1. Trang chủ >
  2. Thể loại khác >
  3. Tài liệu khác >

III PHẬT GIÁO TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA NGƯỜI VIỆT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.88 KB, 16 trang )


CHƯƠNG III PHẬT GIÁO TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA NGƯỜI VIỆT


NAM
N
hư bất cứ một cộng đồng nào khác, cộng đồng người Việt Nam trong thời kỳ cổ đại muốn tồn tại và phát triển thì phải lợi
dụng, chế ngự và cải tạo thiên nhiên xung quanh mình, phải tổ chức cải tạo xã hội của mình, phải duy trì và phát triển giống
nòi. tính chất đó đã làm cho hoạt động thực tiễn của họ ngay từ đầu trở đã có tính tồn diện. Vì vậy thế giới quan với đặc trưng
là hình ảnh của sự vận động đó của họ cũng ngay từ đầu đã mang tính chất tồn diện.
Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, mặc dù nền sản xuất thấp kém, khoa học tự nhiên chưa xuất hiện, cơng nghiệp khơng có
trên đất Việt Nam mặc dù những nhận thức về tự nhiên và xã hội ở Việt Nam phần nhiều còn ngây thơ, chất phác, còn dừng lại ở
mức độ tư duy kinh nghiệm nhưng những tác phẩm thành văn và hiện vật ghi chép lại đã cho thấy ở họ có một bức tranh tổng quát
và hoàn thiện về thế giới. Do hoàn cảnh lịch sử, các học thuyết Nho, Phật,, Lão từ
bên ngoài truyền vào nước ta. Các học thuyết đó khơng những khơng phá vỡ sự hồn chỉnh vốn có của thế giới quan người Việt
Nam mà còn dung hồ phát triển trên cơ sở đó. Xét về mặt chất thì Nho, Phật, Lão có quan niệm khác nhau, thậm chí mâu thuẫn
nhau về thế giới, xã hội và con người. Nhưng xét về mặt kết cấu của một thế giới quan thì Nho, Phật, Lão lại là các bộ phận cần
thiết hợp thành. Giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, có sự phân cơng trách nhiệm, đồng thời cũng có sự nương tựa vào nhau, bổ
8
sung cho nhau làm thành một thế giới quan toàn diện, cần thiết cho con người phong kiến.
Thời kỳ Lý - Trần, các vua và triều đình cùng một lúc coi trọng cả ba đạo, cùng một lúc sử dụng cả nhà nho, nhà sư và đạo
sĩ. Họ đã tổ chức ra các kỳ thi tam giáo và dựa vào thái độ của họ, người đương thời đã đề xuất ra các lý thuyết Tam giáo đồng
nguyên, Tam giáo đồng quy, Tam giáo nhất nguyên... Lý thuyết Tam giáo đồng nguyên còn được nêu lên mạnh mẽ ở thế
kỷ XVIII. Đó khơng phải là điều ngẫu nhiên, mà có cơ sở trong nội dung mỗi đạo cũng như vị trí mỗi đạo trong thế giới quan
người Việt Nam. Nho giáo, một học thuyết được giai cấp thống trị đề cao và
thần thánh hoá, nhưng nó chỉ là học thuyết chính trị và đạo đức của giai cấp phong kiến. Trong nhiều phương diện hoạt động của
con người, nó chỉ chú ý tới phương diện xã hội, trong nhiều mối quan hệ xã hội, nó chỉ chú ý đến quan hệ vua - tôi, cha - con,
chồng - vợ. Bước vào lĩnh vực khác của đời sống xã hội, của sinh hoạt con người nó bỏ qua và tỏ ra bất lực.
Lão giáo, một học thuyết yếm thế, chủ trương xã lánh sự phát triển của xã hội, quay về bắt trước giới tự nhiên, có vẻ như
mâu thuẫn với chủ trương nhập thế của Nho giáo, với cách sống của nhà nho nhưng bao đời nay vẫn được con người phong kiến
vin lấy, ngân nga tán thưởng. Chế độ phong kiến đã dầy vò con người, đã chà đạp lên tài năng của con người khiến cho những
con người tích cựu nhất cũng phải rơi vào cảnh trầm luân để rồi phải lấy đạo Lão - Trang làm niềm an ủi cho mình. Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ .v.v.. tuy con đường
9
hoạn lộ khác nhau, đóng góp cho xã hội khác nhau, nhưng cùng chung một hoàn cảnh là hướng vào đạo Lão lúc cuối đời.
Nhưng đạo Nho và đạo Lão - Trang lảng tránh hoặc có thái độ hư vơ chủ nghĩa đối với những vấn đề cơ bản có liên quan đến
đời sống con người, như các vấn đề: sống chết, thọ yểu, phúc họa, sướng khổ... Chủ nghĩa tôn quân của đạo Nho cho rằng chưa
biết việc sống làm gì phải biết việc chết, cho rằng thọ hay yểu là do số mệnh, phúc hay họa là do trời... Chủ nghĩa tương đối của
đạo Lão - Trang cho rằng sống hay chết, thọ hay yểu là điều tự nhiên con người không cần can thiệp vào, còn về phúc hoạ thì
cho rằng trong cái phúc có ẩn náu cái hoạ, trong cái hoạ có ẩn náu cái phúc... Tất cả những lý lẽ đó khơng đủ để thoả mãn
những nhu cầu về mặt tâm lý cũng như nhận thức của người Việt Nam. Đạo Phật đã giành lấy một vai trò trong chỗ trống đó trong
tinh thần người Việt Nam. Sự phân công giữa Nho và Phật trong thế giới quan người
Việt hình như là điều tự nhiên. Thế mà điều tự nhiên này lại không được mấy ai suy xét đến ngọn nguồn. tuy nhiên Trần Thái
Tơng cũng đã nói: Đại giác của đức Phật là phương diện dẫn dụ mọi bầy mê hoặc là đường tắt để tỏ rõ mọi lẽ tử sinh làm cán cân
cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai, đó là trọng trách của tiên thánh..
Sự lớn mạnh của Phật giáo, sự chi phối đời sống tinh thần toàn xã hội của Phật giáo đã khiến nhiều nhà nho trong lịch sử
không hiểu được và thắc mắc. Lê Quát, một nho sĩ thế kỷ XIV phàn nàn rằng: Nhà Phật lấy hoạ phúc để cảm lòng người, sao
10
được người ta tin sâu bền thế? Đại việt sử ký toàn thư, Bùi Huy Bích một nho sĩ khác ở thế kỷ XVIII cũng phàn nàn rằng:
Nhà nhà mê hoặc vào thuyết báo ứng, người ở đâu thì lề Phật ở đấy Lừ trung tạp thuyết của Bùi Huy Bích. Sự khơng hiểu
được đó vì thái độ thành kiến và thói quen nhắm mắt trước hiện thực của nhà nho.
Phật giáo, ngoài vấn đề thế giới quan của giai cấp phong kiến, còn là vấn đề của người dân bình thường, được quần chúng
tự nguyện tin theo. Ngồi tính giai cấp ra, Phật giáo còn có tính quần chúng. Chính vì vậy, khi cuộc cách mạng xã hội nổ ra thì
Nho và Lão - Trang khơng còn cơ sở tồn tại, nhưng Phật giáo vẫn còn sống dai dẳng.
11

CHƯƠNG IV GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA PHẬT GIÁO TRONG


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

×