu hút đầu tư, với 4.300 doanh nghiệp, 5 năm qua, tỉnh đã thu hút 3,4 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 2 vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ. Thu nhập bình quân của người dân Bắc Ninh tăng dần, cuộc sống ngày
càng được cải thiện. Năm 2002 thu nhập bình quân đầu người của Bắc Ninh mới bằng 91,6 so với bình quân của cả nước, thì đến năm 2004 đã là
100,7 và năm 2008 ước đạt 1.184 USD, cao hơn bình quân chung cả nước. Đáng chú ý, trong năm 2009, Bắc Ninh đã giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 5,58,
xây dựng Quỹ “Vì người nghèo” với số tiền trên 28 tỷ đồng. Cùng với xu hướng chung của cả nước, sự phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN cũng làm cho phân hóa giầu nghèo tăng lên. Số liệu điều tra mức sống dân cư trong tỉnh cho thấy sự chênh lệch thu nhập bình
quân đầu người của 20 nhóm giầu nhất so với 20 nhóm nghèo nhất tăng từ 4,54 lần lên 6,8 lần năm 2006. Tuy có tăng, nhưng chỉ số này vẫn thấp hơn
bình qn chung của đồng bằng sơng Hồng và bình qn chung của cả nước, nhưng tốc độ tăng của Bắc Ninh cao hơn. Điều này cũng thể hiện sự năng
động của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá cao, đồng thời thể hiện sự quan tâm của tỉnh trong việc gắn kết thường xuyên trong nhiệm vụ phát triển
kinh tế đi liền với phát triển xã hội, thực hiện xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề phân hóa giầu nghèo
.
Tăng trưởng kinh tế với tốc dộ cao là tiền đề quan trọng trong việc phát triển kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu là điều
kiện tiên quyết cho giải quyết việc làm. b, Đặc điểm xã hội
Trong những năm qua, cùng với phát triển kinh tế, điều kiện xã hội cảu tỉnh cũng có nhiều bước thay dổi tích cực. Nhu cầu về ăn ở, đi lại, học hành
và hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện và không ngừng nâng cao. Giao thông được củng cố và nâng cấp thường xuyên. Đối với xây
dựng hạ tầng nông thôn, ngân sách tỉnh hỗ trợ 40 tổng mức đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước sạch tập trung; xây dựng nâng cấp đường giao thông nông
Nguyễn Kim Thanh Lam 15
thôn; xây dựng mới, cải tạo nâng cấp trụ sở xã, nhà sinh hoạt thôn, trạm y tế xã và chợ nông thôn. Hỗ trợ 100 giá trị cơng trình kênh mương loại 1, loại
2; 50 với kênh loại 3. Bắc Ninh là một tỉnh rất chú trọng đầu tư công tác giáo dục.
Hỗ trợ 50 giá trị đầu tư xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp trường tiểu học và trung
học cơ sở công lập, trường mầm non công lập và dân lập. Xét về quy mô, số trường học phổ thông cũng như số học sinh phổ thông và giáo viên phổ thông
ở tất cả 3 cấp đã tăng lên rõ rệt qua các năm. Trên địa bàn tỉnh còn có các trường TW như: Đại học thể dục thể thao, trung cấp thống kê, trung cấp ngân
hàng, ... Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng nhiều.
Trình độ người đã qua đào tạo nghề đã được cải thiện. Cơng tác chăm sóc sức khỏe cho người dân cũng luôn được chú ý đúng
mức. Mạng lưới các cơ sở y tế được mở rộng đến từng cơ sở, những chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình chống suy dinh dưỡng, phòng chống
các loại bệnh cho trẻ em. Tỉnh đưa ra các chính sách: miễn giảm học phí cho con em hộ nghèo,
cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh miễn phí cho hộ nghèo, hỗ trợ vay vốn thơng qua Quỹ quốc gia 120, ngân hàng chính sách xã hội, vốn của các tổ
chức quốc tế, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của gia đình, dòng họ và của cộng đồng; tập huấn kiến thức sản xuất kinh doanh, tư vấn
pháp lý miễn phí cho hộ nghèo... thơng qua hàng loạt các giải pháp đồng bộ nêu trên, chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề phân hóa giầu
nghèo đã thu nhiều kết quả thiết thực: tồn tỉnh khơng còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,1 năm 1997 xuống 3,5 theo tiêu chí cũ và xuống còn
9,3 năm 2007 theo tiêu chí mới. Đến hết năm 2006, tồn tỉnh đã xây dựng được 745 căn nhà tình nghĩa, xóa hết nhà tranh tre nứa lá.
Nhờ việc nâng cao đời sống nhân dân đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo điều kiện phục vụ cho công tác xuất khẩu lao động.
Nguyễn Kim Thanh Lam 16

1.3 Đặc điểm lao động tỉnh Bắc Ninh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số đặc điểm kinh tế - xã hội

Tải bản đầy đủ ngay(32 tr)

×