1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Chủ thể hợp đồng kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (400.79 KB, 84 trang )


kinh tế, chúng ta cần phải xem xét đến cả những qui định sau:

2.2. Chủ thể hợp đồng kinh tế


Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện nay quy định chủ thể tham gia hợp đồng một cách bắt buộc và rất hạn chế . Đó là, hợp đồng kinh tế luôn phải có ít
nhất một bên chủ thể là pháp nhân. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa các chủ thể kinh doanh nhằm mục
đích lợi ích kinh doanh. Mà tất cả các chủ thể kinh doanh hoạt động sản xuất kinh doanh cũng chỉ vì mục đích đó .Thế thì tại sao một số chủ thể khi xác lập
các quan hệ hợp đồng vì mục đích lợi ích kinh doanh laị không đợc coi là quan hệ hợp đồng kinh tế? Đó là trờng hợp quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể cá
nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nh doanh nghiệp t nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nh doanh nghiệp t
nhân, công ty hợp danh. v.v... Thực tế đó đã không đợc công nhận trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế,
Vậy thì họ phải đợc coi nh là chủ thể của hợp đồng kinh tế. Mặt khác, chúng ta vẫn lấy chỉ tiêu chỉ mục đích kinh doanh trong hợp đồng kinh tế để phân biệt
với hợp đồng dân sự. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ công nhận một hợp đồng là hợp đồng kinh tế khi có mục đích kinh doanh và ít nhất phải có một bên là
pháp nhân. Quy định nh vậy đã dẫn đến đối tợng điều chỉnh của pháp lệnh hợp đồng kinh tế bị thu hẹp, một số hợp đồng mang bản chất kinh tế nhng lại bị
loại khỏi phạm vi điều chỉnh của văn bản này. Nh vây, quy định về chủ thể trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế nh hiện
nay là không phù hợp nữa. Bởi vì xoay nỊn kinh tÕ hiƯn nay, mäi chđ thĨ kinh doanh đều bình đẳng trớc pháp luật và nó không phụ thuộc vào quy mô, hình
thức tổ chức. Hơn nữa, việc giải quyết tranh chấp xảy ra trong quan hệ hợp đồng giữa
các chủ thể là cá nhân có đăng ký dinh doanh vì mục đích kinh doanh bằng thủ tục tố tụng dân sự thực ra không đợc thích hợp cho lắm.
Vì vậy, việc sửa đổi quy định về chủ thể hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế cũng rất cần thiết.
69
2.3. Thủ tục ký hợp đồng kinh tế Pháp luật hợp đồng kinh tế hiện nay có quy định hai hình thức ký kết hợp
đồng kinh tế là ký kết theo thủ tục trực tiếp và ký kết theo thủ tục gián tiếp. Trong đó vấn đề quy định thủ tục ký kết gián tiếp hợp đồng kinh tế trong pháp
lệnh còn có nhiều điều cần phải sửa đổi. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế không quy định sự ràng buộc trách nhiệm
của các bên trong hình thức ký kết hợp đồng gián tiếp khi một trong các bên tham gia hợp đồng đề nghị hợp đồng chào hàng hoặc đặt hàng và thời hạn trả
lời để bên kia xem xét là có quyết định hợp đồng hay không. Trong thời hạn lập hợp đồng đó chỉ ràng buộc pháp lý đối với bên đề nghị là không đợc đề nghị lập
hợp đồng với một ngời thứ ba nhng lại không quy định trách nhiệm đối với bên đề nghị hợp đồng trong trờng hợp ngợc lại nếu có. Tức là trong trờng hợp bên
đề nghị hợp đồng tuỳ tiện bỏ lời đề nghị hợp đồng hoặc trong cùng thời hạn quy định trong đề nghị hợp đồng mà họ có thể gửi nhiều lời đề nghị tới các đối tác
khác thì trách nhiệm của họ nh thế nào? Điều này cha đợc đề cập tới trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Một vấn đề nữa là thời điểm hình thành hợp đồng kinh tế trong thủ tục gián tiếp. Tại điều II pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: hợp đồng kinh tế
đợc coi là đã hình thành và có hiệu lực từ thòi điểm các bên nhận đợc giao dịch, thể hiện sự thống nhất những điều khoản chủ yếu của hợp đồng, trừ trờng hợp
pháp luật có quy định khác. Quy định nh vậy cũng cha đợc chặt chẽ lắm. Bởi vì, trong thực tế có thể xảy ra một số trờng hợp các bên đã thoả thuận đợc các điều
khoản chủ yếu trong hợp đồng nhng lại có một số điều khoản tuỳ nghi lại cha thống nhất đợc. Trong khi đó, pháp luật quy định những hợp đồng kinh tế đó đã
phát sinh hiệu lực pháp luật. Điều này gây lúng túng cho các bên khi họ không biết giải quyết nh thế nào nếu không thống nhất đợc các điều khoanr tuỳ nghi.
Vì thế nó ảnh hởng tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cảu các bên. Bên cạnh đó, vấn đề bác bỏ đề nghị hợp đồng và thời điểm bác bỏ đề
nghị của bên đề nghị nh thế nào cho hợp lý khi mà bên đợc đề nghị đã chấp nhận đề nghị hợp đồng.
70
Nh vậy, về trình tự thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Hiên nay, trong
bộ luật dân sự đã có quy định rất rõ ràng và chặt chẽ về thủ tục ký kết hợp đồng dân sự. Từ đó, nên chăng lấy những quy địh đó để áp dụng cho việc sửa đổi
trình tự thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Theo tôi, vấn đề này có thể quy định nh sau:
- Sau khi gửi lời đề nghị cho bên kia, bên đề nghị phải có nghĩa vụ chờ bên kia trả lời trong thời hạn mà bên đề nghị đa ra hoặc do hai bên tự thoả
thuận. Trong thời gian chờ bên kia thì bên đề nghị không đợc mời ngời thứ ba giao kết hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.
- Bên đề nghị có quyền rút lại lời đề nghị khi bên đợc đề nghị cha nhận đợc lời đề nghị, hết thời hạn trả lời đề nghị mà bên đợc đề nghị cha trả lời hoặc
khi có thoả thuận trong lời đề nghị. - Nếu sau thời hạn nói trên bên đợc đề nghị mới trả lời, đa ra lời chấp
nhận hoặc thêm những nội dung đề nghị mới nếu có thì lời chấp nhận này có thể coi nh một lời đề đối với bên kia.
- Sự im lặng của bên đợc đề nghị sẽ không đợc coi là chấp nhận ký kết, nếu các bên không có thoả thuận khác.
- Thời điểm hợp đồng kinh tế có hiệu lực là thời điểm bên đề nghị nhận đợc dự thảo đã đợc chấp nhận.
2.4. Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế Điều 5 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chỉ quy định ba biện pháp bảo đảm
thực hiện hợp đồng kinh tế: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản và bảo lãnh tài sản. Cũng vấn đề này, trong Bộ luật dân sự quy định đầy đủ, rõ ràng và đa dạng hơn.
Ngoài ba biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì trong Bộ luật dân sự còn có các biện pháp bảo đảm khác nh đặt cọc, ký c-
ợc, ký gửi. Vấn đề muốn nói ở đây là các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng càng đa dạng thì việc xác lập các loại hợp đồng kinh tế cũng đợc diễn ra
nhiều hơn và vì thế sẽ giúp cho các chủ thể kinh tế hoạt động một cách năng động hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì thế nên
71
chăng trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải đa dạng hoá các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế.
Một vấn đề nữa là thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế chỉ là các điều khoản tuỳ nghi: Các bên ký kết hợp đồng kinh tế
có quyền thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh tài sản theo quy định của pháp
luật. Điều đó có nghĩa là các bên có quyền thoả thuận và chỉ khi nào thoả thuận đợc với nhau thì mới là nộ dung của hợp đồng. Tuy nhiên khi đã là nội
dung của hợp đồng, pháp luật hợp đồng kinh tế lại không quy định rõ một nội dung cũng nh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ bảo đảm thực
hiện hợp đồng này. Đây là một vấn đề đang cã nhiỊu tranh c·i hiƯn nay. V× vËy, trong viƯc sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần phải làm rõ nội dung cũng
nh quyền hạn và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng kinh tế trong vấn đề này, chẳng hạn, khi một bên không thực hiện hợp đồng kinh tế nh đã thoả thuận
thì bên bị vi phạm có quyền sở hữu phần tài sản đợc bảo đảm của bên kia theo tỷ lệ thiệt hại gánh chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra.
2.5. Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế Khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế về mức tiền phạt và tiền
bồi thờng thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra là cha phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Trong Điều 378 Bộ luật dân sự quy định mức phạt tiền không quá 5 giá trị phần nghĩa vụ vi phạm. Còn trong Điều 228 Luật thơng mại quy định mức
tiền phạt do các bên thoả thuận nhng không quá 8 giá trị phần nghĩa vụ vi phạm.
Nh thế, so sánh với hai nguồn luật trên thì mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng kinh tế nên chăng quy định theo hớng của Luật thơng mại là hợp lý
hơn ®èi víi nỊn kinh tÕ thÞ trêng hiƯn nay. Cơ thể là: Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng không quy định thì mức tiền phạt không quá 8 giá trị phần nghĩa vụ
vi phạm.
72
Tại khoản 1, Điều 29 có ghi: Các bên phải chịu trách nhiệm tài sản trực tiếp với nhau về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng kinh
tế. Đồng thời tại Điều 5 pháp lệnh hợp đồng kinh tế lại thừa nhận bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, tức là khi hợp đồng kinh tế bị vi
phạm thì ngời nhận bảo lãnh phải chịu trách nhiệm tài sản đối với ngời bị vi phạm do hành vi vi phạm của ngời đợc bảo lãnh gây ra. Rõ ràng, đây không
phải hai bên chịu tài sản trực tiếp với nhau mà là chịu trách nhiệm tài sản thuộc về ngời thứ ba. Nh vậy, tại Điều 29 và Điều 5 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã
mâu thuẫn nhau. Vì thế, trong Điều 29 nên có mở ngoặc trừ trờng hợp có bảo lãnh của ngời thứ ba
2.6. Hợp đồng kinh tế vô hiệu Để xem xét tính vô hiệu của hợp đồng ta phải xem xét tới vấn đề có hiệu
lực của hợp ®ång. 2.6.1. HiƯu lùc hỵp ®ång
HiƯu lùc hỵp ®ång kinh tế cha đợc quy định rõ ràng trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế, mà chỉ đợc thể hiện gián tiếp qua các quy định về hợp đồng vô
hiệu theo Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã dẫn Việc quy định các điều kiện để hợp đồng kinh tế có hiệu lực sẽ làm cho
các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng ít mắc sai lầm, đồng thời cũng giúp cho các cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp xảy ra nếu có đực dễ dàng hơn và nhanh hơn. Vì vậy, cần phải có một sự quy định cụ thể về ®iỊu kiƯn cã hiƯu lùc cđa
hỵp ®ång kinh tÕ trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn nh một số điều kiện sau.
- Hợp đồng có nội dung phù hợp với pháp luật đạo đức và trật tự xã hội. - Chủ thể tham gia hợp đồng phải đủ ®iỊu kiƯn theo quy ®Þnh cđa phap
lt. - ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế hoàn toàn tự
nguyện. - Hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
73
- Hợp đồng chỉ có thể sửa đổi hoặc hỷ bỏ, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trờng hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác ..
- Có nh vậy thì việc xử lý hợp đồng vô hiệu cũng dễ dàng hơn. 2.6.2. Xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
Tại điểm C khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: thiệt hại phát sinh các bên phải chịu Quy định nh trên là không đợc hợp lý đối
với một số trờng hợp nh hợp đồng đợc ký kết khi bị lừa dối, gian lận của một bên tham gia. Trong trờng hợp này hợp đồng kinh tế đợc coi là vô hiệu nh vậy
các thiệt hại phát sinh từ hợp đồng đợc xử lý nh thế nào? Trách nhiệm bồi thờng thiệt hại rõ ràng thuộc về bên có lỗi gây ra sự vô hiệu của hợp đồng. Chính vì
thế cần phải có sự sửa đổi cho phù hợp vấn đề xử lý trách nhiệm tài sản trong tr- ờng hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu. Chẳng hạn: Bên có lỗi trong việc ký kết hợp
đồng kinh tế vô hiệu phải chịu mọi thiệt hại phát sinh và phải bồi thờng thiệt hại cho bên bị thiệt hại.
Mặt khác việc xử lý tài sản trong trờng hợp tài sản không còn để thanh toán hoặc đối tợng của hợp đồng kinh tế vô hiệu phải đợc tính vào thời điểm
nào? Đây cũng là vấn đề đang đợc quan tâm hiện nay. Chính vì vậy cần phải xác định có giá trị tài sản đợc tính vào thời điểm nào khi hợp đồng kinh tế vô
hiệu. Nh vậy, việc xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu cũng cần phải có sự bổ sung
và sửa đổi. Từ những quy định trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện nay nó đã
không đáp ứng đợc hết những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó những quy định trong luật thơng mại lại đáp ứng đợc điều kiện hiện nay của
pháp lệnh hợp đồng kinh tế khi nó chỉ là một loại của hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, sự cần thiết để đa một văn bản pháp lệnh hợp đồng kinh tế lên thành một văn bản có giá trị cao hơn là một điều tất yếu. Điều đó nhằm tách
biệt các văn bản pháp luật có giá trị cao để điều chỉnh trong các lĩnh vực riêng biệt và nhằm tránh sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật.
74
Trên đây là một số kiến nghị của tôi về việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế. Sau đây là một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc ký kết và thực
hiện hợp đồng thuê nhà xởng tại Công ty quan hệ quốc tế - đầu t sản xuất.
3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc ký kết vàa thực hiện hợp đồng thuế nhà xởng tại Công ty quan hệ quốc tế. Đầu t sản xuất CIRI
Sau khi nghiên cứu và xem xét về hợp đồng thuê nhà xởng tại Công ty, tôi mạnh dạn đa ra một số kiến nghị sau:
3.1. Công tác ký kết hợp đồng Hợp ®ång kinh tÕ sau khi ký kÕt sÏ ph¸t sinh hiệu lực và ràng buộc pháp
lý giữa hai bên tham gia. Công ty phải coi trọng hơn nữa công tác chuẩn bị cho việc ký kết từng loại hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng thuê nhà xởng nói
riêng, tránh tình trạng cha có sự chuẩn bị chu đáo đã tiến hành ký kết hợp đồng sau đó lại phải sửa lại. Điều đó sẽ gây nên nhiều rắc rối, phức tạp và lại tốn kém
cả về thời gian lẫn tiền bạc.
Hiện nay, Công ty đã soạn thảo một hợp đồng mẫu về việc thuê nhà x- ởng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc soạn thảo hợp đồng chính thức. Tuy nhiên,
các thủ tục chuẩn bị đàm phán và đám phán khi ký kết hợp đồng là rất quan trọng, nó ảnh hởng trực tiếp tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty. Bởi giai đoạn này là tiền đề tạo ra sự thuận lợi cho quá trình thực hện hợp đồng sau này. Hơn nữa, hợp đồng thuê nhà xởng không những xác lập quan
hệ hợp tác sản xuất kinh doanh mà nó còn liên quan tới vấn đề quyền sở hữu, quyền sử dụng nữa. Từ đó, sẽ dẫn tới các vấn đề khác nh môi trờng, trật tự an
ninh. trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Chính vi thế, trong công việc tìm hiểu, nghiên cứu thị trờng thuê mua, thu thập thông tin từ phía cho thuê là rất quan trọng trong công tác ký kết hợp
đồng thuê nhà xởng tại Công ty. Công ty nên đẩy mạnh hơn nữa trong việc xác lập quan hệ kinh tế với đối tác dựa trên quan hệ lâu năm và uy tín của nhau để
đảm bảo cho việc ký kết cũng nh việc thực hiện hợp đồng sau này.
3.2. Công tác thực hiện hợp đồng Công ty nên tổ chức chặt chẽ hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, tạo sự liên kết giữa các phòng ban nghiệp vụ, phân xởng, cơ sở sản xuất của Công ty để bảo đảm cho tiến độ thực hiện hợp đồng. Trong quá trình thực
75
hiện, các bộ phận phải thờng xuyên liên kết với nhau để thực hiện đúng các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tránh những phát sinh không đáng có nh
vi phạm hợp đồng ,đồng thời đẩy nhanh tiến độ cho việc thực hiện hợp đồng nhằm phục vụ mục đích kinh doanh. Bởi việc xác lập quan hệ hợp đồng thuê
nhà xởng của Công ty là nhằm phục vụ cho các công đoạn sản xuất kinh doanh của Công ty sản xuất, lắp ráp che gắn máy, ô tô. trong tiến trình hoạt động
kinh doanh của Công ty.
Chính vì lý do đó mà việc thực hiện tốt công tác thực hiện hợp đồng thuê nhà xởng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty. Nếu trong quá trình thực hiện
có xảy ra các tranh chấp thì Công ty cần phải tìm ra những biện pháp nhanh chóng tối u nhất để giải quyết khắc phục những khó khăn đó một cách nhanh
nhất, hợp lý nhất và hữu hiệu nhất. Các phơng án giải quyết đó nên dựa trên tinh thần tự nguyện hợp tác, xây dựng và thiện chí là chính, tránh tình trạng phải nhờ
đến sự giải quyết của trọng tài hoặc toà án.
3.3. Kiến nghị về phía các cán bộ nghiệp vụ Sự thành công hay thất bại trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng
kinh tế nói chung và hợp đồng thuê nhà xởng nói riêng là do chính những con ngời đã trực tiếp tiến hành trong công tác ký kết và thực hiện hợp đồng.
Bởi, trình độ năng lực của những ngời này sẽ thể hiện rõ trong chất lợng của công tác ký kết và thực hiện hợp đồng, nó đợc thể hiện nh việc đàm phán
nhanh, thực hiện tốt những gì mà thuộc về trách nhiệm của mình liên quan tới việc xác lập hợp đồng.
Muốn có đợc điều đó thì Công ty phải có những chính sách, đầu t cụ thể nh: khuyến khích, động viên cán bộ công nhân viên của Công ty trực tiếp và
liên quan đến công tác ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế ở Công ty. Trong đó, đề ra những tiêu chuẩn khen thởng, định mức vật chất cần thiết cho mỗi
mức độ tiêu chuẩn mà cán bộ công nhân viên đạt đợc, bện cạnh đó cũng có những quy định khắt khe về kỹ thuật, hình phạt bằng vật chất đối với những cán
bộ công nhân viên không thực hiện tốt nhiệm vụ đợc giao trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.
76
Công ty nên thờng xuyên cử cán bọ đi học các lớp bồi dỡng, nhằm đào tạo và nâng cao kiến thức nghiệp vụ, chuyên môn phục vụ cho công tác ký kết
và thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, cũng phải thờng xuyên đào tạo, bồi dỡng nâng cao tay nghề, bậc thợ cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty, nhằm góp
phàn thực hiện các nhu cầu hoạt động kinh doanh của Công ty.

3.4. Kiến nghị với Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (84 trang)

×