1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >
Tải bản đầy đủ - 79 (trang)
Chúng tôi không có trường hợp nào dùng khung độn tạo hình. Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2006) về tạo hình tổn khuyết vành tai không toàn bộ có 43,8% trường hợp sử dụng khung sụn sườn [11]. Sự khác biệt này là do Nguy

Chúng tôi không có trường hợp nào dùng khung độn tạo hình. Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2006) về tạo hình tổn khuyết vành tai không toàn bộ có 43,8% trường hợp sử dụng khung sụn sườn [11]. Sự khác biệt này là do Nguy

Tải bản đầy đủ - 79trang

67



4.3.2. Biến chứng

Trong bảng bảng 3.17, biến chứng của chấn thương tai ngoài tai ngoài ít gặp.

CTVT có 8,7% trường hợp có biến chứng gồm 2 trường hợp viêm da (3,5%), 2

trường hợp hoại tử tổ chức (3,5%) và 1 trường hợp viêm sụn - màng sụn (1,7%).

CTÔT có 14,3% có biến chứng (đều là viêm da). Nguyên nhân của các biến chứng

này thường là do thương tổn lớn, tổ chức giập nát nhiều, có nhiều dị vật bẩn hoặc

bỏng sâu gây hủy hoại tổ chức và một số khác còn do ý thức điều trị không đúng

của bệnh nhân dẫn đến nhiễm trùng vết thương kéo dài, hoại tử tổ chức, để lại di

chứng xấu cho tai ngoài.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2006) thì biến chứng phẫu thuật

tổn khuyết vành tai cũng ít gặp (4,2% nhiễm trùng, 2,1% viêm sụn và 2,1% hoại tử

da) [11]. Không có sự khác biệt về các biến chứng giữa nghiên cứu của Nguyễn

Thái Hưng và chúng tôi (p > 0,05). Các biến chứng ít xảy ra có lẽ do chúng tôi thực

hiện đúng kỹ thuật, cắt lọc tổ chức tiết kiệm, cầm máu kỹ, phủ kín sụn và chăm sóc

vết thương tốt.

4.3.3. Kết quả điều trị khi lành vết thương

4.3.3.1. Triệu chứng lâm sàng khi lành vết thương

Theo bảng 3.18, chấn thương vành tai khi lành vết thương đa số còn sưng nề

(93,1%) và đau tai (50,0%); chấn thương ống tai khi lành còn nhiều nhất là ù tai

(38,1%), đau và sưng nề (33,3%).

Đây là các trường hợp chấn thương nên khi lành, các mép vết thương đã dính

kín với nhau nhưng quá trình viêm tại chỗ vẫn còn tồn tại nên vết thương còn sưng

nề và cảm giác đau tại vết thương [21]. Triệu chứng ù tai trong CTÔT còn có thể do

sưng nề ống tai, hẹp ống tai hoặc là cảm giác chủ quan của bệnh nhân.

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp CT cả VT và ÔT đã hơn 1

tháng, điều trị tại tuyến dưới nhưng tình trạng nhiễm trùng tai ngoài không cải

thiện, có chít hẹp cửa ÔT, VT biến dạng một phần, khi lành vẫn còn chảy mủ tai

(1,4%). Điều này có lẽ do kỹ thuật khâu không đúng với cấu trúc giải phẫu tai



68



ngoài, không đảm bảo vô trùng khi khâu vết thương, điều trị chống nhiễm khuẩn

không tốt.

4.3.3.2. Kết quả điều trị khi lành vết thương

Kết quả điều trị khi lành vết thương thường được tính khi bệnh nhân xuất

viện hoặc khi cắt chỉ vết thương đối với các bệnh nhân điều trị ngoại trú. Dựa vào

tiêu chuẩn đánh giá kết quả khi lành, bảng 3.19 cho thấy kết quả:

Tốt: 63,8% CTVT, 71,4% CTÔT và 66,7% CTTN chung.

Trung bình: 32,8% CTVT, 23,8% CTÔT và 30,4% CTTN chung.

Xấu: 3,4% CTVT, 4,8% CTÔT và 2,9% CTTN chung (trong đó gồm 1

CTVT, 1 chấn thương cả VT và ÔT).

Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2006) về tạo hình tổn khuyết vành tai

cho kết quả gần (khi bệnh nhân xuất viện) đối với 48 trường hợp phẫu thuật tổn

khuyết vành tai là tốt 68,7%, trung bình 27,1% và xấu 4,2% [11].

So sánh kết quả điều trị CTTN khi lành của chúng tôi với kết quả gần tạo

hình tổn khuyết VT của Nguyễn Thái Hưng thì không có sự khác biệt (p > 0,05).

Kết quả điều trị khả quan như vậy có lẽ là do bệnh nhân được đưa đến bệnh viện

sớm, xử trí sớm sau chấn thương (82,3% trước 6 giờ) và được điều trị đúng .

4.3.4. Kết quả tái khám sau điều trị 1 tháng

4.3.4.1. Triệu chứng lâm sàng khi tái khám sau điều trị 1 tháng

Về các triệu chứng cơ năng, theo bảng 3.20, khi tái khám sau điều trị 1

tháng các triệu chứng cơ năng còn rất ít. Nếu xét 69 trường hợp CTTN chung thì

còn 7,2% có đau tai, 2,9% có ù tai, 1 trường hợp CT cả vành tai và ống tai có nghe

kém (1,4%) và 1,4% có chảy dịch tai. Trong 58 trường hợp CTVT còn nhiều nhất là

đau tai (8,6%). Trong 21 trường hợp CTÔT còn 2 trường hợp ù tai (9,5%), 1 trường

hợp nghe kém và chảy mủ ống tai (4,8%), không có đau tai. Các triệu chứng này

gặp ở các thương tổn nặng, phá hủy nhiều tổ chức, có sẹo xấu co kéo hay hẹp ÔT.

Về tình trạng vết thương sau điều trị 1 tháng (bảng 3.21) ta thấy: Sẹo đẹp

chiếm đa số: 63,8% CTVT, 80,9% CTÔT, 66,7% CTTN. Sẹo trung bình: 31,0%

CTVT, 14,2% CTÔT và 27,5% CTTN. Sẹo xấu ít gặp: 5,2% CTVT, 4,8% CTÔT và



69



5,8% CTTN. Không có vết thương không liền. Kết quả liền vết thương vành tai

trong tạo hình tổn khuyết VT của Nguyễn Thái Hưng (2006) thì sẹo đẹp chiếm

73,9%, sẹo xấu chiếm 26,1%, không có vết mổ không lành [11]. Vậy, nghiên cứu

của chúng tôi tương tự Nguyễn Thái Hưng (p > 0,05).

Về màu sắc da tai bên bị thương so với bên lành khi tái khám sau 1 tháng

(bảng 3.22) ta thấy phần lớn là đồng màu với da xung quanh (91,4% CTVT, 100%

CTÔT, 92,8% tai bị CT), có 5 trường hợp da VT không đồng màu với da xung

quanh (7,2% CTTN) gặp trong các vết thương đứt rời hoặc đứt lìa quá lớn, nhất là

đứt lìa VT khỏi gốc của nó làm cho sự nuôi dưỡng vạt da ghép kém nên có những

phần hoại tử. Ngoài ra, trong các vết thương bỏng sâu, hủy hoại nhiều tổ chức thì

sẹo của vết thương không còn cấu trúc của da bình thường cũng gây khác màu.

Về độ dày của da tai sau 1 tháng (bảng 3.23) ta có: CTVT chủ yếu là không

dày da (46,6%) và dày nhẹ (44,8%). CTÔT đa số không dày da (85,7%), 1 trường

hợp da dày hơn rõ (4,8%). Trên 69 CTTN thì đa số là không dày da (53,6%) hoặc

dày nhẹ (39,1%). Độ dày da tai này được so sánh giữa bên bị thương với bên lành.

Vì tai ngoài gồm chủ yếu da và sụn nên những chấn thương nặng, sự phá hủy cấu

trúc nhiều hoặc viêm nhiễm kéo dài đều có thể làm tăng sinh mô sợi làm cho các tổ

chức này dày lên.

Về hình thái của vành tai sau 1 tháng: Hình thái của vành tai đóng một phần

quan trọng trong việc đánh giá kết quả điều trị CTVT. Trong nghiên cứu này, chúng

tôi dựa vào trục của vành tai, chiều dài của vành tai và độ lồi lõm của gờ luân nhĩ,

rãnh luân nhĩ, gờ đối luân, hố thuyền so với bên tai lành để đánh giá hình thái vành

tai. Dựa vào bảng 3.24, trên 58 CTVT tái khám ta thấy: đúng trục 96,6%, lệch trục

3,4%; chiều dài VT bị chấn thương so với vành tai lành thường không ngắn hơn

(82,8%), không có trường hợp VT ngắn hơn > 2cm; độ lồi lõm của vành tai rõ

chiếm đa số 82,8%, độ lồi lõm không rõ chiếm 15,5%, có 1 trường hợp mất độ lồi

lõm (1,7%). Vậy, khi tái khám sau điều trị 1 tháng thì hình thái VT bị chấn thương

đã điều trị đa số không khác biệt so với vành tai bên lành, tương ứng với hình thể

giải phẫu bình thường của vành tai, do đó phần lớn vành tai đảm bảo được thẩm mỹ

của nó. Đây là một mục tiêu được đặt ra trong quá trình điều trị CTTN.



70



Về kết quả hẹp ống tai sau 1 tháng: So sánh độ hẹp của ÔT bị chấn thương

so với bên lành sau điều trị 1 tháng cũng là một mục tiêu để chúng tôi đánh giá kết

quả điều trị CTTN. Trong biểu đồ 3.5, đường kính ÔT sau điều trị 1 tháng có 19

trường hợp là không hẹp (90,4%), có 1 trường hợp hẹp ≤ 50% (4,8%) và 1 trường

hợp hẹp > 50% (4,8%) gặp ở bệnh nhân bị chấn thương đã lâu, nhiễm trùng tai

ngoài kéo dài. Vậy, đường kính ống tai ngoài khi tái khám đa số là tốt, tương tự với

kích thước ống tai bên lành, nó đảm bảo được chức năng và thẩm mỹ của ống tai.

4.3.4.2. Kết quả khi tái khám sau điều trị 1 tháng

Kết quả tái khám sau 1 tháng được đánh giá dựa vào tiêu chuẩn đánh giá kết

quả khi tái khám, bảng 3.25 cho thấy kết quả:

Tốt: 69,0% CTVT, 90,4% CTÔT và 72,5% CTTN chung.

Trung bình: 29,3% CTVT, 4,8% CTÔT và 24,6% CTTN chung.

Xấu: 1,7% CTVT, 4,8% CTÔT và 2,9% CTTN chung.

Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng cho kết quả xa (sau phẫu thuật 3 tháng)

đối với 48 trường hợp phẫu thuật tổn khuyết vành tai là tốt 57,1%, trung bình 39,3%

và xấu 3,6% [11]. Không có sự khác biệt với kết quả của chúng tôi (p > 0,05).

Vậy, kết quả tái khám sau một tháng thường là tốt. Điều này có lẽ do việc xử

trí sớm, đúng kỹ thuật và cũng đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn

còn trường hợp cho kết quả xấu, điều trị kéo dài và vẫn làm ảnh hưởng xấu đến

chức năng và thẩm mỹ tai ngoài.

4.3.5. Đánh giá kết quả trước và sau điều trị

4.3.5.1. Kết quả điều trị chấn thương tai ngoài khi lành vết thương và sau điều trị

1 tháng

So sánh kết quả điều trị CTTN giữa thời điểm lành vết thương và khi tái

khám sau điều trị 1 tháng qua biểu đồ 3.7 thì cho ta kết quả:

Tốt: có sự gia tăng từ 66,7% khi lành vết thương lên 72,5% sau 1 tháng.

Trung bình: giảm từ 30,4% khi lành vết thương xuống 24,6% sau 1 tháng.



71



Xấu: có 2 trường hợp xấu (2,9%) không cải thiện so với khi lành vết thương,

gặp trong 1 trường hợp chít hẹp cửa ống tai và 1 trường hợp bỏng sâu, hủy hoại

nhiều tổ chức, thẩm mỹ của tai ngoài xấu.

Như vậy, có sự tiến triển tốt kết quả điều trị chấn thương tai ngoài giữa thời

điểm lành vết thương và sau điều trị 1 tháng nhưng không đáng kể (p > 0,05) và

những hậu quả xấu vẫn không cải thiện. Thực tế tai ngoài sau 1 tháng điều trị

thường có lớp da mỏng hơn, mềm mại hơn, màu da tại chỗ ít khác biệt hơn, các

triệu chứng cơ năng của bệnh nhân cũng giảm bớt hơn nhiều so với khi lành vết

thương do đó cho kết quả tốt hơn. Các trường hợp cho kết quả xấu không cải thiện

gợi nhắc cho chúng ta không nên bỏ sót CTTN trong bất cứ trường hợp nào.

4.3.5.2. Liên quan giữa mức độ thương tổn với kết quả khi lành

Đối chiếu giữa mức độ thương tổn với kết quả khi lành vết thương qua bảng

3.27, chúng tôi nhận thấy:

- Các tổn thương nhẹ cho kết quả khi lành đa số là tốt (96,3%), không có kết

quả xấu.

- Các tổn thương vừa cũng cho kết quả khi lành đa số là tốt (66,7%), 30,0%

trường hợp cho kết quả trung bình.

- Các tổn thương nặng cho kết quả khi lành đa số là trung bình (91,7%),

không có kết quả tốt.

Như vậy, mức độ thương tổn càng nhẹ thì cho kết quả tốt càng nhiều và

ngược lại, liên quan có ý nghĩa thống kê với χ2 = 34,7 và p < 0,01.

4.3.5.3. Liên quan giữa mức độ thương tổn với kết quả tái khám sau 1 tháng

Đối chiếu giữa mức độ thương tổn với kết quả khi tái khám sau 1 tháng qua

bảng 3.28, chúng tôi nhận thấy:

- Các tổn thương nhẹ sau điều trị 1 tháng cho 100% kết quả là tốt.

- Các tổn thương vừa cũng cho kết quả khi tái khám đa số là tốt (63,4%),

33,3% trường hợp cho kết quả trung bình.



72



- Các tổn thương nặng cho kết quả khi tái khám đa số là trung bình (58,4%),

33,3% trường hợp có kết quả tốt và 8,3% trường hợp xấu. So với bảng 3.27 thì mức

độ nặng cho kết quả tốt tăng lên (từ 0,0% tăng lên 33,3%).

Như vậy, mức độ thương tổn càng nhẹ thì cho kết quả khi tái khám tốt càng

nhiều và ngược lại, liên quan có ý nghĩa thống kê với



χ2 = 20,8 và p < 0,01. Điều



này cũng hợp lý vì những vết thương mức độ nhẹ hơn và trung bình thì sự phá hủy

tổ chức ít hơn, vết thương nhỏ hơn và đáp ứng với điều trị tốt hơn.



KẾT LUẬN



Qua nghiên cứu 68 bệnh nhân bị chấn thương tai ngoài trên 69 tai bị chấn

thương, trong đó có 58 vành tai bị chấn thương và 21 ống tai bị chấn thương tại

Bệnh viện Trưng ương Huế và Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng

5/2008 đến tháng 6/2009, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của chấn thương tai ngoài



- Lứa tuổi từ 16 - 35 chiếm đa số 58,9%. Nam (69,1%) nhiều hơn nữ (30,9%)

- Bệnh nhân ở nông thôn (60,3%) nhiều hơn thành thị (39,7%).

- Thời gian chấn thương thường gặp vào khoảng >10g - 12g (17,6%) và >22

- 0g (13,2%),

- Nguyên nhân: tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất 50,0%.

- Thời gian từ khi chấn thương đến khi xử trí trước 6 giờ chiếm đa số 82,3 %

- Chấn thương phối hợp chiếm 58,8%, chấn thương sọ não cao nhất (26,5%).

- Chấn thương tai trái (60,9%) nhiều hơn tai phải (39,1%).

- Loại chấn thương: 66 trường hợp rách, đứt, giập tai ngoài; 11 trường hợp

bỏng tai ngoài; 2 trường hợp tụ dịch vành tai.

- Triệu chứng lâm sàng: đau tai 95,7%; ù tai 56,5%; nghe kém 14,5%; chảy

dịch 89,9%; sưng nề 94,2%; biến dạng vành tai 43,5%; hẹp ống tai 8,7%.



73



- Vị trí: Chấn thương vành tai thường gặp ở 2/3 trên (24,1%); Chấn thương

ống tai hay gặp ở 1/2 ngoài (61,9%).

- Tổn thương rách, đứt, giập vành tai thường gặp là rách da lộ sụn, xương

(76,1%), kích thước vừa (50,0%).

- Tổn thương rách, đứt, vỡ ống tai thường gặp là vết thương xây xát (55,0%),

kích thước nhỏ (85,0%).

- Bỏng tai ngoài 100% là do nóng, chủ yếu ở vành tai (10/11) và độ 2 (6/11).

- Tụ dịch vành tai gặp 2 trường hợp đều ở 1/3 trên và kích thước vừa.

- Có 7 trường hợp cấy dịch tại vết thương tai ngoài: 42,9% trường hợp cấy

không mọc, Staphylococcus 28,6% và Streptococcus 28,6%, Pseudomonas 14,3%,

và vi khuẩn khác 14,3%.

- Mức độ thương tổn: ở vành tai nhiều nhất là vừa (46,5%) và nhẹ (34,5%); ở

ống tai nhiều nhất là nhẹ (61,9%).

2. Đánh giá kết quả điều trị chấn thương tai ngoài

- Phương pháp điều trị: ở chấn thương vành tai điều trị chủ yếu là cắt lọc,

khâu vết thương (74,1% chấn thương vành tai); ở chấn thương ống tai nhiều nhất là

điều trị nội khoa (71,4% chấn thương ống tai).

- Thời gian lành vết thương tai ngoài đa số trước 7 ngày (65,2%), trên 30

ngày rất ít gặp (4,4%). Thời gian trung bình là 8,36 ± 6,94 ngày.

- Biến chứng của chấn thương tai ngoài ít gặp (8,7% chấn thương vành tai và

14,3% chấn thương ống tai).

- Kết quả điều trị khi lành vết thương tai ngoài: tốt: 66,7%, trung bình:

30,4%, xấu 2,9%.

- Kết quả sau điều trị một tháng: tốt: 72,5%, trung bình: 24,6%, xấu: 2,9%.

- Các triệu chứng khi lành vết thương và sau điều trị 1 tháng có cải thiện so

với trước điều trị.

- Đối chiếu kết quả điều trị khi lành vết thương và sau điều trị 1 tháng: kết

quả tốt tăng từ 66,7% lên 72,5%, kết quả xấu không thay đổi (2,9%).



74



- Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ thương tổn với kết quả

khi lành vết thương và với kết quả khi tái khám sau 1 tháng: mức độ thương tổn

càng nhẹ thì cho kết quả tốt càng nhiều và ngược lại.



KIẾN NGHỊ



Qua nghiên cứu và phân tích, chúng tôi đề xuất một vài ý kiến sau:

- Chấn thương tai ngoài cần phải được phát hiện và điều trị sớm, đặc biệt

trong các trường hợp có chấn thương khác phối hợp, tránh bỏ sót sẽ để lại di chứng

xấu cho tai.

- Nếu bệnh nhân nằm điều trị ở các khoa khác thì cần quan tâm hơn nữa

trong việc chăm sóc vết thương tai ngoài hằng ngày.

- Khi chấn thương tai ngoài đã có biến chứng thì cần phải điều trị tích cực và

triệt để.

- Cần có biện pháp tuyên truyền giáo dục, kết hợp với kiểm tra, cưỡng chế

trong việc thực hiện an toàn giao thông, an toàn lao động và cẩn thận trong sinh

hoạt hằng ngày để tránh xảy ra chấn thương.

- Trong việc đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông thì cần phải sử dụng

mũ đảm bảo chất lượng và nên có phần bảo vệ hai tai ở mũ bảo để đảm bảo an toàn

tính mạng của người dân.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chúng tôi không có trường hợp nào dùng khung độn tạo hình. Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hưng (2006) về tạo hình tổn khuyết vành tai không toàn bộ có 43,8% trường hợp sử dụng khung sụn sườn [11]. Sự khác biệt này là do Nguy

Tải bản đầy đủ ngay(79 tr)

×