Tải bản đầy đủ - 25 (trang)
khái quát về thoả ước giải quyết tranh chấp DSU của WTO.

khái quát về thoả ước giải quyết tranh chấp DSU của WTO.

Tải bản đầy đủ - 25trang

NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT VỀ THOẢ ƯỚC GIẢI QUYỂT TRANH CHẤP DSU CỦA WTO


1. khái quát về thoả ước giải quyết tranh chấp DSU của WTO.


Việc giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh giữa các quốc gia là thành viên của WTO sẽ được thực hiện theo các quy định về giải quyết tranh
chấp của tổ chức thương mại thế giới WTO. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước là thành viên WTO được hình thành từ sau vòng
đàm phán Urugoay và chính thức được áp dụng từ tháng 12-1996. Sau thời gian dài đấu tranh giữa các nước thành viên của hiệp định
chung về thuế quan và mậu dịch GATT, vòng đàm phán Urugoay kết thúc với việc thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO và một bộ phận chức
năng quan trọng của WTO là cơ chế giải quyết tranh chấp DSB. việc thông qua “thoả thuận về các quy tắc cụng như thủ tục giải quyết tranh chấp” gọi
tắt là DSU đã tạo nền tảng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên. Thoả ước DSU quy định các phương pháp,
trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, đảm bảo tính cơng bằng, thống nhất, khách quan trong thủ tục giải quyết tranh chấp cũng như đưa ra các biện
pháp đảm bảo thi hành các khuyến nghị, phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp.
2.Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO-DSB
2
WTO không thành lập một cơ quan giải quyết tranh chấp hồn tồn độc lập và tách ròi khỏi cơ cấu của tổ chức chung WTO. khoản 3 Điều IV- Hiệp
định thành lập tổ chức thương mại thế giới gọi tắt là hiệp đinh WTO quy định về cơ cấu của WTO như sau: “khi cần thiết Đại Hội Đồng sẽ được triệu
tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp được quy định trong thoả thuận về giải quyết tranh chấp. Cơ quan giải quyết tranh
chấp có thể có chủ tịch riêng và tự xây dựng ra các quy định về thủ tục mà cơ quan này cho là cần thiết để hoàn thành trách nhiệm của họ”. Như vậy,
Đại Hội Đồng WTO vừa là cơ quan thường trực vừa làcơ quan giải quyết tranh chấp DSB của WTO. Nghĩa là, thành viên của DSB cũng chính là
các đại diện của các nước thành viên trong Đại Hội Đồng. DSB coa một chủ tịch riêng và được hỗ trợ bởi ban thư ký của WTO trong quá trình tiến hành
các thủ tục giải quyết tranh chấp. •
thẩm quyền của DSB
Thành lập ban hội thẩm để giải quyết từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu của nguyên đơn; thành lập và giám sát hoạt động của Cơ quan phúc
thẩm; Thông qua các báo cáo của ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm;
Đảm bảo và giám sát việc thực thi các phán quyết và khuyến nghị của cơ quan nói trên bằng cách cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa hay đình chỉ
thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo theo các hiệp định có liên quan khoản 1 Điều 2 thoả thuận DSU.

Chức năng của DSB
3
Giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên theo những nguyên tắc, trình tự và thủ tục quy định trong DSU, đưa ra quyết định cí
cùng về tranh chấp. đảm bảo thực hiện và giám sát thi hành thoả thuận DSU nhằm tạo dựng
và duy trì một cơ chế giải quyết tranh chấp cơng khai, thống nhất, khách quan, hiệu quả;
Xây dựng, ban hành các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp đảm bảo các nghĩa vụ thực thi thoả thuận DSU.
DSB là cơ quan giải quyết tranh chấp nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình tổ tụng để giải quyết vụ việc mà chỉ tham gia vào giai đoạn đầu
tiên là thành lập ban Hội Thẩm và giai đoạn cuối cùng là thông qua báo cáo,kết luận về giải quyết vụ việc. DSU quy định một hệ thống xét xử hai
cấp: Ban Hội thẩm và Cơ Quan Phúc thẩm. Mọi tranh chấp phát sinh sẽ đựơc giải quyết theo trình tự hai cấp này. DSB có trách niệm lập ra ban hội
thẩm để giải quyết từng vụ việc cụ thể đồng thời DSB sẽ giám sát các hoạt động thông qua báo cáo cuối cùng về giải quyết vụ viẹc của ban hội thẩm.
Nếu có kháng cáo vụ việc sẽ được chuyển lên cơ quan phúc thẩm. Khi báo cáo của ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm được thơng qua nó sẽ có giá trị
pháp lý ràng buộc các bên có liên quan thực thi. Để bảo tính khả thi của các quyết định của mình, DSB có quyền quyết định áp đặt các biện pháp trả đũa
nếu như một bên không chịu thi hành các quyết định của DSB. •
Các cơ quan trực thuộc DSB
Hệ thống các cơ quan giải tranh chấp của WTO được tổ chức theo hai cấp: cấp Ban hội thẩm Panel và cấp cao hơn là Cơ quan phúc thẩm. Hai cơ
quan này đều do DSB lập nên cũng như chịu sự giảm sát của DSB, có nhiệm
4
vụ DSB thực thi các chức năng của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Ban hội thẩm Panel
Theo quy đình của DSU, nếu có u cầu bằng văn bản của bên nguyên đơn, Ban Hội thẩm sẽ đựơc thành lập chậm nhất là vào ngày cuộc họp tiếp
theo của DSB mà tại đó yêu cầu này lần đầu tiên được đua ra như một đề mục của chương trình nghị sự DSB, trừ khi tại cuộc họp đó DSB quyết định
trên cơ sở nhất trí chung không thành lập Ban Hội thẩm khoản 1 điều 6- DSU. Thông thường, khi bên nguyên đơn yêu cầu, một cuộc họp DSB sẽ
được tổ chức trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, với điều kiện là phải thông báo cuộc họp trước 10 ngày. việc quy định ban hội thẩm được
thành lập một cách tự động như vậy nhằm đảm bảo cho quá trình tố tụng được diễn ra nhanh chóng. Đối với vụ kiện có nhiều ngun đơn thì cũng chỉ
có một Ban hội thẩm được thành lập để xem xét những đơn kiện có tính đến quyền của tất cả các nước thành viên có liên quan khoản 1 Điều 9 – DSU.
Nêu có hai hoặc nhiều ban Hội Thẩm được thành lập để xem xét nhưng đơn kiện có liên quan đến cùng một vấn đề thì sẽ cố gắng đến mức cao nhất có
thể để chon các hội thẩm viên chung cho các ban hội thẩm riêng đó khoản 3 Điều 9 – DSU. Điều này một mặt giảm bợt thủ tục và chi phí cho việc thành
lập Ban hội thẩm riêng đó khoan 3 Điều 9 – DSU. Điều này một mặt giảm bớt thủ tục và chi phí cho việc thành lập ban hội thẩm, mặt khác đảm bảo
tính thống nhất, cơng bằng trong xử lý các tranh chấp phát sinh có cùng nội dung.
Về thành phần Ban hội thẩm, theo điều 8 thoả thuận DSU, ban hội thẩm gồm 3 thành viên. Các bên tranh chấp cũng có thể thoả thuận một Ban hội
5
thẩm gồm 5 hội thẩm viên. Các hội thẩm viên được DSB lựa chon trên cơ sở danh sách các chuyên gia do ban thư ký giới thiệu và được thông báo cho
các thành viên của WTO. Để bảo vệ quyền lợi cho các thành viên đang phát triển, DSU quy định
trong vụ tranh chấp xảy ra giữa một nước thành viên phát triển và một nước thành viên đang phát triển, nếu có yêu cầu của nước thành viên đang phát
triển thì ban Hội thẩm sẽ có ít nhất một hội thẩm viên là công dân nước đang phát triển khoản 10 Điều 8.
Trong quá trình tố tụng, các hội thẩm viên phải tuân thủ nguyên tắc làm việc độc lập, công bằng, vô tư, đồng thời phải tuân thủ đúng các quy định
trong các hiệp định của WTO. - Chức năng của ban hội thẩm
Điều 11 – DSU quy định chức năng của Ban hội thẩm là hỗ trợ DSB làm tròn trách nhiệm theo thoả thuận DSU và các hiệp định có liên quan. Cụ thể
là, ban hội thẩm sẽ phải đánh giá một cách khách quan các vấn đề tranh chấp, gồm cả việc đánh giá thực tế vụ việc, khả năng áp dụng, sự phù hợp
của các hiệp định có liên quan và tiến hành nững điều tra khác có thể giúp DSB trong viẹc đưa ra các khuyến nghị hoặc phán quyết được quy định
trong các hiệp định có liên quan. Trong q trình tố tụng, ban hội thẩm sẽ đều đăn tham vấn với các bên tranh chấp và tạo cho họ nhưng cơ hội như
nhau để đưa ra một giải pháp thoả đáng với cả hai bên. Như vậy, có thể thấu ban hội thẩm khơng phải là một cơ quan xét xử như
trọng tài hay toà án. nhiệm vụ của ban hội thẩm chỉ dừng lại ở việc điều tra thực tế, chỉ ra các biện pháp giải quyết khi cần thiết. Báo cáo này khi đựơc
6
DSB thơng qua thì được coi như phán quyết của DSB và có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp, buộc các bên phải thi hành.
- Nguyên tắc làm việc của ban hội thẩm Ban hội thẩm làm việc theo các nguyên tắc quy định trong phụ lục 3 của
thoả thuận DSU, bao gồm: Ban hội thẩm sẽ họp kín. Các bên tranh chấp và bên thứ 3 có quyền lợi
liêm quan sẽ có mặt tại các buổi họp chỉ khi được ban hội thẩm mời trình diện.
Giữ bí mật việc nghị án của ban hội thẩm và những tài liệu được đệ trình. tạo quyền bình đẳng ngang nhau cho các bên trong tranh chấp, và tạo cơ hội
cho bên thứ ba có quan tâm đến vụ tranh chấp trình bày quan điểm của mình.
Cơ quan phúc thẩm
Cơ quan phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai của hệ thống giải quyết tranh chấp. Khác với ban hội thẩm được thành lập để giải quyết theo từng vụ việc
tranh chấp cụ thể sau khi có khiếu nại của một bên tranh chấp, cơ quan phúc thẩm được lập và duy trì hoạt động như một cơi quan thường trực của DSB.
Cơ quan phúc thẩm sẽ xem xét các kháng cáo về báo cáo của ban hội thẩm. điều 17 DSU quy định cơ quan phúc thẩm gồm 7 người và mỗi vụ việc sẽ do
3 người xét xử. DSB sẽ chỉ định người làm việc ở cơ quan phúc thẩm trong nhiệm kì 4 năm và mỗi người có thể tái bổ nhiệm một lần. Tuy nhiên, nhiệm
kỳ của 3 trong số 7 người được bổ nhiệm ngay sau khi hiệp định WTO co hiệu lực sẽ hết hạn sau 2 năm. Ngưòi được bổ nhiệm thay thế một người mà
nhiệm kỳ chưa hết có thể giữ vị thí đó trong thời gian nhiệm kỳ còn lại của
7
người tiền nhiệm. việc quy định như vậy đảm bảo cơ quan phúc ln có sự ln phiên giữa người cụ và người mới, qua đó duy trì được quá trình làm
việc bình thường của cơ quan phúc thẩm. - Thành viên của cơ quan phúc thẩm.
Cũng như các hội thẩm viên, các thành viên cơ quan phúc thẩm phải đáp ứng đày đủ các tiêu chuẩn khăt khe do DSU quy định. khoản 3 điều 17thoả
thuận DSU yêu cầu: Thành viên cơ quan phúc thẩm phải có uy tín, có kinh nghiệm chun
mơn về pháp luật, thương mại quốc tế và những lĩnh vực thuộc diện điều chỉnh của WTO.
Họ không được liên kết với bất kỳ một chính phủ nào. với tư cách là thành viên của cơ quan phúc thẩm họ sẽ đại diện rộng rãi cho tất cả các nước
thành viên WTO. Sẵn sàng tham gia làm việc bất cứ lúc nào. Trong quá trình làm việc, mọi
thành viên đều bình đẳng như nhau. Không giống như ban hội thẩm là thành viên không đựơc là cơng dân của
các nước đang có tranh chấp hay quyền lợi liên quan đến tranh chấp, việc lựa chon ba thành viên để thành lập ban phúc thẩm tuân theo nguyên tắc lựa
chon ngẫu nhiên, tạo cơ hội cho tất cả các thành viên trong cơ quan phúc thẩm được tham gia, bất chấp họ thuộc quốc tịch nào quy tắc 6 - thủ tục
phúc thẩm do cơ quan phúc thẩm soạn thảo. Tuy nhiên, đối với các vụ tranh chấp có thể tạo ra xung đột quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp với một thành
viên trong cơ quan phúc thẩm thì thành viên này khơng được tham gia xem xét vụ việc đó.
8
II. CƠ CHẾ VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 1. Các nguyên tắc giải quyết tranhchấp của WTO
Khi giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên của WTO, DSB phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nhất, đó là ngun tắc
khơng phân biệt đối xử, ngun tắc công khai và thúc đảy cạnh tranh lành mạnh, nguyên tắc bảo hộ thông qua thuế quan, nguyên tắc tiếp cận thị
trường, nguyên tắc bảo hộ và phòng ngừa bất trắc. Ngồi các ngun tắc chung nói trên, khi giải quyết tranh chấp, DSB dựa
trên những nguyên tắc cụ thể sau: - Nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên tranh chấp.
Theo nguyên tắc này các nước thành viên tranh chấp dù lớn hay nhỏ, phát triển, hay chậm phát triển đều bình đẳng như nhau trong việc giải quyết
tranh chấp phát sinh. Nguyên tắc này chi phối tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp: bình đẳng khi tham vấn; bình đẳng khi đưa tranh
chấp ra ban hội thẩm, trong quá trình kháng cáo, khi thi hành khuyến nghị, phán quyết của DSB.
Nguyên tắc bình đẳng cũng chi phối hoạt động của các hội thẩm viên, các thành viên cơ quan phúc thẩm trong quá trình giải quyết tranh chấp các hội
thẩm viên, các thành viên cơ quan phúc thẩm hoàn toàn bình đẳng với nhau trong việc đưa ra ý kiến, quan điểm về các vấn đề cần giải quyết.
- Nguyên tắc bí mật. Các cuộc họp của bản hội thẩm, của cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp
kín, khơng công khai, các bên tranh chấp chỉ được mới tham dự khi cần
9
thiết. Như vậy nội dung các cuộc họp của ban hội thẩm, cơ quan phúc thẩm là bí mật đối với các nước thành viên thư ba. Nguyên tắc bí mật phần nào
cũng thể hiện trong giai đoạn tham vấn, đó là nội dung tham vấn giữa các nước thành viên tranh chấp không được thông báo cho các thành viên WTO
biết. - Nguyên tắc “đồng thuận phủ quyết” hay “đồng thuận nghich”.
Theo Điều 2.4, Điều 6.1, Điều 16.4 và Điều 17.14, việc ra quyết định thành lập ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm đều dựa trên nguyên tắc đồng
thuận phủ quyết hay đồng thuận nghích, nghĩa là trong mọi trường hợp, ban hội thẩm sẽ được thành lập để giải quyết tranh chấp và các báo cáo của
ban hội thẩm, của cơ quan phúc thẩm sẽ được thông qua, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập ban hội thẩm hay không thông
qua các báo cáo này. Điều này dẫn tới việc hầu như ban hội thẩm được thành lập một cách tự động khi có yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn và các
báo cáo cũng đựơc thông qua một cách tự động. Đây cũng là một điểm độc đáo và tiến bộ trong cơ chế giải quyết tranh
chấp cuả WTO so với GATT 1947 trước đây.trong cơ chế của GATT 1947, nguyên tắc đồng thuận được hiểu rằng ban hội thẩm chỉ được thành lập và
một báo cáo chỉ được thơng qua khi có sự nhất trí của tất cả các thành viên trong hội đồng GATT. Vì vây, khi một bên tranh chấp khơng có thiện chí có
thể gây ra tình trạng trì trệ trong việc thông qua do một hay một số bên không chấp nhận những đề xuất trong báo cáo.
-Nguyên tắc đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển và chậm phát triển nhất
10
việc đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển chỉ thể hiện ở chỗ ban thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước này, có thể kéo dài một số thời gian
trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các nước này sẽ được chú ý tói trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh
chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các nước này sẽ được chú ý tới trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp.

2. Quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

khái quát về thoả ước giải quyết tranh chấp DSU của WTO.

Tải bản đầy đủ ngay(25 tr)

×