1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (488.05 KB, 85 trang )


Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN


4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên 4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hố - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh Thái Nguyên và vùng Việt Bắc. Trung tâm
thành phố cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Tây Bắc. TP Thái Ngun có tổng diện tích tự nhiên là 17.707,52 ha, ranh giới hành chính như sau:
- Phía Đơng giáp huyện Phú Bình; - Phìa Tây giáp huyện Đại Từ;
- Phía Nam giáp thị xã Sơng Cơng; - Phìa Bắc giáp huyện Phú Lương, Đồng Hỷ;
Thành phố có vị trí chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Là trung tâm giao lưu văn hoá của vùng Việt Bắc, là đầu mối giao thông trực tiếp liên hệ giữa
các tỉnh đồng bằng nhất là thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang.
Như vậy vị trí địa lý của thành phố Thái Nguyên rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình thành phố Thái Nguyên được coi như miền đồng bằng riêng của tỉnh Thái Nguyên. Đây là miền có độ cao thấp nhất, ruộng đất tập trung ở
hai bên bờ sông Cầu và sơng Cơng dược hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này. Tuy nhiên vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa
mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích đất dốc tụ. Khu vực trung tâm thành phố là tương
đối bằng phẳng, địa hình còn lại chủ yếu là đồi bát úp càng về phía Bắc thành phố thì càng nhiều đồi núi cao. Nhìn chung địa hình thành phố khá đa dạng
phong phú, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp phù hợp với kinh tế trang trại kết hợp giữa đồi rừng, cây ăn quả và các 42
loail cây công nghiệp khác như chè, các loại cây lấy gỗ. Đăc biệt phần lớn có độ dốc nhỏ hơn 8
0+
rất thích hợp với cây lúa, cây hàng năm. Sơng đại hình cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến việc phát triển cơ sở hạ tầng như: giao thơng,
thuỷ lợi vì vốn đầu tư u cầu lớn. 4.1.1.3. Khí hậu, thuỷ văn
+ Đặc điểm khí hậu: TP.Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đơng Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới, gió mùa có mùa đơng
lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt.
Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.617 giờ. Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5
C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 là 28,5 C,
thấp nhất là vào tháng 1 là 15,5 C, lượng mưa trung bình hàng năm 2025,3
mm lượng mưa phân bố khơng đều theo khơng gian và thời gian, có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô, về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa
chiếm 80 tổng lượng mưa trong năm. Thành phố có độ ẩm khơng khí cao, độ ẩm trung bình năm là 82. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 gió Đơng Nam
chiếm ưu thế tuyệt đối, nống ẩm mưa nhiều. Mùa đông từ tháng11 đến tháng 3, gió Đơng Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít thời tiết khô hanh.
+ Thuỷ văn, nguồn nước: Trên địa bàn TP có sơng Cầu chạy qua địa bàn, là ranh giới hành chính tự nhiên với huyện Đồng Hỷ, con sông này bắt
nguồn từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sơng mở rộng từ 70 - 100 m. Về mùa lũ lưu lượng đạt 3500 m
3
giây, mùa kiệt 7,5 m
3
giây.Nước sông Cầu được dùng trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Tuy nhiên những năm gần đây, về mùa cạn nước chảy
qua TP. Thái Nguyên đã bị nhiễm bẩn do nước thải của các khu công nghiệp trong vùng. Nhưng khi lượng nước sơng nhiều lên vào mùa lũ thì nồng độ các
chất hố học khơng vượt q tiêu chuẩn quy định. Sông Công chạy qua địa bàn TP là 15 km, nó được bất nguồn từ vùng núi Ba Lá thuộc huyện Định Hố. Lưu
vực sơng này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ lưu lượng đạt 1.880 m
3
giây, mùa kiệt 0,32 m
3
giây. Đặc biệt trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc nhân tạo trên trung lưu sơng Cơng, có khả năng trữ nước
vào mùa mưa lũ và điều tiết trong mùa khô hạn theo ý muốn của con người. 43
4.1.1.4. Địa hình-địa chất Địa hình: TP.Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng gồm bốn nhóm
hình thái địa hình khác nhau như sau: - Địa hình đồng bằng:
+ Kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ có diện tích khơng lớn với độ cao địa hình 10- 15m.
+ Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20- 30m và phân bố dọc hai
con sông lớn là sông Cầu và sông Công. + Các kiểu đồng bằng còn lại phân bố rải rác ở độ cao lớn hơn.
- Địa hình gò đồi được chia thành ba kiểu: + Kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trunh bình, dạng bát úp với độ cao tuyệt
đối 50- 70m. + Kiểu cảnh quan đồi cao đỉnh bằng hẹp, độ cao tuyệt đối phổ biến từ
100- 125m. + Kiểu địa hình đồi cao sườn lồi, thẳng, đỉnh nhọn, hẹp, kéo dài dạng
dãy, độ cao phổ biến từ 100- 150m. - Địa hình núi thấp có diện tích chiếm tỉ lệ lớn, hầu như chiếm chọn
vùng Đơng Bắc của tỉnh. Địa hình núi thấp được cấu tạo bởi năm loại đá chính: Đá vơi, đá trầm tích biến, đá bazơ và siêu bazơ, đá trầm tích phun trào
và đá xâm nhập axit.
- Địa hình nhân tác ở Thái Ngun chỉ có một kiểu là các hồ chứa nhân tạo, các hồ lớn như hồ Núi Cốc, hồ Cây Si…Uỷ ban nhân dân thành phố Thái
Nguyên, 2007.[] Như vậy, mặc dù nằm trong vùng Trung du miền núi nhưng địa hình
TP.Thái Ngn khơng phức tạp so với các huyện, thị khác trong Tỉnh và các tỉnh khác trong vùng. Mặt khác, phần lớn diện tích của TP là các kiếu cảnh
quan đồi núi chưa có đơng dân cư sinh sống tạo điều kiện thuận lợi để qui hoạch các khu xử lí, các nhà máy chế biến rác thải phát sinh trên địa bàn TP.
- Địa chất: TP. Thái Nguyên bao gồm các loại đất chính sau: + Đất phù sa: Diện tích là 3.623,38 ha chiếm 20,46 tổng diện tích tự
nhiên DTTN, trong đó có các loại đất: Đất phù sa khơng được bồi hàng 44
năm, trung tính ít chua có diện tích 3.125.35 ha chiếm 17,65; đất phù sa không được bồi hàng năm chua, glay yếu có diện tích 100,19 ha chiếm
0,56; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính, ít chua có diện tích 397,84 ha chiếm 2,25. Loại đất này rất thích hợp trồng lúa và hoa mầu.
+ Đất bạc màu: Diện tích là 1.147, 88 ha chiếm 6,48 tổng DTTN trong đó gồm các loại đất : Đất bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm
Feralitic trên nền cơ giới nặng, nhẹ, trung bình có diện tích 1.088,68 ha chiếm 6,15 và đất dốc tụ bạc màu có sản phẩm Feralit diện tích 59,2 ha chiếm
0,33 thích hợp với trồng lúa- màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
+ Đất xám Feralit: Diện tích 7,614,96 ha chiếm 43 tổng DTTN trong đó gồm các loại đất: Đất xám Feralit trên đá cát có diện tích 3.653,3 ha chiếm
20,63; đất xám Feralit trên đá sét có diện tích 3.178,76 ha chiếm 17,95; đất xám Feralit màu nâu vàng phát triển trên phù sa cổ có diện tích 782,9 ha
chiếm 4,42. Đất này thích hợp trồng cây gây rừng, trồng chè, cây ăn quả, cây hàng năm.
4.1.1.5. Các nguồn Tài nguyên
- Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên của TP.Thái Nguyên là 18.970 ha, nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, xung quanh được bao bọc bởi
hai con sơng là sơng Cầu và sơng Cơng nên có địa hình tương đối bằng phẳng so với các tỉnh xung quanh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, với độ
cao khoảng 10-20m trên mực nước biển. Thành phố có một hệ thống đê và các tuyến đường đã được tôn cao để ngăn lũ và bảo vệ. Ngoài ra, khu vực phụ
cận gồm các huyện Phổ Yên, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ, huyện Phú Bình chủ yếu là đất nơng nghiệp, có địa hình và địa chất thuận lợi cho phát
triển đô thị.
- Tài nguyên nước: + Nguồn nước mặt của TP phân bố không đều theo các vùng lãnh thổ
và theo thời gian. Lượng mưa chiếm khoảng 80 lượng nước trong năm. Hiện nay nguồn nước mặt mới chỉ cung cấp 85- 90 diện tích đất canh tác
trong thành phố.
+ Nguồn nước ngầm: TP có lượng nước ngầm phong phú ở hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Dun.
45
- Tài ngun khống sản:TP.Thái Ngun có hai tuyến sơng lớn chạy qua đó là sơng Cầu và sông Công hàng năm cung cấp cho thành phố một
lượng cát sỏi xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho tồn TP. Thành phố có vị trí nằm trong vùng sinh khống Đơng Bắc- Việt Nam, thuộc
vành đai sinh khống Thái Bình Dương. Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà, vùng Quan Triều, Tân Long, trữ lượng than lớn thứ 2 cả nước…
- Tài nguyên sinh vật: TP.Thái Nguyên có một thảm thực vật hết sức phong phú và đa dạng bao gồm chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng theo dự án
327 rừng trồng theo chương trình PAM. Đặc biệt, TP có vùng chè Tân Cương ngon nổi tiếng và các loại cây trồng như nhãn, vải, quýt, chanh…
- Tài nguyên nhân văn: TP.Thái Nguyên hiện có 28 đơn vị hành chính trong đó có 18 phường và 8 xã với số dân 278.143 người, 18 trường Đại học,
Cao đẳng- trung học chuyên nghiệp sẽ là nguồn nhân lực lớn và có chất lượng đáp ứng nhu cầu phục vụ sự nghiệp phát triển của thành phố, của tỉnh và cả
nước.
Thực trạng môi trường: - TP chịu ảnh hưởng do ơ nhiễm bụi và khí thải của khu cơng nghiệp
Gang Thép làm ô nhiễm gây ảnh hưởng xấu tới các khu dân cư và môi trường sinh thái của TP nói chung.
- Hàng ngày nhà máy giấy Hồng Văn Thụ đã thải khoảng 400m
3
nước thải độc và bẩn làm ô nhiễm nguồn nước mà trực tiếp là ô nhiễm suối Mỏ
Bạch và nguồn nước sông Cầu. Vấn đề này sẽ phải giải quyết ngay trong hiện tại và tương lai. Thêm vào đó, nhà máy cán thép Gia Sàng và khu công
nghiệp Gang Thép đã thải lượng nước khơng qua xử lí vào suối Xương Rồng gây ô nhiễm khu vực phường Gia Sàng, phường Cam Giá. Nước thải hai nhà
máy này cần được xử lí đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải. 4.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội TP. Thái Nguyên
4.1.2.1. Dân số
Thành phố Thái Nguyên hiện có 28 đơn vị hành chính cấp phường, xã bao gồm 18 phường, 10 xã. Triển khai có hiệu quả cuộc tổng điều tra dân số và
nhà ở năm 2009. Kết quả: Dân số thường trú trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tính đến 0h00 ngày 0142009 là 278.143 người trong đó: nam
46
135.763 người, chiếm 48,81; nữ 142.380 người chiếm 51,19. Khu vực thành thị là 200.150 người, chiếm 72, khu vực nông thôn: 77.993 người
chiếm 28.
Mật độ dân số 1.466 ngườikm
2
khu vực thành thị 3.292 ngườikm
2
, nông thôn 605 ngườikm
2
.Nguồn: Uỷ ban nhân dân thành phố Thái Nguyên, 2009.[]
4.1.2.2. Mức tăng trưởng kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP theo giá 1994 đạt 3.109,8 tỷ đồng, tăng 12,37 so với năm 2008. Trong đó: Cơng nghiệp - xây dựng đạt 1.676 tỷ
đồng, tăng 11,2 so với năm 2008, dịch vụ đạt 1.304,8 tỷ đồng, tăng 14,7 so với năm 2008, nông nghiệp đạt 128,4 tỷ đồng, tăng 5 so với cùng kỳ 2008.
Cơ cấu kinh tế GDP giá thực tế: Đạt 7.018, 4 tỷ đồng trong đó: Ngành Công nghiệp - xây dựng đạt 3.353,2 tỷ đồng, chiếm 47,77; Ngành Dịch vụ đạt
3.290,6 tỷ đồng, chiếm 46,9; Ngành Nông nghiệp đạt 374,6 tỷ đồng chiếm 5,33
- Giá trị Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương đạt 2.372 tỷ đồng = 105 kế hoạch tỉnh giao và bằng 95 kế hoạch phấn đấu của
thành phố, tăng 1,1 so với cùng kỳ năm 2008. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 6.579 tỷ đồng, tăng 9,1 so với cùng kỳ năm 2008.
- Thu ngân sách đạt 332 tỷ đồng = 132,8 kế hoạch tỉnh giao, 117,5 kế hoạch thành phố, tăng 14,1
so với năm 2008. - Chi ngân sách cả năm thực hiện chi 478,4 tỷ đồng, bằng 100 kế
hoạch. - GDP bình quân đầu người đạt 25 triệu đồngnăm = 121,9 kế hoạch
tăng 4,6 triệu đồng so với năm 2008. - Giải quyết việc làm cho 5.500 lao động mới = 100 kế hoạch.
- Tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 2,9 , = 131 kế hoạch. - Giảm tỷ suất sinh thô 0,46 = 306 kế hoạch.
- Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.Uỷ ban nhân dân
TP.Thái Nguyên, 2009[21] 47

4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng


Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, TP Thái Nguyên đã có nhiều cố gắng và có được cơ sở vật chất đáng phải kể tới:
- Giao thơng: Về đường bộ có 3 quốc lộ chạy qua TP đó là: Quốc lộ 3, quốc lộ 1B và quốc lộ 37. TP có một bến xe khách tổng hợp được cải tạo và
nâng cấp có chất lượng tốt. Tồn TP có 422 km đường ơtơ trong đó có 30 km đường quốc lộ, giao thơng bên trong TP có chiều dài 60 km, đường nhựa
53,14 km, đường đá 4,28 km, đường cấp phối 2,04 km.
+ Đường sắt có tuyến quốc gia: Hà Nội- Thái Nguyên, Thái Nguyên- Kép- Bãi Cháy và các tuyến địa phương. Có 3 ga: Ga Thái Nguyên, ga Quan
triều, ga Lưu Xá. + Đường thuỷ: Quan trọng có tuyến sơng Cầu chảy qua TP 15 km.
Hiện nay, giao thông là vấn đề trở ngại lớn đối với TP Thái Nguyên nhất là giao thơng nội thị vì ngồi các trục đường chính còn lại vẫn còn nhiều con
đường nhỏ giữa các khu dân cư gây khó khăn trong giao thơng, đặc biệt vào mùa mưa.
- Thuỷ lợi: Thuỷ lợi được xác định là yếu tố quan trọng để phát triển nông nghiệp của TP. Hai hệ thống thuỷ nông sông Cầu và sơng Cơng có đủ
điều kiện để tưới tiêu ổn định phát triển nông nghiệp. TP đã xây dựng các cơng trình thuỷ lợi như đập Phúc Sen, hồ Cây Si…kiểm tra, sửa chữa kịp thời
các kênh mương tưới tiêu nội đồng, các cơng trình thuỷ lợi, các trạm bơm phục vụ đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. TP đã triển khai tốt công tác
kiểm tra, xây dựng phương án phòng chống bão lụt, thường xuyên kiểm tra xử lí kịp thời những hành vi vi phạm hành lang đê điều, chủ động hạn chế đến
mức thấp nhất những hậu quả do mưa lũ gây ra. Hiện tại có hai nhà máy nước là nhà máy nước Thía Ngun và nhà máy nước Tích Lương với tổng cơng
suất là 40.000m
3
ngày đêm. Cả hai nhà máy đã đảm bảo cung cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt ở mức 100 lítngườingày. Đến nay, 93 số hộ khu vực
nội thành được cấp nước sinh hoạt. - Hệ thống điện: Mạng lưới điện phát triển mạnh, 28 đơn vị thuộc TP
đều có điện lưới quốc gia phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Nguồn cung cấp điện cho TPTN hiện nay là nguồn điện lưới quốc gia với hệ thống đường dây
48
cao thế 110KV và 220KV thông qua đường hạ thế xuống 35KV - 12KV - 6KV380V220V và 95 các đường phố chính đều có điện chiếu sáng ban
đêm. Đồng thời cơng tác quản lí và sử dung điện ngày càng được phát triển hợp lí.

4.1.2.4. Văn hố- y tế- giáo dục


- Giáo dục : Chất lượng dạy và học từng bước được nâng cao ở mỗi cấp học, ngành học; đội ngũ giáo viên được tăng cường về mặt số lượng cũng như
chất lượng. Trong khu vực TP có 67 trường học các cấp phổ thơng với 914 phòng học, 1880 giáo viên. Thế mạnh của thành phố về giáo dục là có 18
trường Đại học, Cao đẳng- trung học chuyên nghiệp; 19 cơ sở thí nghiệm trung tâm nghiên cứu.
- Y tế : Hệ thống y tế của TP phát triển mạnh đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Năm qua, các cơ sở y tế của TP đã tổ chức
khám chữa bệnh cho 112.430 lượt người, trong đó điều trị nội trú cho 2.342 lượt người. TP còn đặc biệt chú trọng chăm sóc sức khoẻ cho thế hệ tương lai
và đã thực hiện tốt việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi trên tất cả các phường, xã của TP.
- Văn hoá thể thao: Hoạt động văn hoá thể thao ngày càng phát triển mạnh, chất lượng được nâng cao, đa dạng về hình thức và phong phú về nội
dung góp phần nâng cao dân trí và đời sống tinh thần cho nhân dân.  Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên-khinh tế-xã hội :
- Thuận lợi: Nhìn chung TPTN có vị trí thuận lợi, là trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học, giáo dục kĩ thuật, văn hoá, thể thao...của tỉnh Thái
Nguyên; đồng thời của cả khu vực miền núi phía Bắc và có nguồn tài ngun thế mạnh là than, cùng với cơ sở hạ tầng khá phát triển TP có điều kiện rất lớn
để phát triển cơng nghiệp, thương mại và dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ. Bên cạnh đó TP có ngồn lao động rất dồi dào, đây là ngồn nội lực thúc
đẩy TP phat triển, song cũng gây ra vấn nạn đó là vấn đề giải quyết việc làm, các tệ nạn xã hội.
- Khó khăn: Đường xá giữa liên các xã, phường hay thơn xóm còn nhỏ hẹp hạn chế cho phát triển kinh tế và cho việc vận chuyển thu gom rác thải.
Hơn nữa ở TP.Thái Nguyên có nhiều trường học nên số lượng học sinh, sinh 49
viên đông nhất là lượng sinh viên; thêm và đó là lượt người tới TP làm ăn sinh sóng cũng khá đơng nên lượng rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều. Đây là
một áp lực cho mơi trường, nếu khơng có biện pháp giải quyết kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
4.2. Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn tại các phường xã ở khu nam TP.Thái nguyên
4.2.1. Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại khu nam TP.Thái Nguyên
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của đất nước trong những năm gần đây tp.Thái Nguyên đã có những bước phát triển nhanh chóng trong nền
kinh tế , văn hoá, xã hội về nhiều mặt khác nhau. Tốc độ đơ thị hố tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày một được nâng cao dẫn đến nhu cầu và
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày một nhiều và kéo theo lượng chất thải rắn nói chung và lượng rác thải sinh hoạt nói riêng phát sinh ngày một
nhiều. Và đây chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm tới cảnh quan môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan đô thị, chất lượng cuộc sống
của chính con người chúng ta. Chính vì vậy đòi hỏi chúng ta cần quan tâm đến vấn đề này một cách sâu sắc và triệt để nhất.
Bảng 4.1: Thành phần chủ yếu của rác thải sinh hoạt TP. Thái Nguyên STT
Thành phần cơ học của rác thải Tỷ lệ
1 Rác hữu cơ
55 2
Đá, sỏi , sành , sứ, thuỷ tinh 7
3 Phế thải sắt thép
3 4
Giấy, vải 2
5 Tạp chất khác
30 Thành phần hoá học của rác thải
Đơn vị 6
Hàm lượng hữu cơ 50-60
7 Độ trơ chất không cháy
28-30 8
Nhiệt lượng của rác thải 1300 kcalkg
9 Độ nóng chảy của tro
1320
o
Nguồn: Ủy ban nhân dân tp.Thái Nguyên,2001[21] 50
Theo số liệu trên thành phần rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 55 gồm rau, củ quả, thực phẩm hỏng, thừa…, thành phần vơ cơ
đá, sỏi, sành, sứ… là 7, còn lại là các thành phần khác. Ta thấy thành phần rác thải có sự thay đổi theo mùa, theo các dịp như lễ hội, tết thì thường
gia tăng cả về lượng và thành phần. Qua phỏng vấn nhân dân thì có 7780 ý kiến cho rằng mùa hè thì lượng rác thải gia tăng là nhiều nhất do nhu cầu sinh
hoạt tăng, và thời tiết nắng nóng các loại lương thực, thực phẩm dễ ôi thui, hỏng 180 hộ cho rằng mùa đông rác nhiều nhất, 280 cho rằng các mùa
lượng rác là như nhau.
Bảng 4.2: Lượng rác thải phát sinh tại các hộ dân ở các phường, xã khu nam TP. Thái Nguyên.
STT Tên phường, xã
Dân số người
Lượng rác bình quânngườingày
Khối lượng rác Tấnngày
1 Phường Cam Giá
10417 0.6
6,25 2
Phường Phú Xá 11044
0.6 6,63
3 Phường Tân Thành
4434 0.53
2,35 4
Phường Trung Thành 12493
0.51 6,37
5 Phường Hương Sơn
11448 0.6
6,87 6
Xã Thịnh Đức 7651
0.35 2,68
7 Xã Tích Lương
7268 0.4
2,91 8
Xã Phúc Trìu 2791
0.3 0,84
9 Xã Tân Cương
5098 0.32
1,73 10
Xã Lương Sơn 13253
0.46 6,1
11 Tổng
0,47 42,73
Nguồn: Kết quả điều tra, 2010 Qua bảng số liệu trên cho thấy lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
từ các hộ gia đình là tương đối lớn, và phụ thuộc vào mức sống, điều kiện kinh tế của từng phường, xã. Ở Các phường gần trung tâm thành phố có mức
sống cao, nên lượng rác thải phát sinh nhiều khoảng 0,5 đến 0,6 51
kgngườingày, cao hơn các xã ở nông thôn khoảng 0,3 đến 0,46 kgngườingày.
Ngoài lượng rác thải phát sinh tại các hộ dân thì còn một lượng lớn rác thải phát sinh từ đường phố, chợ, thương nghiệp,…
- Rác từ hộ dân: Phát sinh từ các hộ gia đình, các khu chung cư, khu
trọ của công nhân, học sinh, sinh viên…thành phần rác thải này thường bao gồm chủ yếu là thực phẩm rau, củ, quả…, túi ninol, gỗ, giấy, thủy tinh, tro
than tổ ong, chai nhựa, kim loại…, ngoài ra còn chứa một lượng nhỏ rác thải độc hại như pin…
- Rác quét đường: Phát sinh từ các hoạt động đường phố, vui chơi giải trí và làm đẹp cảnh quan. Nguồn rác này do những người đi đường và những
hộ dân sống dọc hai bên đường vứt ra bừa bãi. Thành phần chủ yếu của chúng là cành cây, lá cây, giấy vụn, bao gói ninol của các đồ chế biến sẵn, xác động
thực vật chết, ngoài ra còn một lượng gạch, đất cát do sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp đổ ra đường. Đặc biệt lượng rác đường phố này gia tăng rất nhiều vào
những ngày mưa, bão chủ yếu là cành, lá cây gia tăng
- Rác khu thương mại: Nguồn này phát sinh từ các hoạt động buôn bán cả các cửa hàng bách hóa, khách sạn, siêu thị nhà hàng, cửa hàng sửa chữa,
may mặc…thành phần chất thải tại khu vực này chủ yếu là giấy tại các quán photo, hàng lưu niệm…, vải vụn từ các cửa hàng may mặc, thực phẩm, rau
quả, cơm canh thừa, giấy lau… từ các quán ăn, nhà hàng ăn uống…,gỗ thủy tinh, chai lọ…ngoài ra rác thải sinh hoạt còn có một phần nhỏ chất thải mang
tính độc hại.
- Rác phát sinh từ cơ quan, công sở: Rác phát sinh từ ngồn náy chủ yếu là giấy vụn, túi ninol, chai lon nước,…
- Rác chợ: Nguồn này phát sinh từ các hoạt động ma bán ở chợ, thành phần chủ yếu là rác hữu cơ như: rau, củ, quả hư hỏng, giấy gói, rơm, …
Như vậy các nguồn phát sinh tỷ lệ, thành phần rác là khác nhau mang đặc trưng của từng khu vực, tính chất cơng việc, ngành nghề sinh hoạt…
nhưng lượng rác chiếm phần lớn là thực phẩm thừa hỏng và túi ninol. 52
4.2.2. Hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu Nam TP. Thái Nguyên.
4.2.2.1. Hiện trạng thu gom vận chuyển rác thải sinh hoạt tại khu nam TP.Thái Nguyên.
Việc thu gom, vận chyển rác thải của khu nam TP đều do công ty môi trường đô thị Thái Nguyên tiến hành. Phương tiện thu gom và vận chuyển rác
thải của Công ty Môi trường và Cơng trình đơ thị Thái Ngun gồm có thùng đựng rác, xe đẩy tay và các phương tiện cơ giới. Hiện nay, số xe đẩy tay của
Công ty với mức bình quân là 1người1 xe đẩy tay. Tất cả các cơng nhân đều phải có nhiệm vụ bảo quản xe của mình. Phòng Tài chính của Cơng ty sẽ
hồn lại cho cơng nhân mọi khoản tiền liên quan đến việc thay thế dụng cụ, bộ phận hay bảo dưỡng xe theo hoá đơn từ các xưởng sửa chữa trong TP. Về
xe chuyên chở rác, tiền xăng dầu thì được định mức theo tuyến đường vận chuyển và mức tiêu thụ nhiên liệu của từng xe được cán bộ của Cơng ty kiểm
tra định kỳ. Tồn Cơng ty có 10 xe ô tô phục vụ cho công tác vận chuyển rác thải đến khu xử lý, hầu hết trong số này đều đã cũ và thường xuyên gặp sự cố,
hỏng hóc. Trong đó có cả những xe đã sử dụng lâu năm, có 1 xe được 16 năm, 1 xe được 13 năm tuy thường xuyên được bảo dưỡng nhưng vẫn không
đảm bảo chất lượng phục vụ cho công tác vận chuyển nên thật sự cần thay thế. Bên cạnh đó Cơng ty chỉ có 4 thợ sửa chữa cơ khí, dụng cụ thơ sơ như
hàn điện, bơm xe mà khơng có trạm sửa chữa và bảo dưỡng riêng nên các phương tiện nên các phương tiện của Công ty đều được sửa chữa và bảo
dưỡng bởi các dịch vụ bên ngoài. 53
Bảng 4.3: Hiện trạng phương tiện vận chuyển rác thải sinh hoạt của Cơng ty Mơi trường và Cơng trình đơ thị Thái Nguyên
STT Tên loại thiết bị
Số lượng
Năm sử dụng
Trọng tải m
3
xe Đánh giá
hiện trạng
1 Xe ôtô IFA 0113
1 1992
6 Kém
2 Xe ôtô IFA 0077
1 1995
6 Kém
3 Xe ôtô IFA 3659
1 1999
6 Kém
4 Xe HINO 5383
1 2001
6 Trung bình
5 Xe HINO 5384
1 2001
6 Trung bình
6 Xe HUYNDAI 6101
1 2003
6 Trung bình
7 Xe HINO 7581
1 2004
9,5 Tốt
8 Xe HINO 8401
1 2005
9,5 Tốt
9 Xe HINO 8364
1 2005
9,5 Tốt
10 Xe HINO 8813
1 2006
9,5 Tốt
Nguồn: Công ty Mơi trường và cơng trình đơ thị Thái Ngun, 2008[] Khu nam của TP.Thái Nguyên gồm có 5 phường Tân Thành, Trung
Thành, Cam Giá, Phú Xá, Hương Sơn, và 5 xã Lương Sơn, Thịnh Đức, Tích Lương, Tân Cương, Phúc Trìu. Đặc điểm chung của các phường xã này
là có diện ích đất đai khá rộng, mật độ dân cư thưa thớt, các hộ dân sống cạnh các trục đường giao thông để thuận tiện cho công tác thu gom rác thải là
không nhiều, sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp. Nên công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở đây còn nhiều bất cập và thiếu sự quan tâm
chính quyền từng địa phương và nhân dân.
Qua q trình điều tra nghiên cứu thực tế thấy công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở đây có 2 trường hợp như sau:
- Các phường, xã được tổ chức thu gom rác thải đóng lệ phí và có đội VSMT gồm: Phường Tân Thành, phường Trung Thành, phường Phú Xá,
phường Hương Sơn, phường Cam Giá và xã Tích Lương 54
- Các phường xã chưa được thu gom, chưa có đội VSMT, hoặc có đội VSMT nhưng tổ chức thu gom không đáng kể gồm 4 xã: Xã Thịnh Đức,
Lương Sơn , Tân Cương, Phúc Trìu. Cụ thể thực trạng công tác vận chuyển, thu gom rác thải của các
phường, xã được tiến hành như sau: Thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải tại các phường:
Phường Cam Giá: Nằm ở khu nam của TP.Thái Nguyên với diện tích
tự nhiên là 8,75 km
2
, dân số là 10360 khẩu có 2947 hộ trong đó có 741 hộ làm nơng nghiệp. Tồn phường có 31 tổ dân phố, là phường có tiềm năng thế
mạnh về đất đai màu mỡ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Về công tác quản lý môi trường: trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế
phường đã có những quan tâm đến vấn đề mơi trường trong đó chủ yếu là quản lý rác thải sinh hoạt. Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và phát
triển kinh tế xã hội năm 2009, phương hướng chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2010 thì phường đã thu gom được trên 2500 m
3
rác thải sinh hoạt năm kết hợp với tổ chức tuyên truyền phổ biến tới các đơn vị doanh
nghiệp và nhân dân thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường và chủ động phối hợp với sở Tài nguyên Môi trường tỉnh, phòng Tài ngun
Mơi trường tp, UBND phường Cam Giá, 2009 [22 ]
Phường thành lập đội thu gom rác thải gồm: có 7 cơng nhân, 15 xe đẩy tay.
Lương của công nhân được khoảng 800.000 đồngtháng. - Có 5 điểm tập kết rác thải gồm:
+ Tại tổ 24 phường Cam Giá đầu cầu khu nam + Tại đường Tàu Dốc Hanh
+ Cầu Văn Phòng + Chợ khu Tây
+ Tổ 6 phường khu vực bãi Xỉ - Trong đó tại mỗi điểm trên thu gom được khoảng 3 m
3
ngày.Tổng lượng rác thu gom được trong ngày của toàn phường là 15 m
3
ngày. 55
- Tỷ lệ thu gom đạt 65 – 70 có 21 31 tổ dân phố được thu gom, các tổ dân phố còn lại chưa được thu gom là là tổ 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17,
18, 19. - Thời gian thu gom là khoảng 15h-19h hàng ngày cơng nhân đến từ hộ
gia đình, từng điểm để thu gom chở về các điểm tập kết và sau đó xe cơng ty mơi trường chở vào khu tập chung rác thải của thành phố.
Phường Trung Thành: Là một phường trung tâm phía nam thành phố
có địa bàn tương đối rộng gồm có 31 tổ dân phố và có 3203 hộ đang sinh sống trên địa bàn phường. Phường có sự phát triển về kinh tế khá cao, đời
sống nhân dân ngày càng được đầy đủ. Do đó vấn đề mơi trường ngày càng được quan tâm. Đội VSMT của phường được thành lập từ tháng 82003. Đội
vệ sinh mơi trường gồm có 16 người, có 01 đội trưởng, 01 đội phó phụ trách cơng việc hàng ngày. Hoạt động của đội VSMT có những đặc điểm sau:
- Được sự quan tâm của Đảng uỷ - HĐND - UBND phường một cách thường xuyên nhắc nhở và chị đạo tuyên truyền vận động bà con tham gia
đóng phí vsmt. Do đó đến nay việc thu gom đã tăng lên giúp môi trường và sức khoẻ nhân dân được đảm bảo. Mặt khác hầu hết các đường ngõ trong địa
bàn đều được bê tơng hố, cơng ty môi trường đô thị đã quan tâm đến thời gian lao động và thời gian vận chuyển nên chị em cơng nhân khơng còn phải
làm đêm như những năm trước bắt đầu từ năm 2009
Do địa bàn tương đối rộng, số hộ đông nhưng ở không tập chung mà lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều, mặt khác số hộ tham gia đóng phí
VSMT chưa triệt để nên việc thu gom không được đồng bộ và thu nhập của công nhân không cao. Kết quả công tác thu gom rác thải đạt được như sau:
- Về công tác tổ chức của đội gồm 16 người với 32 xe đẩy tay chở rác hoạt động liên tục, có 1 đội trưởng phụ trách chung, 01 đội phó phụ trách
cơng việc hàng ngày. Tất cả công nhân đều được tham gia bảo hiểm thân thể, bảo hiểm y tế.
- Việc thu gom rác thải được thực hiện ở 2931 tổ dân phố. Mỗi một công nhân thu gom phụ trách 02 xe vận chuyển rác và thu gom được khoảng
2 m
3
và chở về nơi quy định trong một ngày. Toàn đội thu gom được khoảng
5400 m
3
chở về nơi quy định. 56
- Đội chia thành hai nhóm để thi đua vận động các hộ dân tham gia phí VSMT.
- Đội phân công từng người phụ trách từng khu vực, từng tuyến đường, từng tổ dân phố theo vòng tròn quấn chiếu. Làm ở tổ dân phố nào thì có trách
nhiệm thu phí rác thải ở tổ dân phố đó, và vận động các hộ chưa tham gia đóng phí để tiến hành thu gom.
- Tồn thể cơng nhân đồn kết đùm bọc nhau cùng nhau hồn thành cơng việc được giao, chấp hành đúng thời gian thu gom, thời gian tập kết rác
chở về nơi quy định không để rác thải tồn đọng qua ngày. - Tổng số hộ tham gia phí VSMT là 2529 hộ.
- Tổng số khẩu tham gia phí vsmt trên tồn phường là 6904 và 6 trường học.
- Tỷ lệ thu gom đạt 79 - Mức thu nhập bình qn của cơng nhân là 978.00đ tháng
- Điểm tập trung rác thải có 2 điểm: + Điểm đường lên chũ.
+ Điểm đường cách mạng tháng 8 ngã tư phường có 15 xe đẩy tay tập
kết ngày - Thời điểm thu gom vào 15h đến 19h hàng ngày.
Phường Hương Sơn: Đội VSMT được thành lập vào 142003 gồm có
15 người, 19 xe đẩy tay. Hiện nay phường có 37 tổ dân phố nhưng chỉ có khoảng 1600 - 1700 hộ đóng lệ phí.
- Tỷ lệ thu gom đạt khoảng 70, các tổ chưa được thu gom phần lớn là ở xa trục đường giao thông và các hộ có vườn rộng.
- Điểm tập trung rác thải: gồm 3 điểm + Điểm ở cổng trường cấp 3 Chu Văn An
+ Điểm gần bách hóa Dốc Hanh + Điểm ở khu nhà hàng đường tròn gang thép
- Thời gian thu gom rác thải khoảng từ 16h – 17h hàng ngày sau đó xe
cơng ty mơi trường đô thị đến chở vào bãi rác Đá Mài. Một tháng có khoảng 16 - 17 chuyến xe cơng ty mơi trường đơ thị.
57
Phường Tân Thành: Phường có một đội VSMT được thành lập vào
112005 chỉ thu gom ở điểm quốc lộ 37 đến 12009 mới mở rộng thu gom trên địa bàn phường. Đội gồm 8 người với mức lương khoảng 600.000
đồngtháng, và 22 chiếc xe đẩy tay.
- Tổng khối lượng rác thải thu gom là 10 - 12 m
3
ngày - Điểm tập trung rác thải gồm 3 điểm sau:
+ Tại khu vực quốc lộ 3 ngay trước cửa UBND phường Tân Thành + Tại khu Vó Ngựa
+ Tại khu xí nghiệp luyện kim màu 2 - Có khoảng 3000 nhân khẩu đổ rác thải ra 3 điểm trênlượng rác được
thu gom - Tỷ lệ thu gom đạt 80.
- Thời điểm thu gom vận chuyển từ 18h – 20h hàng ngày. - Vận chuyển rác thải tại các điểm tập trung rác trên địa bàn phường là
do xe của công ty môi trường đô thị chở vào bãi rác chung của thành phố. Trong đó chỉ có 2 điểm chính là quuốc lộ 3, quốc lộ 37 là rác thải được
chuyển đi hàng ngày, còn ở điểm còn lại là 2 lần tuần.
Phường Phú Xá: Tổ VSMT gồm có 13 cơng nhân, 21 xe đẩy tay để
gom rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, các quán ăn..., tổ chức thu gom cho 29 tổ dân phố. Việc thu gom được tiến hành thường xun cơng nhân làm
việc đúng giờ và có tinh thần trách nhiệm với công việc.
- Điểm tập kết rác thải gồm có 4 điểm sau: + Tại đường phường
+ Ngã tư ga + Khu cầu Loàng
+ Khu bưu điện Phú Xá - Tỷ lệ thu gom đạt 90
58
Bảng 4.4: Tổng hợp thực trạng thu gom rác thải ở 5 phường khu nam TP. Thái Nguyên
Chỉ tiêu Phường
Tổng số dân người
Số khẩu tham gia đóng phí người
Tỷ lệ thu gom
Cam Giá 2948
2063 65 - 70
Phú Xá 11044
9939 90
Hương Sơn 3112
2179 70
Tân Thành 4496
3000 80
Trung Thành 12493
6904 79
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2010 Qua bảng số liệu trên, các phường có tỷ lệ thu gom khá cao trung bình
là 70 – 80, trong đó phường Phú Xá thu gom đạt tỷ lệ cao nhất là 90 sở dĩ có được điều này là chính quyền phường đã có sự quan tâm, chỉ đạo sát
sao trong cơng tác quản lý rác thải, hơn nữa phường có đặc điểm thuận lợi về giao thông, các hộ đều tập trung dọc tuyến đường quốc lộ nên thuận lợi
cho thu gom, và công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng phí VSMT tốt.
Thực trạng thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại các xã:
Xã Thịnh Đức: Đây là một xã có diện tích rất rộng là 17 km
2
nằm ở khu nam TP. Với khoảng 8000 dân sinh sống, tổng số hộ là 1820 hộ. Do đặc
điểm là một xã nằm khá xa trung tâm thành phố, đất đai rộng, các hộ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với đất vườn rộng nên tự thu gom và chơn lấp là chủ
yếu. Do đó mà vấn đề rác thải khơng phải là vấn đề nóng bỏng do đó chính quyền xã chưa quan tâm nhiều, chưa có đề nghị về mảng môi trường này
trong các phiên họp của xã. Qua trao đổi với lãnh đạo xã được biết định hướng trong những năm tới là xã sẽ đề nghị với công ty môi trường đô thị tổ
chức thu gom rác thải dọc tuyến đường tỉnh lộ 262, 253 còn các khu khác thì ở xa khơng thể tiến hành thu gom được.
- Chưa có một đội thu gom rác thải nào. - Rác thải chủ yếu là các hộ gia đình tự thu gom sau đó chơn lấp hoặc
đốt. 59
Xã Tích Lương: Tích Lương thu nhập bình quân đầu người là 740
USD người Năm. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 8,5 năm. Mức tăng dân số hàng năm là 1,8. Tổng số lao động là 10805 người trong đó
tổng số lao động phi nơng nghiệp là 8860 người. Tỷ lệ rác và các chất thải rắn được thu gom, xử lý theo công nghệ thích hợp là 30 năm 2008.
- Đội VSMT gồm có 4 cơng nhân, với mức lương bình qn tháng là 500.000 đồngtháng, số xe đẩy tay là 6 xe.
- Có 01 điểm tập trung rác thải ở cạnh cây xăng phường Tân Lập. Một ngày có từ 6 - 7 xe đẩy tay chở rác tập kết ở đây sau đó vào khoảng 12h- 13h
xe cơng ty mơi trường chở vào bãi rác. - Tồn xã có khoảng 700 hộ được thu gom, chiếm khoảng 13 vì đa số
các hộ sống dọc trục đường quốc lộ 3 là được thu gom còn các xóm khác ở sâu xa khơng thể tiến hành thu gom được.
- Thời điểm thu gom từ 13h- 18h: đội VSMT xã thu gom và đem về điểm tập kết và đến 12h- 13h xe công ty mơi trường đơ thị chở đi.
- Bên cạnh đó để tránh hiện tượng nước chảy chỗ trũng do xã ở giữa tiếp giáp với Tân Thành, Trung Thành, Cam Giá, Phú Xá nên tiến hành thu
gom chung với Trung thành là 200 hộ, Tân Thành là 50 hộ.
Xã Phúc Trìu: Là một xã miền núi nằm ở phía Tây của TP.Thái
Nguyên, có mật độ dân cư thưa thớt, chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp. Do đó rác thải khơng nhiều nên rác thải ở đây chủ yếu được nhân dân
tự thu gom và đốt. Chỉ riêng khu chợ của xã là rác được thu gom vào hố chôn rác do xã đào và khoảng 01 tuần là tự đốt. Xã có 3 cơng nhân vệ sinh môi
trường, 03 xe đẩy tay. Trong những năm tới địa phương tiếp tục duy trì những quy định về bảo vệ môi trường bằng cách quản lý cấm các hộ không được vứt
rác ra kênh mương và khu công cộng.
Xã Lương Sơn: Là một xã nông thơn nằm ở phía nam của TP.Thái
Ngun, với tổng số hộ dân trên 2000 hộ và tổng số dân là 11000 người, tổng diện tích đất tự nhiên là 16 km
2
thu nhập bình quân đầu người là 9 triệu
đồngngườinăm . Trong đó tổng diện tích đất gieo trồng là 830 ha còn lại là sử dụng cho các mục đích khác. Hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp đã từng bước phát triển mang lại nguồn thu nhập cho nhân dân 60
và giải quyết công ăn việc làm lao động dư thừa. Năm 2009 trên địa bàn xã có tổng 154 hộ kinh doanh bn bán với các mặt hàng chủ yếu như ngành dịch
vụ là 60 hộ, vật liệu là 40 hộ, còn lại là các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt nhưng vẫn mang tính nhỏ lẻ. Bên cạnh sự phát triển về kinh
tế thì vấn đề mơi trường đặc biệt là rác thải cũng đang là vấn đề cần quan tâm.
- Đội VSMT được thành lập từ năm 2006 gồm có 04 cơng nhân với mức lương khoảng trên 600.000 đồng tháng, 6 xe đẩy tay có 2 xe hỏng
- Chỉ có xóm 3, 4, 5 và trường cao đẳng luyện kim là được thu gom. Tiến hành thu gom trong phạm vi 416 cây số.
- Có khoảng 200011000 khẩu được thu gom chiếm 18,2 hoặc 210 xóm được thu gom
- Xã chỉ có 4 xóm được thu gom là: + Xóm Ga
+ Xóm xăng dầu + Xóm 5 luyện kim
+ Xóm trường cao đẳng luyện kim
- Thời điểm thu gom: thu hàng ngày một lần vào buổi sáng từ khoảng 6h-9h có xe ơ tơ công ty môi trường đô thị chở về.
- Tại điểm tập trung rác thì chỉ có 5 xe đẩy tay mỗi ngày trong đó có 03 xe của trường cao đẳng luyện kim.
- Việc thu phí rác thải như sau: đối với hộ gia đình là 1.500 đồngngười tháng , quán ăn là 20.000 đồngtháng, sinh viên ở các xóm trọ là
2000 đồng phòng trọ. - Do điều kiện của xã còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, mặt khác vấn
đề môi trường do rác thải không nhiều nên hiện nay xã chưa quan tâm nhiều đến công tác này như việc quan tâm đến đời sống của công nhân về trang
phục, phương tiện lao động. Bên cạnh đó xã chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, diện tích đất đai rộng lớn các xóm ở rất xa nhau, xa
trục đường giao thơng chính và mỗi gia đình đều có vườn rộng. Nên cơng tác bảo vệ mơi trường nói chung và cơng tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
của xã chưa được tốt. 61
- Việc thu gom rác, chính quyền xã cũng muốn mở rộng phạm vi thu gom để công tác thu gom được đồng bộ và đảm bảo VSMT nhưng do lượng
cơng nhân trang thiết bị còn ít nên khơng mở rộng được. Ngồi ra xe cơng ty mơi trường về chở nhiều khi không chở hết được 5 xe đẩy tay.
Như vậy công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã chưa được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân. Trong thời gian tới chính quyền xã
cũng có định hướng quản lý chặt chẽ hơn vấn đề rác thải sinh hoạt và mở rộng việc thu gom bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân.
Xã Tân Cương: - Có 16 xóm với tổng là 1433 hộ, 5094 người, tổng diện tích đất tự
nhiên là 12 km
2
. Vấn đề thu gom rác thải của xã do 2 công nhân tiến hành thu gom với mức lương khoảng 150.000- 200.000 đồngtháng. Trên địa bàn xã có
một nhà để rác được xây dựng từ năm 2005 theo sự tài trợ của dự án Danida của Đan Mạch. Nhà để rác này được sử dụng để chứa các xe thu gom rác,
dụng cụ lao động và để rác thải. Xã chỉ có một xóm duy nhất được thu gom đó là xóm Nam Đồng xóm gồm có 65 hộ.
- Lệ phí thu gom là 10.000 đồnghộ. - Tỷ lệ thu gom là 651433 chiếm 4,5 .
- Có một điểm tập kết rác là nhà để rác với lượng rác thu gom được là 4
xe đẩy tayngày sau đó xe ơ tơ chở đi cứ khoảng 2 ngàychuyến. - Thời điểm thu gom là từ 17h - 18h hàng ngày.
- Ngoài vấn đề rác rác thải sinh hoạt thì xã còn quan tâm đến rác thải do việc sử dụng hố chất bảo vệ thực vật vì xã có diện tích trồng chè khá lớn.
Xã u cầu những hộ trồng chè phải tự đào hố chứa, gom lại sau đó tự gom mang lên bãi rác hoặc là đốt ở xa khu dân cư.
62
Bảng 4.5: Tổng hợp thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại 5 xã ở khu nam tp.Thái Nguyên.
Chỉ tiêu Tên Xã
Tổng số dân người
Số khẩu tham gia đóng phí người
Tỷ lệ thu gom
Xã Tích Lương 7268
2800 35
Xã Lương Sơn 13253
2000 18,18
Xã Thịnh Đức 7651
Xã Tân Cương 5098
260 5,1
Xã Phúc Trìu 2791
Tổng 58,28
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2010 Ta thấy cơng tác thu gom ở các xã còn rất thấp: xã Tân Cương và
Lương Sơn có tổ chức thu gom nhưng rất ít, còn 2 xã chưa tổ chức thu gom rác thải là xã Thịnh Đức và xã Phúc Trìu. Do dân cư ở đây thưa thớt, vườn đất
rộng, đa phần hoạt động sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân còn khó khăn. Nên lượng rác thải khơng nhiều. Ngoài ra các hộ dân phân bố rất xa
nhau, không đồng đều và không thuận lợi về giao thông để tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải.
Về việc thu phí vệ sinh mơi trường hiện nay ở các phường, xã hiện nay cũng có nhiều vấn đề nảy sinh như: các hộ dân còn phàn nàn về việc mức lệ
phí khơng phù hợp với từng gia đình nhà ở xa, ở gần, ít rác, nhiều rác nhưng tiền như nhau. Mức phí rác thải trên địa bàn TP. Thái Nguyên được quy định
chung theo quy định của UBND thành phố, song ở nhiều phường, xã mức phí thu là khác nhau như: ở xã Tân Cương là 10.000 đồnghộtháng. Còn ở các
xã, phường khác đa phần là 2000 đồngngườitháng. 63
Bảng 4.6: Mức thu phí thu gom rác thải ở tp. Thái Nguyên STT
Đối tượng được thu gom Đơn vị tính
Mức thuđồng
1 Hộ gia đình
Khẩutháng 2000
2 Khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ
tùy thuộc vào số phòng nghỉ Đơn vịtháng
150.000- 200.000 3
Cửa hàng kinh doanh cơm, phở tuỳ vào mức thuế mơn bài có mức
thu khác nhau. Hộtháng
20.000- 150.000 4
Các hộ kinh doanh cố định ở chợ Hộtháng
20.000 5
Các trường đại học, trung học chuyên nghiệp tính theo số học
sinh nội trú Ngườitháng
1.000 6
Các trường phổ thông, nhà trẻ, mẫu giáo.
Trườngtháng 100.000
Nguồn: Tổng hợp từ điều tra, 2010 Bảng 4.7: Ước tính khối lượng rác thu gom tại 10 phường, xã
ở khu nam tp.Thái Nguyên
STT Tên phường,
xã Ước tính khối lượng rác thải ngày
Khối lượng tính theo xengày
Khối lượng của 1 xe tạ
Khối lượng rác tấnngày
1 P. Cam Giá
33 xe đẩy tay 2
6,6 2
P. Hương Sơn 19 xe đẩy tay
2 3,8
3 P. Tân Thành
25 xe đẩy tay 2
5 4
P. Trung Thành 32 xe đẩy tay
2 6,4
5 P.Phú Xá
21 xe đẩy tay 2
4,2 6
Xã Tích Lương 6 – 9 xe đẩy tay
2 1,2 – 1,8
7 Xã Lương Sơn
5 xe đẩy tay 2
1 8
Xã Tân Cương 4 xe đẩy tay
2 0.8
9 Xã Thịnh Đức
10 Xã Phúc Trìu
Tổng 29 – 29,6
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2010 64
Ta thấy có 2 phường, xã có lượng thu gom lớn nhất là phường Cam Giá và Trung Thành khoảng từ 6,4 - 6,6 tấnngày, còn các phường, xã khác lượng
thu gom từ 0,8 - 5 tấnngày. Qua thực tế điều tra, và quan sát các xe đẩy tay chở rác đều được cơi nới lên rất nhiều cao hơn miệng thùng khoảng từ 0,5m -
1m, cho nên trung bình các xe phải được khoảng 2 tạ rác, để thuận tiện cho việc thu gom của công nhân vì các hộ ở xa mà khơng chất cao lên thì khơng
thu gom hết lại phải quay lại lần nữa thì mất thời gian và cơng sức. Những xe rác nặng các cô chú công nhân rất vất vả đẩy đi khi gặp những đoạn đường
dốc, gập ghềnh. Do đó cần quan tâm hơn đến đời sống của cơng nhân thu gom rác thải hơn nữa.
Bảng 4.8: Tổng số chuyến và lượng rác thu gom được trong 4 tháng đầu năm 2010 tại các phường, xã ở khu nam TP. Thái Nguyên.
STT Tên phường, xã
Số chuyến Khối lượngTấn
Xe 6 tấn Xe 9,5 tấn
1 Phường Cam Giá
11 9
151,5 2
Phường Hương Sơn 12
12 186
3 Phường Trung Thành
23 10
233 4
Phường Tân Thành 9
13 177,5
5 Phường Phú Xá
24 114
6 Xã Lương Sơn
9 54
7 Xã Tích Lương
8 48
8 Xã Thịnh Đức
9 Xã Phúc Trìu
10 Tổng
96 44
964
Nguồn: Công ty Môi trườngđô thị Thái Nguyên, 2010[] Qua bảng số liệu trên ta thấy lượng rác thải được thu gom, vận
chuyển vào bãi rác là rất lớn. Đây là toàn bộ lượng rác thu gom từ các hộ gia đình, trường học, cơng sở… Ở các phường thì lượng rác thu gom là nhiều hơn
các xã: phường Trung Thành là 233 tấn4 tháng trung bình là 1,26 tấn ngày, phường Hương Sơn thu gom với lượng lớn là 186 tấn 4 tháng trung bình là
65
1,55 tấnngày, các phường còn lại là từ 114 - 177,5 tấn4 tháng. Các xã thì lượng thu gom rất thấp chỉ có xã Tích Lương 48 tấn4 tháng, và Lương Sơn
là 54 tấn ngày. Còn các xã Phúc Trìu, Thịnh Đức chưa được thu gom. 4.2.3. Thực trạng xử lý rác thải sinh hoạt tại khu nam tp.Thái Nguyên
Hiện nay toàn bộ lượng rác thải trên địa bàn thành phố đều được thu gom và mang vào bãi rác Đá Mài ở Tân Cương để xử lý. Đây là khu xư lý
CTR được xây dựng tại thung lũng Đá Mài, xung quanh là đồi núi, thuộc xã Tân Cương, cách tp. Thái Nguyên khoảng 12 km, cách khu dân cư khoảng 1,2
- 1,4 km. Diện tích khu vực thung lũng dự kiến xây dựng khu xử lý chất thải là khoảng 25 ha, có đủ sức chứa rác thải trong khoảng 20 năm.
Theo báo cáo của công ty môi trường đô thị, lượng rác thải hàng ngày được thu gom mang đi xử lý khoảng 90 tấn ngày. Quy hoạch tổng thể bãi rác
như sau: gồm có 5 bãi chơn lấp được bố trí tại thung lũng khu 1 gồm bãi chôn lấp số 1, 2, 3, và khu 2 gồm bãi chôn lấp 4, 5 .
Hiện nay bãi chôn lấp số 1 đã đầy, và hiện đang thực hiện đề án cải tạo và mở rộng bãi chôn lấp rác này.
Cấu tạo đáy và thành bãi chơn lấp theo mơ hình của bãi rác thải Nam Sơn- Hà Nội:
- Đất tự nhiên san phẳng, đàm nén chặt theo độ dốc bãi 1 - Rải vải địa kỹ thuật mã hiệu HSD.050 dày 1mm cho toàn bãi và rãnh thu
nước thải, vải chống thấm được rải lên thành cao 2 m, xung quanh có bao cát giữ. - Đổ lớp đất pha sét đầm chặt dày 200 m
- Rải lớp sỏi, đá răm dày 150 mm để thốt nước thải xuống rãnh thu. Quy tr×nh xư lý rác đối với rác thải đợc chôn lấp bói rỏc ỏ Mi:
- Rác thải thu gom trên địa bàn Thành phố đợc vận chuyển bằng xe
chuyên dụng vào bãi rác. Mỗi chuyến rác thải trở đến bãi đợc đăng ký tại phòng bảo vệ, nơi bảo vệ bãi tiếp nhận và kiểm tra số xe, khối lợng rác, loại rác...;
- Xe c vn chuyn v rỏc vo bãi theo hướng dẫn của cán bộ vận hành bãi. Sau khi đổ rác, xe được rửa sạch trước khi ra khỏi bãi.
- Rác chôn lấp được phun thuốc diệt cơn trùng: 0.00041 lít1 tấn rác. - Sử dụng vơi bột: 0.00026 tấn1 tấn rác
66
- Sử dụng chế phẩm EM thứ cấp: 0.1 líttấn rác phun rắc trực tiếp đều vào rác tươi sau khi rác đã được san gạt thành lớp có chiều dầy theo qui định.
- Tồn bộ rác chôn lấp được đổ thành từng lớp riêng rẽ. Độ dầy mỗi lớp không quá 60 cm, giữa các lớp được ngăn cách với nhau bằng lớp đất phủ
hoặc vật liệu tương tự khác. - Chất thải sau khi được chấp nhận chôn lấp được san đều đầm nén chặt
bằng xe ủi, đầm nén từ 6 đến 8 lần, đảm bảo tỉ trọng chất thải tối thiểu sau đầm nén 0.52 - 0.8 tấnm
3
và ơ tơ có thể dễ dàng đi lại trên bãi. - Lớp đất trung gian trên bề mặt rác khi rác đã được đầm nén chặt, chiều
dày lớp đất phủ từ 10 - 15 cm. Đất phủ phải có thành phần hạt sét 30, đủ ẩm để dễ đầm nén. Lớp đất phủ được trải đều khắp và kín lớp chất thải.
- Rác được phủ đất kín sau 24 tiếng vận hành. - Phun thuốc diệt ruồi, muỗi: khi phát sinh ruồi muỗi, bằng các loại hố
chất diệt ruồi, muỗi do Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Y tế cho phép.
Khu vực dân cư xung quanh trong phạm vi 1000m được thường xuyên kiểm tra và phun thuốc.
Trường hợp thấy xuất hiện nhiều ruồi, muỗi có thể phun bổ xung thêm cho hết ruồi, muỗi.
Sản phẩm của quá trình phân huỷ rác có thành phần là nước gọi là nước rỉ rác. Nước này tích tụ tại bãi được đưa về khu xử lí nước rác bằng
phương pháp tự chảy qua hố ga thu nước rác, hệ thống van và đường ống dẫn. Bãi chơn lấp đóng vai trò như một hồ điều hoà nhằm điều tiết nước ổn định
cho hệ thống xử lí. Uỷ ban nhân dân thành phố Thái Nguyên, 2001[21]
Đây là quy trình mà khi xử lý rác phải thực hiên, nhưng trên thực tế việc xử lý còn chưa đúng theo quy trình.
4.2.4. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt.
Cộng đồng có vai trò rất lớn trong công tác bảo vệ môi trường. Nguồn phát sinh rác thải là từ hoạt động của con người. Do đó để cơng tác vận chuyển,
thu gom, xử lý rác thải được tốt, có hiệu quả thì cần có sự chung tay đóng góp của tất cả mọi người. Với ý nghĩa đó, qua việc tiến hành phỏng vấn trực tiếp các
67
hộ dân sinh sống trên đại bàn các phường, xã nhằm đánh giá và tìm hiểu về nhận thức của họ về vấn đề rác thải, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác.
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điề tra những người dân tại các phường xã với số lượng là 80
phiếu và thu được kết quả như sau: - 5180 hộ đóng lệ phí thu gom rác, 1780 hộ tự xử lý bằng cách chôn lấp,
hoặc đổ ra sông, suối, khu đất trống, 12 80 hộ tự xử lý bằng cách đốt rác. - 7980 hộ đều tiến hành tách các thức ăn thừa, cộng rau, vỏ hoa quả.., và
các trai, lọ nhựa… ra để chăn nuôi, bán hoặc cho người công nhân thu gom rác, 180 hộ là không phân loại ra mà bỏ đi luôn.
- 3980 hộ cho rằng các điểm tập kết rác thải ở phường, xã là gây ảnh hưởng đến đi lại, mỹ quan đường phố, 1980 cho rằng khơng có ảnh hưởng,
2280 hộ khơng có ý kiến. - 1480 hộ cho rằng rác trong ngõ thường xuyên được thu gom, 4280 hộ
tự quét ở khu vực nhà mình, 1480 hộ cho rằng ngõ xóm khơng được quyét dọn thường xuyên.
- 1880 hộ chưa được thu gom, 4280 hộ cho rằng việc thu gom rác như hiện nay là đã đảm bảo VSMT, 380 hộ cho rằng chưa đảm bảo.
- 6680 hộ cho rằng nên phân loại rác tại nguồn, 1480 hộ không biết về phân loại rác tại nguồn và không muốn phân loại rác tại nguồn.
- Để công tác thu gom rác thải được tốt hơn nữa thì 3880 hộ khơng đồng ý đóng thêm tiền, 180 hộ đồng ý đóng ở mức là 5000 – 10.000 đồngtháng;
2280 hộ đóng ở mức 1000 – 2000 đồngtháng; 280 hộ đóng ở mức 2.500 – 5000 đồngtháng, 1780 hộ chưa được thu gom nên khơng có ý kiến.
- 5080 hộ có theo dõi các thơng tin về môi trường trên đài, báo, ti vi, 3080 hộ không để ý đến vấn đề môi trường.
- Ý kiến của nhân dân về công tác quản lý rác thải hiện nay: 1580 hộ cho rằng cần tăng lương cho cơng nhân thu gom, 580 hộ cho rằng mức
phí thu gom rác hiện nay là cao, 280 hộ cho rằng nên phân loại tại nguồn, 4080 hộ không có ý kiến gì, 380 hộ cho rằng thu gom chưa tốt,
1580 hộ cho rằng như hiện nay là tốt.
- Nhận xét về thái độ làm việc của công nhân thu gom: 4980 hộ cho rằng tốt, 2780 hộ không có ý kiến, 680 hộ còn phàn nàn chưa thu gom sạch sẽ.
68
Bảng 4.9: Mức độ qan tâm cả người dân về vấn đề môi trường STT Nội dung
Kết quả Tỷ lệ
1 Theo dõi các thông tin về môi trường qua đài,
ti vi… 5080
62,5 2
Xử lý rác bằng cách đốt 1280
15 3
Phân loại rác ngay tại gia đình 6680
82,5 4
Ý kiến về phí thu gom rác thải 580
6,25 5
Mùa phát sinh nhiều rác thải nhất là mà hè 7780
96,25 6
Ý kiến cho rằng công tác thu gom tốt 4980
61,25 7
Số hộ không qan tâm đến các vấn đề môi trường
3080 37,5
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2010 Từ kết quả trên cho thấy mức độ quan tâm của người dân đến môi trường
là khá tốt, nhiều hộ gia đình rất có ý thức tiết kiệm và tận dụng những sản phẩm thừa để sử dụng lại, ý thức của người dân về bảo vệ mơi trường tăng lên qua việc
họ chịu khó nghe các thông tin trên ti vi, đài báo. Rất nhiều hộ quan tâm đến đời sống của công nhân thu gom rác và họ ý thức được đây là một nghề khá vất vả
và độc hại. Do đó để cơng tác quản lý rác thải được tốt hơn nữa thì các phường, xã cần tăng cường hơn nữa việc phổ biến các kiến thức về môi trường đến với
người dân, kêu gọi nhân dân bảo vệ môi trường. Nếu lamg được như vậy thì mơi trường sẽ được bảo vệ.
4.2.5. Đánh giá lợi ích về kinh tế, xã hội và mơi trường từ công tác quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt mang lại.
Chi phí cho cơng tác quản lý rác thải thể hiện qua bảng số liệu sau: 69
Bảng 4.10: Chi phí cho cơng tác qt, thu gom, vận chuyển, xử lý rác 4 tháng đầu năm 2010.
STT Cơng việc
Đơn vị tính
Khối lượng
Thành tiền đồng Vật liệu
Nhân công Máy
1 Quét gom rác hè
đường phố loại 1 10000 m
2
5154,465 31.094.243 530.034.234
2 Quét gom rác hè
đường phố loại 2 10000 m
2
479 2.891.667
59.149.815
3 Duy trì vệ sinh
đường phố ban ngày
km 3200
76.891.510 320.559.941
4 Tua vỉ hè dọn phế
thải km
38 275.538
2.255.966
5 Vận chuyển rác
bằng xe ô tô 5 tấn Tấn
8500 96.067.000 122.179.000 627.716.500
6 Chơn lấp xử lý rác
Tấn 8500
47.906.000 22.193.500
408.986.000 7
Tổng
Nguồn: Phòng Tài nguyên Môi trường TP.Thái Nguyên, 2010[] Ta thấy lượng chi phí cho cơng tác vsmt trên toàn đại bàn tp. Thái
Nguyên là rất lớn. Trong quá trình thực hiện đề tài, được biết cho phí mà UBND tp. Thái Nguyên trả cho công ty Môi trường đô thị hàng năm là 24 tỷ
đồng. Đây là lượng chi phí rất lớn để bảo vệ mơi trường. Đây là tồn bộ chi phí cho cả thành phố, như vậy có thể thấy được khu nam cũng đã tốn một
lượng ch phí rất lớn cho cơng tác vận chuyển, xử lý, thu gom rác thải.
Những lợi ích về kinh tế, môi trường từ công tác quản lý, xử lý CTR sinh hoạt:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tơi đã tìm được tìm hiểu, tham quan về khu xử lý chất thải rắn của tành phố ở Tân Cương. Hàng ngày bãi rác
có khoảng từ 35- 40 người nhặt rác. Họ nhặt những loại rác như: túi ninol, sắt, 70
nhựa, trai lọ, nhôm, giấy…Những việc làm của những người dân nhặt rác khơng chỉ có ý nghĩa kinh tế đó là tạo nguồn thu nhập góp phần đảm bảo, cải
thiện cuộc sống của chính họ. Mà còn góp phần rất lớn trong công tác bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên tăng cường khả năng tái chế, tái
sử dụng của rác thải. Có khoảng 35- 40 người dân vào nhặt rác ở bãi rác ngày. Họ thường chờ các xe chở rác vào đổ và nhặt. Qua điều tra từ những
chủ hộ mua trực tiếp từ những người nhặt rác và những người nhặt rác thì một ngày có khoảng từ 4 - 5 tạ rác được nhặt từ bãi rác, có khả năng tái chế tái sử
dụng. Đó là các vỏ lon bia, ơ hỏng, dép nhựa, giấy, sắt, vỏ nhựa…Mà hàng ngày có khoảng 90 tấn rác được chở vào bãi rác, nên lượng tái chế, tái sử
dụng được trong tháng là 120- 150 tạtháng.
Bảng 4.11: Các thành phần rác tái chế, tái sử dụng được trong CTR sinh hoạt và giá bán.
STT Các loại rác
Đơn vị tính Giá bán
đồng
1 Nhựa dẻo bình đựng nước, vỏ trai
dầu dán… kg
5.000 2
Nhựa bình thường nhựa cứng kg
2.000 3
Sắt đặc kg
3.000-3.500 4
Ống bơ nhôm Chiếc
2.00 5
Dép đen kg
2.000 6
Túi bóng cứng kg
5.00 7
Túi bóng dẻo kg
2.000 Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2010
Như vậy ta thấy việc tái chế, tái sử dụng rác đã mang lại hiệu quả rất lớn về kinh tế, mơi trường, việc tái chế khơng những góp phần làm giảm chi
phí trong xử lý, tiết kiệm tiền của và cơng sức mà còn góp phần tăng doanh thu cho những doanh nghiệp sản xuất do giảm được chi phí trong sản xuất.
Ngồi ra thì ở bãi rác còn có một lượng gia súc rất lớn như bò, trâu của các 71
hộ dân chăn thả tại đó vì lượng thức ăn hư hỏng như: rau , củ, quả … làm nguồn thức ăn phong phú cho những vật nuôi này. Ta thấy rằng lượng rác thải
được thu gom để tái chế này là lần phân loại thứ 2 lần 1 tại các gia đình tự thu gom và bán cho đồng nát, đây chỉ là một phần rác thải được tái chế. Còn
một lượng rất lớn rác được tái chế nữa đó là từ những người thu gom phế liệu từ các hộ gia đình. Do đó rác là nguồn tài nguyên quý giá, nếu như ta biết
cách khai thác và sử dụng những thành phần trong đó một cách phù hợp. 4.3. Đề suất giải pháp quản lý , xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu Nam
TP.Thái Nguyên 4.3.1. Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại khu nam tp.
Thái Nguyên.
Qua điều tra thực tế về công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại các phường xã khu nam, bên cạnh những kết quả đạt được thì cơng tác quản lý
vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế như sau: - Rác thải chưa được phân loại tại nguồn.
- Chưa có các trạm trung chuyển rác. - Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia giữ gìn vệ sinh,
bảo vệ mơi trường chưa được thường xuyên và sâu rộng. - Các phương tiện thu gom vận chuyển chưa đạt tiêu chuẩn: hầu hết các
phương tiện vận chuyển thu gom rác thải đều cũ và hỏng, lạc hậu. Điển hình, như xã Lương Sơn có 6 xe đẩy tay để thu gom rác thì có đến 2 xe đã bị hỏng
và không sử dụng được nữa.
- Một số lãnh đạo các phường, xã chưa quan tâm đến vấn đề quản lý rác thải cụ thể như xã Lương Sơn, xã Phúc Trìu, xã Thịnh Đức 100 chưa thu
gom chưa đưa ra trong các kỳ họp của xã, hoặc có đưa ra tong các phiên họp nhưng không được giải quyết xã Lương Sơn.
- Nghề thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải là một nghề độc hại ảnh trực tiếp đến sức khỏe của công nhân. Nhưng hiện nay hầu như đời sống công
nhân rất vất vả, chưa được mua bảo hiểm, các dụng cụ lao động, quần áo, bảo hộ lao động còn thiếu, và lương rất thấp trung bình khoảng 600.000đồng
thángngười. 72
- Ý thức của người dân chưa cao, đa phần đều rất thờ ơ và khơng có ý thức bảo vệ môi trường. Những hiện tượng vứt rác thải bừa bãi ra ven đường,
kênh, mương, ao, hồ, sông suối còn phổ biến. - Tất cả các phường xã đều chưa ban hành các chế tài, các quy định về
quản lý rác thải tại địa phương mình như: không được vứt rác ở nơi công cộng, phải bỏ rác đúng nơi quy định…và các chế tài xử phạt nghiêm khắc vẫn
chưa có.
- Chưa tổ chức vận động nhân dân tham gia vệ sinh môi trường vào ngày nghỉ cuối tuần 1 lần tuần . Vì khi nhân dân tự dọn vệ sinh giữ gìn mơi
trường sạch đẹp thì ý thức bảo vệ môi trường sẽ được nâng lên và dần dần sẽ trở thành một thói quen tốt.
- Việc xử lý rác thải vẫn còn nhiều vướng mắc, khó khăn do cơng tác phân loại rác thải chưa được tiến hành trước và sau khi thu gom. Các rác thải
vẫn còn đổ chung với nhau điều này dẫn đến chất lượng của rác thải vơ cơ có khả năng tái chế và rác thải hữu cơ giảm đi đáng kể. Trong các bãi chơn lấp
rác thải thì rác sinh hoạt, rác thải công nghiệp, rác thải nguy hại vẫn được chôn lấp chung. Một vấn đề đặc biệt nữa là rác thải hữu cơ là rác có đặc tính
dễ phân hủy, khả năng phân hủy nhanh nhưng nhưng phần lớn lại bỏ trong túi ninol buộc lại, làm chậm quá trình phân hủy, tăng thêm mức độ nhiễm và khó
xử lý.
- Tại khu vực các xã ở nơng thơn xa trung tâm thành phố thì đa số các hộ gia đình sinh sống ở đây chủ yếu làm nông nghiệp, đất vườn rộng, mặt
khác lại ở xa trục đường giao thơng do đó tiến hành thu gom là rất khó. Đa số dân ở các phường, xã này tự thu gom rồi chôn lấp hoặc đốt như: xã Thịnh
Đức, Phúc Trìu, Tân Cương.
- Qua việc phỏng vấn và tiếp xúc trực tiếp với nhiều hộ dân, các hộ phàn nàn rất nhiều về việc đóng phí rác thải. Vì các hộ gia đình ở nơng thơn
thường có nhiều trẻ nhỏ, hơn nữa lượng rác khơng nhiều nên lệ phí thu gom vẫn cao.
4.3.2. Một số giải pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại khu nam tp Thái Nguyên.
4.3.2. . Giải pháp về chính sách 73
Để thực hiện thành công các mục tiêu quản lý rác thải, phế thải bảo vệ môi trường nhất thiết phải có sự tham gia tích cực của nhân dân, mặt khác cần
có tổ chức giám sát thực hiện một cách chặt chẽ việc thu gom rác thải, phế thải. Đồng thời phải tuyên truyền giáo dục cộng đồng về ý thức bảo vệ mơi
trường trong đó có vấn đề rác thải, nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
Giải pháp về chính sách giúp cho việc phân loại, thu gom, xử lý các rác thải, phế thải trong sản xuất công, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng
thêm hiệu quả, nhằm vảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính sách đòi hỏi bao quát nhiều vấn đề từ khâu phân loại rác,
đến khâu thu gom rác thải sinh hoạt, phế thải nông nghiệp đến khâu vận chuyển đến nơi xử lý sản phẩm sau xử lý thì tiêu thụ sản phẩm. Cuối cùng là
duy trì việc xử lý rác thải, phế thải, xử lý thích hợp, bảo vệ mơi trường. Vì vậy cần các chính sách sau:
- Tun truyền người dân có ý thức phân loại tại nguồn, việc này sẽ giúp cho công tác vận chuyển, thu gom, tái sử dụng, tái chế được tiến hành
thuận lợi hơn đồng thời tiết kiệm chi phí. - Duy trì và phát triển tổ vệ sinh môi trường làm nhiệm vụ thu gom rác
thải sinh hoạt tại các gia đình đến nơi xử lý. Cần có chế độ chính sách động viên, khuyến khích đối với những người dân làm công việc bảo vệ môi trường
này.
- Mở các lớp đào tạo người dân làm công việc xử lý môi trường. Tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về việc phân loại rác thải thông qua các tổ
chức đoàn thể như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh…

4.3.2.2. Giải pháp đầu tư


- Tạo điều kiện hỗ trợ tài chính cho giai đoạn đầu tuyên truyền phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải về các trang thiết bị vật tư cần thiết
như: dụng cụ lao động, xe đẩy tay, xe chở, tiền lương của công nhân… - Tiến hành điều tra và đăng ký tồn bộ các hộ dân, cơ quan tham gia
đóng phí vệ sinh mơi trường. - Các cấp chính quyền, các tổ chức cá nhân liên quan tạo điều kiện hơn
nữa về vật chất và tinh thần cho những người bảo vệ mơi trường. 74
- Chính quyền các địa phương cần quân tâm và đầu tư hơn nữa đến đời sống của công nhân, mức lương…
- Kêu gọi các nguồn tài trợ cho việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải.
- Lựa chọn và thiết kế xây dựng các nhà máy xử lý rác thải bảo vệ môi trường.

4.3.2.3. Giải pháp về tuyên truyền giáo dục


Cần nhanh chóng tiến hành nhanh hơn nữa các hoạt động giáo dục và quảng cáo để tuyên truyền cho việc nâng cao ý thức quần chúng nhân dân
trong việc bảo vệ môi trường cũng như việc phân loại và thu gom chất thải ngay tại nguồn cụ thể như sau:
- Thường xuyên phát động phong trào bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp bằng các hình thức tổng vệ sinh nhà trường cũng như ngoài đường phố.
Tổ chức các cuộc thi mang tính chất bảo vệ mơi trường như: tìm hiểu về mơi trường, thi vẽ tranh… Các tổ chức đồn thể, các cơ quan nhà máy xí nghiệp
cần tổ chức những buổi vệ sinh môi trường vào cuối tuần huy động tất cả mọi người cùng tham gia.
- Các phường, xã cần tăng cường công tác tuyên truyền các văn bản, các quy định về bảo vệ môi trường trên đài phát thanh vào các buổi sáng sớm,
hoặc chiều tối vào các ngày trong tuần theo lối mưa dầm thấm lâu. - Tổ chức các buổi vệ sinh chung ở từng ngõ xóm vào gàu cuối tuần 1
lần tuần để nâng cao ý thức trách nhiệm cho nhân dân và dần tác động thay đổi thói quen vứt rác bừa bãi.
- Các địa phương cần ban hành các quy định riêng phù hợp về quản lý rác thải để nhân dân thực hiện.
Tóm lại để việc tuyên truyền giáo dục đạt hiệu quả cao chúng ta cần phải xây dựng những hình thức tuyên truyền vận động hấp dẫn phù hợp với
điều kiện của từng địa phương, phong tục tập quán, lứa tuổi, giới tính…cần có sự phối hợp và giúp đỡ của chính quyền địa phương và các đồn thể. Trong
hệ thống quản lý này cần chú trọng đến sự tham gia của người dân. Sự tham gia của người dân có vai trò hết sức quan trọng, người dân có thực sự hiểu
biết và có ý thức cộng đồng thì vấn đề quản lý rác thải sẽ dễ dàng. 4.3.2.4. Giải pháp phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn
75
Thực tế trong q trình sinh hoạt mỗi gia đình thường có thói quen rất tốt đó là phân loại rác thải để tái sử dụng. Đó là việc để riêng các rác thải như:
cơm canh thừa, những phần không sử dụng của rau, củ quả,…dùng làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc như cho gà, lợn, cá, trâu, bò hoặc ủ làm phân bón
cho cây trồng và những rác thải như các trai lọ nhựa, giấy, sắt, mảnh vụn kim loại cũng được các gia đình để riêng và thu gom lại rồi đem bán. Đây là đối
với những hộ gia đình có chăn ni và trồng trọt. Còn đối với những hộ khơng chăn ni trồng trọt thì họ để những thức ăn thừa vào các túi ninol
hoặc sô, chậu…để cho những hộ có nhu cầu hoặc cho những người trực tiếp thu gom rác thải. Việc làm này có ý nghĩa rất lớn trong bảo vệ mơi trường,
giảm bớt chi phí trong vận chuyển, thu gom đồng thời tiết kiệm và tận dụng được vào chăn nuôi phát triển kinh tế, chống lãng phí. Đây chính là một hình
thức của tái sử dụng và quay vòng của chất thải rắn, là phương pháp tốt nhất để giảm nhỏ nhu cầu chôn rác và tiết kiệm vật liệu, tài nguyên thiên nhiên.
Hiện nay việc lựa chọn thu gom rác thải có thể tái chế được tái sử dụng được chủ yếu là do người dân sống bằng nghề nhặt rác, chưa có tổ chức thu gom và
nhặt rác ở quy mô lớn. Rất nhiều chất thải có thể tái chế, tái sử dụng như: kim loại, bìa cattong…do đó cần có phương án tái sử dụng và quay vòng sử dụng
chất thải rắn. 4.3.2.5. Giải pháp về cơng nghệ
Hiện nay có rất nhiều công nhệ cho việc xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng và chất thải nói chung. Nhưng để lựa chọn được những giải pháp tối ưu
cần phải căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của từng địa phương, việc lựa chọn sao cho ít tốn kém, hợp vệ sinh và bảo vệ môi trường.
- Công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh: đây là hình thức đang phổ biến ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.
- Phương pháp nhiệt: Là hình thức phổ biến ở nhiều nước châu Âu, Hoa Kỳ và một số nước ở châu Á như Nhật Bản, Singapo.
- Làm phân ủ: đây là công nghệ đã và đang được sử dụng trong nhiều tỉnh thành trong cả nước và đang đem lại hiệu quả cao trong xử lý rác thải.
- Công nghệ xử lý SERAPHIN: Đây là công nghệ xử lý rác thải đầu tiên ở Việt Nam do người Việt Nam nghiên cứu, chế tạo và lắp ráp dây chuyền sản
76
xuất, có khả năng tái chế tới 90 lượng rác thải gồm cả rác vô cơ và hữu cơ. Rác thải sinh hoạt được xử lý ngay trong ngày nên giảm được diện tích chơn
lấp rác, tiết kiệm được đất đai. Mức đầu tư cho nhà máy sử dụng công nghệ Saraphin thấp chỉ bằng 30 - 40 so với dây chuyền nhập khẩu. Cơng nghệ
này đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp bằng độc quyền sáng chế. Được sử dụng để phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt bằng thiết bị cơ khí và áp lực
để tái chế hầu như hoàn toàn khối lượng rác thải sinh hoạt dựa trên nguyên tắc: phân rác thải thành 3 dòng như sau:
+ Dòng các chất hữu cơ dễ phân hủy + Dòng các chất vơ cơ
+ Dòng phế thải dẻo -
Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của công ty cổ phần Tâm Sinh Nghĩa: Đây là cơng nghệ có sự kết hợp giữa 3 cơng nghệ chủ yếu đó là cơng
nghệ xé, tách và tuyển rác; cơng nghệ ủ rác với những quy trình và chế phẩm hiện đại nhất ở Việt Nam hiện nay; công nghệ tái chế đối với vật liệu dẻo và
các phế thải để tận dụng tối đa rác thải. Đây là dây chuyền xử lý rác thải với vài chục thiết bị phức tạp và hiện đại. Công nghệ này được nghiên cứu trong
nước, hạn chế chôn lấp, phù hợp với đặc thù rác thải sinh hoạt Việt Nam. Các sản phẩm tạo thành gồm phân hữu cơ, sản phẩm nhựa tái chế và các sản phẩm
khác. Với công nghệ này trên 90 dòng vật chất chất thải rắn sinh hoạt được chuyển hóa, tái sinh, tái chế, tái sử dụng. Tỷ lệ chôn lấp dưới 10 ở dạng bã
thải đã được làm sạch các chất hữu cơ bám đinh và khồn còn khả năng gây ơ nhiễm cho mơi trường. Đây là công nghệ phù hợp với đặc điểm rác thải sinh
hoạt ở nước ta, chưa qua phân loại tại nguồn đối vớ cả rác tươi và rác đã chôn lấp.
77
Hình 4.1: Sơ đồ quy trình cơng nghệ Tâm Sinh Nghĩa xử lý CTR sinh hoạt A. Tiếp nhận rác, cân điện tử, khử mùi hôi
B. Tách tuyển rác đặc biệt C. Dây chuyền phân loại rác nằng máy
I
1
. Dây chuyền xử lý kiểm sốt thành phần, kích thước rác hữu cơ khó phân hủy
I
2
. Hệ thống tháp ủ phân giải hỗn hợp hữu cơ dễ phân hủy I
3
. Dây chuyền tách tuyển mùn hữu cơ I.
4
.
1
. Dây chuyền sản xuất phân bón hữu cơ I
.4.2
. Tận thu mùn vụn hữu cơ để sản xuất mùn hữu cơ vi sinh loại 2 phục vụ cho cải tạo đất đồi rừng ven biển.
I.
4.3
. Tận thu xơ hữu cơ khó phân hủy làm chất đốt thu hồi nhiệt sinh để sấy giảm ẩm mùn hữu cơ và sấy khô phế thải dẻo.
I.
4.4.
Dây chuyền cơng nghệ đóng rắn phế thải trơ và vô vơ. II.
1
. Dây chuyền phân loại, băm cắt nhỏ làm sạch và sấy khô phế thải dẻo. II
.2
. Dây chuyền tái chế phế thải dẻo. II.
3
. Dây chuyền sản xuất các sản phẩm nhựa tái chế. - Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp tùy nghi yếm khí
A.B.T Anoxy Bio Technology C
I
1
I
2
I
3
N
1
N
2
II
1
II
2
II
3
I
4.2
I
4.4
I
4.3
B I
4. 1
A 78
Nguyên lý hoạt động:
Rác tại các điểm tập kết trong thành phố được xử lý mùi hôi bằng chế phẩm sinh học, sau đó đưa vào hầm ủ, trước khi đưa rác vào, hầm ủ có phun
chế phẩm sinh học và chất phụ gia sinh học. Rác tại các điểm tập kết đưa về sân xử lý không cần phân loại cho vào hầm ủ, quá trình thực hiện có phun và
trộn chế phẩm sinh học, dùng bạt phủ kín hầm và ủ trong thời gian 28 ngày; trong thời gian ủ cứ 3 ngày mở bạt kiểm tra, phun bổ sung chế phẩm sinh học
lên bề mặt. Sau 28 ngày tiến hành đưa rác lên phân loại rác, các thành phần phi hữu cơ xử lý riêng, mùn hữu cơ được chế biến thành phân hữu cơ sinh
Hình 4.2: Sơ đồ công nghệ xử lý CTR bằng phương pháp tùy nghi A.B.T
79

4.3.2.6. Phân loại rác thải ngay tại nhà


Hiện nay tất cả rác thải sinh hoạt ở các phường, xã đều không được phân loại ra mà đổ lẫn lộn với nhau. Điều này khơng chỉ gây khó khăn cho
những người trực tiếp thu gom mà còn là mối nguy hiểm đối với những người làm trong khâu xử lý, vận chuyển. Do đó để cho cơng tác quản lý rác thải đạt
hiệu quả tốt và đảm bảo mơi trường thì người dân phải có trách nhiệm và có ý thức tự rác trong phân loại rác và phân thành 2 loại sau:
- Chất thải hữu cơ: rau, củ quả, thức ăn thừa… - Chất thải vô cơ: Kim loại, đồ nhựa, giấy vụn, sành
80

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (85 trang)

×