1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Tình hình doanh thu từ hoạt động TDTD .

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (410.66 KB, 65 trang )


Chuyên đề tốt nghiệp

3.2. Tình hình doanh thu từ hoạt động TDTD .


Cựng vi vic m rng TDTD qua các năm 2007-2009, doanh thu từ hoạt động này cũng tăng lên tương ứng, góp phần làm tăng thu nhập cho chi
nhánh.
Bảng 8: Tình hình doanh thu từ TDTD tại chi nhánh NHNo Thăng Long từ năm 2002-2004.
Đơn vị: tỷ VNĐ.
Chỉ tiêu doanh thu
2006 2007
2008
2009
số tiền
số tiền số tiền
số tiền
- HĐTD 780
100 579,45 100 704,34 100
993,0 7
100
- TDTD 97
3,0 12,44
127,5 6,8
22 210,3 10,7
39,6
278,9 28
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh qua các năm
Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng, doanh thu từ hoạt động TDTD qua các năm tăng trưởng mạnh. Cụ thể:
- Năm 2006, doanh thu từ TDTD là 97 tỷ đồng, chiếm 12,44 tổng doanh thu từ hoạt động tín dụng.
- Năm 2007, doanh thu từ TDTD là 127,5 tỷ đồng, chiếm 22tổng doanh thu từ hoạt động tín dụng. So với năm 2006, doanh thu từ TDTD đó
tăng gấp đơi. - Năm 2008, doanh thu TDTD tiếp tục tăng, đạt 278,9 tỷ đồng,
chiếm 39,6 , so với 2007, doanh thu năm 2008 tăng 64,9 tăng 82,8 tỷ đồng.
- Năm 2009, doanh thu TDTD tiếp tục tăng, đạt 278,9 triệu đồng, chiếm 28 , với tốc độ tăng so với năm 2008 là 32,6 tăng 68,6 tỷ đồng
Kết quả trên thực sự là rất đáng mừng bởi nó cho thấy việc mở rng
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
42
Chuyên đề tốt nghiệp
TDTD khơng những đã góp phần làm tăng thu nhập cho chi nhánh mà ngày càng trở thành một nguồn thu quan trọng.
Việc doanh thu từ hoạt động TDTD năm 2007 và 2008 có sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô và tốc độ như vậy là do: Doanh số cho vay
TDTD năm 2007 và 2008 tăng trưởng mạnh đồng thời chênh lệch lãi suất bình quân của hoạt động TDTD năm 2007 và 2008 cao hơn so với năm 2006.
Nhìn chung, tuy còn gặp một số khó khăn ban đầu trong việc triển
khai loại hình TDTD nhưng với khả năng của chi nhánh cùng với tiềm năng mở rộng hoạt động này, trong tương lai TDTD sẽ là xu hướng phát triển chủ
yếu của chi nhánh, đồng thời còn đóng góp một nguồn thu quan trọng .
3.2.2. Đánh giá chung về mở rộng TDTD tại chi nhánh Sacombank Đống Đa trong thời gian qua

2.2.3.1 Những kết quả đạt được


• Góp phần làm tăng thu nhập cho chi nhánh.
Một điều dễ nhận thấy là cùng với việc mở rộng TDTD thì doanh thu từ hoạt động này cũng ngày càng được mở rộng, góp phần làm tăng thu nhập
cho chi nhánh. Nếu năm 2008, TDTD chỉ chiếm tỷ trọng 24 trong cơ cấu cho vay và đem lại 3 thu nhập của hoạt động tín dụng cho chi nhánh thì đến
năm 2009, TDTD đã chiếm tỷ trọng 11,3 và đem lại 10,7 nguồn thu từ hoạt động tín dụng. Rõ ràng sự tăng trưởng về doanh số và dư nợ TDTD trong
tổng doanh số và tổng dư nợ cho vay của chi nhánh đã góp phần làm tăng thu nhập của hoạt động tín dụng nói riêng và tồn bộ hoạt động nói chung của chi
nhánh. Mặc dù, chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong cơ cấu cho vay của chi nhánh nhưng do lãi suất cho vay tiêu dùng luôn cao hơn so với lãi suất
cho vay đối với c ác doanh nghiệp đồng thời nợ quá hạn từ hoạt động tín dụng của chi nhánh phần lớn là từ cho vay các doanh nghiệp , chính vì vậy có
thể dễ dàng nhận thấy rằng hoạt động TDTD tại chi nhánh là tương đối an toàn và nguồn thu từ TDTD mang tính hiệu quả hơn.
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
43
Chuyên đề tốt nghiệp
Gúp phn nõng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh trên thị trường.
Thứ nhất, thơng qua việc phát triển loại hình TDTD mà chi nhánh đã góp phần đa dạng hố danh mục sản phẩm của mình. Điều này một mặt giúp cho
chi nhánh giảm thiểu rủi ro nếu chỉ tập trung phát triển một số sản phẩm nhất định. Mặt khác, với việc phát triển loại hình này mà chi nhánh có thể tăng
thêm thu nhập từ nguồn thu phí dịch vụ thông qua các sản phẩm hỗ trợ TDTD mà chi nhánh cung cấp cho khách hàng như: dịch vụ thanh tốn bằng thẻ tín
dụng, dịch vụ ngân hàng tại gia...Qua đây, có thể thấy rằng quy mơ hoạt động của chi nhánh đã được mở rộng.
Thứ hai, việc phát triển loại hình TDTD đã giúp chi nhánh đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo điều kiện cho chi nhánh
thiết lập các mối quan hệ với khách hàng. Khách hàng của chi nhánh không chỉ giới hạn ở một bộ phận dân cư phân bố tại nơi chi nhánh làm việc mà còn
mở rộng hơn ở những địa bàn khác. Nhờ vậy, phạm vi và địa bàn hoạt động của chi nhánh ngày càng được mở rộng. Và do đó, uy tín của chi nhánh ngày
càng được nâng cao, làm tăng khả năng cạnh tranh của chi nhánh trên thị trường.
Qua việc phân tích trên cho thấy, việc phát triển thị trường sản phẩm TDTD không những tạo điều kiện cho chi nhánh mở rộng quy mơ, phạm vi
hoạt động của mình. Ngồi ra, còn giúp chi nhánh phát huy thế mạnh của mình thơng qua việc khai thác tiềm năng của loại hình TDTD. Rõ ràng, việc
phát triển loại hình tín dụng này đã góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của chi nhánh trên thị trường.
• Góp phần nâng cao từng bước trình độ chun mơn, nghiệp vụ của
các cán bộ ngân hàng. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều đánh giá, mảng cho vay tiêu dùng
trong dân cư là một thị trường tiềm năng, và trong tương lai , đây sẽ là loại hình tín dụng đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng. Nếu trước kia,
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
44
Chuyên đề tốt nghiệp
khỏch hng ch yếu của các NHTM là các doanh nghiệp, trong khi đó một bộ phận lớn dân cư với nhu cầu tiêu dùng đa dạng nhưng chỉ được cung cấp một
số ít sản phẩm, thì nay, các NHTM đã hướng tới người tiêu dùng nhiều hơn bằng cách cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của họ. Người
tiêu dùng do đó khơng còn phân vân trong việc lựa chọn sản phẩm mà ngân hàng cung cấp, họ chỉ còn phân vân lựa chọn ngân hàng mà mình sẽ sử dụng
sản phẩm đó. Rõ ràng là có một sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM. Chính vì lẽ đó, các ngân hàng muốn thu hút khách hàng thì khơng chỉ nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ mà còn phải nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ của các cán bộ, nhân viên ngân hàng.
Xuất phát từ thực tế trên, chi nhánh Sacombank Đống Đa luôn chú trọng cơng tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ, nhân viên
ngân hàng. Trong quá trình triển khai loại hình TDTD, chi nhánh đã chủ động bố trí các lớp học ngắn hạn về nghiệp vụ giao tiếp, phân tích đánh giá
khách hàng... đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp quy, thông tin
kinh tế thị trường, quy trình nghiệp vụ cho vay cùng các thơng tin về phòng ngừa rủi ro trong tín dụng ngân hàng với sự trợ giúp và giảng dạy từ các giảng
viên tại các trường đại học chuyên ngành tài chính- ngân hàng. Như vậy, thơng qua cơng tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho
các cán bộ, nhân viên ngân hàng mà chi nhánh đã tạo ra những chuyển biến trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

2.2.3.2 Một số hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân .


• Một số hạn chế cần khắc phục
-
Thứ nhất: Chi nhánh Sacombank Đông Đô ln là đơn vị có số dư
thừa vốn điều TW lớn, hoạt động cho vay tại số thời điểm bị hạn chế theo chỉ đạo của Tổng công ty. Đặc biệt qua bảng phân tích tình hình huy động vốn và
sử dụng vốn của chi nhánh có thể thấy được rằng, tại chi nhánh chưa có sự
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
45
Chuyên đề tốt nghiệp
cõn i tt gia ngun vn và sử dụng vốn. Điều này thể hiện tính hiệu quả trong công tác đầu tư và cho vay nền kinh tế của chi nhánh là chưa tương
xứng với tiềm lực của chi nhánh. Trong khi đó, địa bàn hoạt động của chi nhánh lại là khu vực đông dân cư, nhu cầu tiêu dùng rất lớn.Trong thời tới
đây chi nhánh cần có những biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quả hơn nguồn vốn của mình.
-
Thứ hai: Công tác tiếp thị tại chi nhánh chưa được coi trọng.
Với mạng lưới các chi nhánh cấp II và phòng giao dịch được phân bố ở những nơi tập trung đông dân như chợ Mơ, khu đô thị mới Định Công...Đây
là những khu vực mà số lượng người tiêu dùng dồi dào, nhu cầu đa dạng và là mảnh đất tiềm năng cho TDTD phát triển. Thế nhưng, số lượng khách hàng
đến với chi nhánh còn hạn chế, một phần do khách hàng chưa biết hoặc ít được phổ biến các thông tin về sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Phần lớn, khách hàng có nhu cầu thường tự tìm đến với ngân hàng. Thực tế, tại chi nhánh cũng đã xúc tiến các hoạt động tuyên truyền,
quảng cáo nhưng thực sự công tác tiếp thị tại chi nhánh vẫn còn chưa có chiều sâu, chưa đi sâu vào nghiên cứu phân loại khách hàng để có cơ sở cho việc
định ra chiến lược kinh doanh dài hạn trong tương lai.
-
Thứ ba: Quy trình thủ tục cho vay còn rườm rà, phức tạp.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, khách hàng sẽ đến ngân hàng để gặp gỡ cán bộ tín dụng và tiến hành lập bộ hồ sơ vay vốn. Quá trình lập bộ hồ
sơ cũng khá tốn thời gian cho khách hàng vì khách hàng phải có xác nhận của cơ quan mà mình đang cơng tác hoặc cần có xác nhận của chính quyền
địa phương về quyền sở hữu nhà hay quyền sử dụng đất. Sau khi bộ hồ sơ hoàn thành, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành thẩm định. Do
số lượng khách hàng đông, đồng thời luôn phải đảm bảo tính chân thực và chính xác từ những thơng tin mà khách hàng cung cấp, chính vì vậy q trình
thẩm định diễn ra khá tốn thời gian và công sức ca cỏn b tớn dng.
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
46
Chuyên ®Ị tèt nghiƯp
Sau khi thẩm định xong, nếu đủ điều kiện vay vốn thì cán bộ tín dụng trình lên Trưởng phòng tín dụng để xét cho vay. Khi có quyết định khách
hàng sẽ được giải ngân. Trong quá trình sử dụng vốn vay, cán bộ tín dụng ln là người trực tiếp theo dõi, giám sát và đôn đốc họ trả nợ đúng hạn. Do
cho vay tiêu dùng trả nợ bằng lương của khách hàng và thu nợ hàng tháng nên nếu khách hàng vì một lý do nào đó mà khơng thể đến trả nợ đúng hạn như đi
cơng tác, gặp khó khăn đột xuất thì khoản nợ đó của khách hàng ngay lập tức bị chuyển thành NQH.
Rõ ràng, từ khi khách hàng có nhu cầu đến vay vốn cho đến lúc được cấp vốn trải qua nhiều công đoạn với những thủ tục rườm rà và mất thời gian.
Hơn nữa, khách hàng luôn bị đặt trong tình trạng giám sát và ln ở trong tâm lý chuẩn bị trả nợ cho ngân hàng. Chính điều này đã gây tâm lý e ngại cho
khách hàng.
-
Thứ tư: Chưa phát triển hình thức tài trợ tiêu dùng cho khách hàng
bằng phát hành thẻ tín dụng. Nếu trên thế giới, thẻ là hình thức giao dịch phổ biến thì tại Việt Nam,
mới chỉ có một số ngân hàng phát hành thẻ tín dụng. Với những đặc điểm và thực trạng thị trường VN hiện nay, các ngân hàng gặp không ít khó khăn
trong việc phát triển phát hành thẻ, ví dụ như việc thay đổi thói quen dùng tiền mặt. Tuy nhiên, thực trạng đó cho thấy thị trường thẻ ở nước ta có tiềm
năng lớn để phát triển, và đó là cơ hội cho các ngân hàng khai thác, phát triển dịch vụ thẻ của mình. Tiềm năng của thị trường được thể hiện ở khả năng
thâm nhập của thẻ trong chi tiêu tiêu dùng cá nhân trong nền kinh tế. Trong tương lai không xa, không chỉ các NHTM mà còn cả chi nhánh nên phát triển
hình thức này xuất phát từ những tiện ích nó đem lại. •
Nguyên nhân của những hạn chế trên.
Nguyên nhân bên ngồi ngân hàng
- Yếu tố pháp luật
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
47
Chuyên đề tốt nghiệp
Mc thu nhp v s n định trong thu nhập là những thông tin quan trọng trong quá trình đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Tại Việt Nam,
đối với các chương trình cho vay tín chấp, nếu khách hàng khơng làm việc trong khu vực nhà nước thì dù có thu nhập cao bao nhiêu vẫn khơng được coi
là ổn định. Vì vậy, mặc dù đã có nhiều chương trình cho vay được đưa ra nhưng cho vay tín chấp cho đối tượng ngoài quốc doanh vẫn chưa được thực
hiện mà mới chỉ dừng lại ở cho vay CBCNV. Ngoài ra, trong cho vay CBCNV mức cho vay được xác định dựa trên
thu nhập của người vay. Chính điều này đã hạn chế phần nào khả năng mở rộng TDTD tại các ngân hàng. Bởi lẽ, theo số liệu thống kê 2008, lao động
bình quân trong khu vực Nhà nước là 3.610,5 nghìn người, thu nhập bình quân một tháng của một lao động trong khu vực này là 3 triệu đồng. Tuy
nhiên, những người như giáo viên, bác sĩ hoặc một số người làm trong lĩnh vực khác, thu nhập từ lương thấp nhưng thu nhập làm thêm hợp pháp của họ
khá cao. Như vậy, nếu chỉ dựa trên mặt bằng lương phổ biến của CBCNV một cách chung chung để khống chế mức vay là không hợp lý.
- Yếu tố văn hoá- xã hội Đây là yếu tố có tác động mạnh đến hoạt động tín dụng của ngân hàng,
đặc biệt là hoạt động TDTD. Quy mô hoạt động TDTD tại các ngân hàng chưa cao bắt nguồn từ thói quen, tâm lý của người tiêu dùng. Ví dụ như,
trong cho vay mua nhà thế chấp, hiện nay chưa đến 40 tín dụng nhà ở được cấp qua khu vực ngân hàng chính thức và khu vực chính phủ. Nguồn tài chính
nhà ở chủ yếu là tiết kiệm của chính hộ gia đình và tiền vay từ bạn bè, người thân. Nguồn này chiếm đến 55-60 tổng đầu tư của các hộ gia đình vào lĩnh
vực nhà ở. Các hộ gia đình ít vay ngân hàng xuất phát từ thói quen tâm lý của người Việt Nam là tin tưởng vào họ hàng, bạn bè; mặt khác do thị trường tài
chính cho mục đích tiêu dùng ở nước ta chưa thực sự phát triển. Đối với cho vay qua thẻ, nếu ở nước ngoài tổng doanh số sử dụng thẻ là
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
48
Chuyên đề tốt nghiệp
khong 70 trong khi s dng tiền mặt chiếm tỷ trọng rất thấp. Tại Việt Nam, thanh toán bằng tiền mặt chiếm đến 45 trong bán buôn và 85 trong
bán lẻ. Điều này xuất phát từ thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam và cũng xuất phát từ thực tế là việc sử dụng thẻ ở nước ta còn nhiều bất tiện.
- Yếu tố kinh tế Như đã biết, môi trường kinh tế xã hội gây ra những ảnh hưởng nhất
định tới hoạt động của ngân hàng, thể hiện qua các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát... Năm 2007 là một năm bất thường với
nhiều yếu tố đặc biệt không thuận lợi cho nền kinh tế nước ta. Dịch cúm AH1N1 bùng phát gây tổn thất hàng chục nghìn tỷ đồng; giá dầu, giá thép,
gía vàng trên thế giới... tăng cao gây nên sự biến động về giá cả trong nước. Chỉ số giá tiêu dùng là 7. trong khi tốc độ tăng trưởng nền kinh tế là 5,6
đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như thu nhập của người dân, điều này đã gây ra một số khó khăn nhất định cho hoạt
động ngân hàng. Mặc dù nhu cầu tiêu dùng của người dân vẫn rất cao nhưng do tâm lý e ngại mà kỳ vọng của người dân có giảm sút. Chính vì thế mà tốc
độ tăng trưởng doanh số cho vay và doanh số thu nợ TDTD tại chi nhánh giảm đi .
- Yếu tố cạnh tranh Như đã phân tích ở những phần trên, sự cạnh tranh giữa các NHTM hiện
rất gay gắt. Không chỉ đối mặt với những ngân hàng trong nước mà các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở VN với tiềm lực của mình có thế mạnh vượt
trội hơn hẳn so với chính các NHTM trong nước. Nếu TDTD là hình thức tín dụng mới trong giai đoạn phát triển ban đầu ở nước ta, thì đối với các ngân
hàng nước ngồi, đây là một hình thức phổ biến và phát triển một cách đa dạng.
Nguyên nhân về phía ngân hàng
- Thứ nhất: Hoạt động TDTD tại chi nhánh chưa thực sự được quan
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
49
Chuyên đề tốt nghiệp
tõm v chỳ trng ỳng mc. Hin nay, hầu hết các ngân hàng đều đánh giá mảng cho vay tiêu dùng
trong dân cư là một thị trường đầy tiềm năng nhưng chưa được chú trọng khai thác. Điều này xuất phát từ đặc điểm của những khoản TDTD là quy mô mỗi
hợp đồng nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, chất lượng thơng tin của khách hàng thường khơng cao gây khó khăn cho q trình thẩm định...Tuy
vậy, loại hình tín dụng này thường đem lại nguồn thu nhập cao hơn so với những loại cho vay khác. Cụ thể, lãi suất cho vay tiêu dùng là 0,9tháng,
trong khi lãi suất cho vay khác ở mức thấp hơn. Như vậy nếu quy mô hoạt động TDTD được mở rộng thì sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho ngân hàng.
Mặt khác, mức cho vay xét duyệt trên từng hồ sơ cụ thể không lớn, như vậy có thể phân tán rủi ro và mức độ trách nhiệm cho vay cũng nhẹ hơn. Một lý
do nữa cho thấy TDTD cần được chi nhánh chú trọng đó là :do khách hàng của các NHTM phần lớn là các doanh nghiệp, các sản phẩm cung ứng cho đối
tượng khách hàng hầu như khơng có gì khác giữa các ngân hàng, trong khi đó khách hàng là cá nhân thì rất lớn với nhu cầu đa dạng. Trong mơi trường cạnh
tranh như hiện nay, việc tìm kiếm và thu hút những khách hàng lớn có tiềm lực đến quan hệ với chi nhánh nhằm tạo mối quan hệ thường xun là rất khó,
khơng thể trong ngày một ngày hai, vì các khách hàng thường đã và đang là khách hàng truyền thống tại một số NHTM lớn, có sức cạnh tranh cao. Chính
vì lẽ đó chi nhánh cần phải biết hướng tới đối tượng khách hàng là cá nhân, có như vậy mới phát huy được thế mạnh của chi nhánh. Bởi lẽ địa bàn hoạt động
của chi nhánh rất rộng, thường tập trung ở những nơi dân cư đông đúc như chợ Mơ, khu đô thị mới Định Công, khu vực Thái Hà, Tây Sơn... Hơn nữa,
chi nhánh cần chú trọng đến công tác tiếp thị nhằm tuyên truyền, quảng cáo thông tin của sản phẩm dịch vụ đến tay dân chúng nhiều hơn.
Hiện tại ở chi nhánh, cơng tác tiếp thị vẫn còn chưa có chiều sâu, chưa thực sự đi vào nghiên cứu phân loại thị trường, phân loại khách hàng. Mà đây
Phan Thïy Tâm - KTPT 48A
50
Chuyên đề tốt nghiệp
thc s l vic làm rất cần thiết nhằm nắm bắt kịp thời nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, đặc biệt là người tiêu dùng.
- Thứ hai: Quy trình thủ tục vay vốn còn rườm rà, phức tạp gây tâm lý
e ngại cho khách hàng. Khác với nước ngoài là mọi hoạt động thanh toán được thực hiện chủ
yếu qua ngân hàng. Tại Việt Nam, người dân còn chưa quen thuộc với ngân hàng, họ hầu như khơng thích lệ thuộc vào ngân hàng bởi lẽ người Việt Nam
có tư tưởng dựa vào gia đình, bạn bè và người thân nhiều hơn. Họ cảm thấy tin tưởng và dễ dàng hơn trong việc vay mượn. Chính vì vậy nếu một bộ hồ
sơ được chuẩn bị theo đúng các điều kiện mà khiến cho khách hàng tốn rất nhiều thời gian thì sẽ gây ra tâm lý e ngại cho khách hàng. Tại chi nhánh, quy
trình thủ tục cho vay còn phức tạp, gây trở ngại cho khách hàng khi đến vay vốn tại ngân hàng. Nếu các thủ tục này đơn giản hơn và thơng thống hơn thì
sẽ làm giảm tâm lý e ngại của khách hàng. Nhờ đó, ngân hàng sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn.
- Thứ ba: Công nghệ ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu.
Không chỉ riêng tại chi nhánh mà ngay cả với phần lớn các NHTM trong nước, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý tín dụng nói chung và TDTD
nói riêng còn nhiều hạn chế. Ví dụ như : việc phát hành và sử dụng thẻ tại các NHTM ở nước ta hiện nay là chưa đồng bộ. Hầu như mỗi ngân hàng phát
hành ra loại thẻ riêng của mình và chỉ sử dụng được tại máy của chính hệ thống ngân hàng mình. Chính điều này đã gây khó khăn và bất tiện cho khách
hàng. Trong quản lý tín dụng nói chung và quản lý TDTD nói riêng, việc theo dõi, lưu trữ nợ và các thông tin về khách hàng còn chưa thuận tiện. Do đó gây
khó khăn cho chính ngân hàng trong việc đánh giá và phân loại khách hàng. Tại chi nhánh, chương trình giao dịch khơng đồng bộ mới chỉ có 3 chi
nhánh và trụ sở đã ứng dụng chương trình mới nên mất nhiều thời gian, công sức cho việc xử lý dữ liệu của toàn Chi nhánh gửi lên ngân hàng cấp trên.
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
51
Chuyên đề tốt nghiệp
Hn na, thit bị tin học phục vụ cho việc giao dịch tại các chi nhánh trực thuộc còn thiếu nhiều nhiều thiết bị đã hết thời gian khấu hao, hỏng nhiều.
Ngoài ra, tốc độ đường truyền dữ liệu còn chậm, ảnh hưởng tới hiệu quả giao dịch.
Trong điều kiện môi trường cạnh tranh như hiện nay, công nghệ là yếu tố tăng thế mạnh cạnh tranh cho các ngân hàng. Do vậy, để nâng cao chất lượng
hoạt động, các ngân hàng cần coi trọng việc cơng nghệ hố, hiện đại hố.
- Thứ tư: Trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng.
Cán bộ, nhân viên ngân hàng chính là bộ mặt của ngân hàng. Một đội ngũ cán bộ nhân viên nhiệt tình, có trình độ chun mơn tốt sẽ góp phần nâng
cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Tại chi nhánh, mặc dù đã có những lớp học ngắn ngày bỗi dưỡng nghiệp
vụ, phổ biến các chủ trương, chính sách mới cũng như các thông tin thị trường. Thế nhưng, do đội ngũ cán bộ tín dụng còn mỏng đồng thời số cán bộ
khơng chun ngành Ngân hàng còn chiếm tỷ trọng lớn 54,6, trình độ hiểu biết về ngành Ngân hàng chưa sâu nên hạn chế trong việc triển khai nhiệm vụ.
Từ thực tế trên, việc đào tạo, đào tạo lại cán bộ của Chi nhánh cần được quan tâm trong thời gian tới.
Tóm lại, từ việc phân tích thực trạng mở rộng TDTD tại chi nhánh
NHNo Thăng Long, có thể thấy được rằng, trong tương lai chi nhánh cần có những biện pháp hữu hiệu để phát triển hơn nữa loại hình tín dụng này.
Chương 3 sẽ đề xuất hướng hoàn thiện kế hoạch phát triển thị trường sản phẩm TDTD tại chi nhánh
Phan Thïy T©m - KTPT 48A
52
Chuyên đề tốt nghiệp
CHNG 3. XUT HNG HON THIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
I.
Mục tiêu chung về hoạt động kinh doanh của chi nhành ngân hàng Sacombank Đống Đa trong thời gian tới.
Thực hiện định hướng và mục tiêu chung NH Sài Gòn thương tín cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009, Chi nhánh Sacombank Đống Đa đặt
ra mục tiêu năm 2010 như sau: •
Mục tiêu chung Tiếp tục thực hiện chiến lược kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
đã được NH Sài Gòn thương tín phê duyệt. •
Mục tiêu cụ thể - Tổ chức sắp xếp lại mơ hình chi nhánh cấp 2 theo quy định tại Quyết
định số 454QĐ-HĐQT-TCCB, ngày 24122009 của Chủ tịch Hội đồng quản trị ngõn hàng Sài Gũn thương tín về việc Ban hành Quy chế Tổ chức và Hoạt
động của Chi nhánh Sacombank Đống Đa. - Thành lập mới 2 chi nhánh hoặc Phòng giao dịch.
- Củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống màng lưới đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh doanh năm
2010 của toàn Chi nhánh Sacombank Đống Đa, cụ thể: 1. Nguồn vốn huy động: 8.500 tỷ VNĐ trong đó:
NVHĐ từ dân cư: 3400 tỷ VNĐ NVHĐ từ các tổ chức kinh tế xã hội: 3825 tỷ VNĐ
Nguồn tiền gửi, tiền vay khác: 1275 tỷ VNĐ. 2. Dư nợ: 4.000 tỷ VNĐ, trong đó tỷ lệ cho vay trung dài hạn 40-45
∑ DN
3. Nợ quá hn: di 2
d n
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
53
Chuyên ®Ị tèt nghiƯp
4. Tài chính: Đảm bảo đủ chi lương kinh doanh, ăn ca và thưởng hợp lý đối với
CBCNV. Đảm bảo trích lập đủ các quỹ, thực hiện tốt nghĩa vụ với NSNN và với
Ngân hàng cấp trên.
II.
Đề xuất hướng hoàn thiệt kế hoạch phát triển thị trường sản phẩm TDTD t¹i chi nhánh Đống Đa trong thêi gian tíi.
Hà Nội là trung tâm kinh tế của cả nước, tập trung các ngành kinh tế mũi nhọn, có nhiều doanh nghiệp có khả năng về tài chính, có nhu cầu đầu tư
vốn cao, đồng thời với số lượng dân cư đơng đúc có nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, đây cũng là nơi tập trung các NHTM lớn có thế
mạnh về con người, cơng nghệ, vốn... do đó sự cạnh tranh gay gắt là tất yếu. Với những kết quả đạt được từ việc mở rộng TDTD trong những năm gần
đây, Chi nhánh Đống Đa đã đưa ra những định hướng nhằm phát triển hơn nữa loại hình TDTD nhằm khai thác tiềm năng của loại hình dịch vụ này cũng
như tạo lợi thế cạnh tranh cho chi nhánh. - Phát triển TDTD theo mục tiêu chung về tăng trưởng tín dụng, đó
là phấn đấu tăng trưởng dư nợ phải đi đơi với nâng cao chất lượng tín dụng. - Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo, phát tờ rơi hướng
dẫn thực hiện nghiệp vụ TDTD đến tận tay người tiêu dùng, các cơ quan đơn vị , các tổ chức kinh tế xã hội đóng trên địa bàn cũng như ngoài địa bàn.
- Thực hiện mở rộng TDTD khơng chỉ tại địa bàn mình mà còn phát triển TDTD tại các địa bàn khác nhằm thu hút thêm nhiều khách hàng.
- Thực hiện việc nghiên cứu, phân loại thị trường và phân loại khách hàng nhằm tìm hiểu về nhu cầu của người tiêu dùng, nhằm cung cấp các sản
phẩm TDTD đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của họ. - Tăng cường kiểm tra, giám sát khoản vay, cho vay và thường
xuyên phân tích tình hình tài chính, phân loại khách hàng cũng nh nm bt
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
54
Chuyên đề tốt nghiƯp
kịp thời thơng tin về khách hàng để có thể xử lý khi cần thiết, kiểm soát được vốn vay.
- Mở rộng màng lưới hoạt động để người tiêu dùng có thể hiểu biết và tiếp cận giao dịch với ngân hàng thuận tiện.
Tóm lại, việc đưa ra những định hướng cho việc phát triển loại hình
TDTD thể hiện sự quan tâm của chi nhánh tới hoạt động này. Với sự quyết tâm và nỗ lực của toàn thể CBCNV trong toàn chi nhánh, việc mở rộng
TDTD chắc chắn sẽ thu lại những kết quả tốt đẹp.
1. Đề xuất giải pháp đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển thị trường sản phẩm TDTD tại chi nhánh Đống Đa.

1.1. Xây dựng và hoàn thiện danh mục sản phẩm TDTD


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

×