Tải bản đầy đủ - 25 (trang)
Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm Giai đoạn thi hành phán quyết

Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm Giai đoạn thi hành phán quyết

Tải bản đầy đủ - 25trang

Trong bất cứ thời điểm nào, ban hội thẩm cũng có thể đua ra câu hỏi đối với các bên và yêu cầu họ giải thích hoặc ngay trong cuộc họp hoặc bằng
văn bản. Để đảm bảo tính minh bạch, các bài trình bày, bác bỏ và tuyên bố sẽ
được đọc tại phiên họp với sự có mặt của các bên liên quan.
Giai đoạn xét xử tại Ban Hội thẩm gồm các bước sau:
Bước 1: trước phiên họp đầu tiên Bước 2: Xem xét của ban hội thẩm
Bước 3: tham khảo ý kiến của các chuyên gia Bước 4. lập báo cáo sơ bộ
Bước 5. lập báo cáo cuối cùng Bước 6: thông qua báo cáo cuối cùng

c. Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm


Chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền kháng cáobáo cáo của ban hội thẩm. Tuy nhiên, bên thứ 3 đã được tham gia vào giai đoạn xét xử tại ban
hội thẩm cũng có thể đệ trình văn bản đến cơ quan phúc thẩm và sẽ được tạo cơ hội được trình bày các vấn đề liên quan đến lợi íchcủa mình gắn với tranh
chấp. Thoả thuận DSU quy đỉnh rằng kháng cáo chỉ cóa thể được thực hiện
trước DSB Phạm vi xem xét kháng cáo của cơ quan phúc thẩm sẽ được giới hạn ở
những vấn đề pháp luật được đề cập tới trong báo cáo của ban hội thẩm chứ
16
không mở rộng phạm vi vụ tranh chấp. Cơ quan phúc thẩm sẽ đề cập đến từng vấn đề được nêu ra trong suốt quá trình tố tụng phúc thẩm.
thời hạn xem xét kháng cáo không quá 60 ngày kể từ ngày một bên tranh chấp chính thức thơng báo quyết định kháng cáo của mình tới ngày cơ quan
phúc thẩm chuyển báo cáo của mình lên DSB. Khi cơ quan phúc thẩm thấy mình khơng thể cung cấp báo cáo trong vòng 60 ngày cơ quan này sẽ thông
báo cho DSB bằng văn bản lý do trì hỗn cùng với khoảng thời gian dự kiến sẽ đề trình báo cáo. Tiến trình này không được vượt quá 90 ngày trong bất
cứ trường hợp nào. Báo cáo của cơ quan phúc thẩm đã đựơc DSB thông qua trở thành phán
quyết của DSB và các bên tranh chấp phải thi hành. Khơng có bên nào có quyền kháng cáo báo cáo của cơ quan phúc thẩm và phán quyết của DSB.

d. Giai đoạn thi hành phán quyết


Theo quy định của thoả thuận DSU, việc thi hành khuyến nghị và phán quyết của DSB là bắt buộc để đảm bảo giải quyết tranh chấp hữu hiệu.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông qua báo cáo của ban hội thẩn hoặc cơ quan phúc thẩm, DSB sẽ tiến hành một cuộc họp để xem xét vấn đề
thi hành khuyến nghị và phán quyết của DSB. tại cuộc họp này bên thua kiện phải thồn báo cho DSB về các dự định của mình đối với việc thực hịên
các khuyến nghị và phán quyết của DSB. Nếu không thế thực hiện ngay lập tức các khuyến nghị và phán quyết của
DSB thì thành viên liên quan sẽ có một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện.
17
DSB giám sát việc thực hiện các khuyến nghị hoặc phán quyết đã được thông qua. bất kỳ môt nước thành viên nào cũng có thể nêu vấn đề thực hiện
các khuyến nghị hoặc phán quyết tại DSB vào bất cứ thời điểm nào. trừ khi DSB quyết định khác, vấn đề thực hiện các khuyến nghị hoặc phán quyết sẽ
được đưa vào chương trình nghị sự tại cuộc họp của DSB sau 6 tháng kể từ ngày ấn định khoảng thời gian hợp lý nêu trên và sẽ vẫn nằm trong chương
trình nghị sự của DSB cho tới khi vấn đề được giải quyết. Ít nhất 10 ngày trước mỗi cuộc họp của DSB, nước thành viên thi hành phải cung cấp cho
DSB văn bản báo cáo tình hình tiến triển việc thực hiện các khuyến nghị hoặc phán quyết này.
Trong trường hợp một nước đang phát triển khởi xướng vụ kiện, thì trong quá trình giám sát thi hành phán quyết, DSB có những biện pháp thích hợp
để thực hiện chế độ ưu đãi đối với nước đang phát triển. Liên quan đến vấn đề này, DSB không chỉ chú ý đến phạm vi thương mại của biện pháp bị
khiếu nại, mà còn tính đến ảnh hưởng cảu biện pháp đó đối với kinh tế của nước đang phát triển này.
Khi hết thời hạn thi hành phán quyết mà bên vi phạm đã thua kiện không chịu điều chỉnh biện pháp thương mại bị khiếu nại cho phù hợp với các
nghĩa vụ theo các hiệp định thoả thuận có liên quan của WTO thì bên thắng kiện có thể u cầu bồi thường hoặc tạm hỗn thi hành các nhượng bộ hoặc
những nghĩa vụ khác. Bồi thường hoặc áp dụng biện pháp trả đũa chỉ là biện pháp giải quyết không được thi hành trong một “khoảng thời gian hợp lý”.
Như vậy, trọng tâm của thoả thuận của DSU là việc thi hành các nhượng bộ không được coi là biện pháp giải quyết thay thế cho việc thực hiện các
khuyến nghị và phán quyết của DSB.
18
Theo thoả thuận DSU, bồi thường phảỉ mang tính chất tự nguyện và phù hợp với các hiệp định thuộc diện điều chỉnh của thoả thuận DSU. Bên khởi
kiện có thể yêu cầu được bồi thường ngay khi thời hạn thi hành các phán quyết đã hết mà phán quyết không được thi hành. Khi được yêu cầu bồi
thường, bên thua kiện phải đàm phán với bên thắng kiện về mức bồi thường. Khơng có quy định nào hạn chế lĩnh vực có thể bồi thường, do vậy, các bên
hữu quan có thể thương lượng để bồi thường theo lĩnh vực hay theo các hiệp liên quan.
Theo khoản 2, Điều 22 của thoả thuận DSU quy định nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày kể hết hạn thi hành phán quyết mà các bên không đạt được
thoả thuận về bồi thường thoả đáng, bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép áp dụng biện pháp trả đũa bằng cách tạnm hoãn thi hành những
nhượng bộ hoặc những nghĩa vị khác theo các hiệp định của WTO đối với bên kia. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày khi hết thời hạn thi hành phán
quýêt, DSB sẽ cho phép bên thắng kiện tiến hành trả đũa, trừ phi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận bác bỏ yêu cầu trả đũa.
Như vậy, biện pháp trả đũa chỉ được phép thực hiện trong trường hợp nước thành viên vi phạm đã thua kiện nhưng không thực hiện khuyến nghị,
phán quyết và hai bên không thể đồng ý với nhau về mức độ bồi thường. Biện pháp trả đũa chỉ là biện pháp tạm thời và chỉ được áp dụng cho đến khi
bên thua kiện đã loại bỏ các biện pháp trái với hiệp định của WTO, tức là cho đến khi bên thua kiện đã thi hành đầy đủ phán quyết của DSB.

3. Thủ tục trọng tài.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm Giai đoạn thi hành phán quyết

Tải bản đầy đủ ngay(25 tr)

×