Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
- Quan hệ sản xuất trong tổ chức và quản lý sản xuất: - Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.

- Quan hệ sản xuất trong tổ chức và quản lý sản xuất: - Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.

Tải bản đầy đủ - 23trang

Ba mối quan hệ trên là một thể thống nhất hữu cơ, trong đó Quan hệ sở hữu có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
1.2.1 - Quan hệ sở hữu đối với Tư liệu sản xuất quyết định bản chất của Quan hệ sản xuất. Lịch sử xã hội lồi người đã có hai loại hình sở hữu cơ bản đối với Tư
liệu sản xuất: Sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội.
- Sở hữu xã hội là sở hữu mà trong đó những Tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về mọi thành viên trong xã hội. Trên cơ sở đó, họ có vị trí bình đẳng nhau
trong tổ chức lao động xã hội và phân phối sản phẩm. Sở hữu xã hội thực hiện điển hình ở hai hình thức cơ bản:
+ Sở hữu của bộ tộc , thị lạc trong phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ.
+ Sở hữu tập thể Sở hữu hợp tác xã và sở hữu toàn dân Sở hữu quốc doanh trong phương thức sản xuất Công sản Chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là Xã
hội Chủ nghĩa. - Sở hữu Tư nhân tức quyền sở hữu đối với những Tư liệu sản xuất chủ yếu
thuộc cá nhân riêng biệt trong xã hội. Lịch sử đã có ba loại sở hữu tư nhân điển hình: + Sở hữu Chiếm hữu
+ Sở hữu Phong kiến. + Sở hữu Tư bản Chủ nghĩa.
Tương ứng với ba hình thức sở hữu trên là ba chế độ người bóc lột người, nguồn gốc sản sinh ra mọi bất bình đẳng trong xã hội.

1.2.2 - Quan hệ sản xuất trong tổ chức và quản lý sản xuất:


Thích ứng với một kiểu sở hữu là một chế độ tổ chức và quản lý sản xuất nhất định
. Mặc dù phụ thuộc vào Quan hệ sản xuất nhưng tổ chức và quản lý sản
xuất có tác động lớn đối với q trình sản xuất. Chính nó là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền kinh tế.
7
1.2.3 - Đối với quan hệ về phân phối sản phẩm lao động, phụ thuộc vào trên nhưng thông qua tổ chức và quản lý, nó là chất xúc tác quan trọng đặc biệt trong
sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần cần có cơ chế phân phối sản phẩm hợp lý.
Nhận thức được các loại hình sở hữu trên là 1 vấn đề cần thiết, từ đó khơng được tuyệt đối hố bất kỳ một quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả
ba mặt trong Quan hệ sản xuất.
1.3 - Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
Sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lương sản xuất là một trong những quy luật cơ bản nhất
của đời sống xã hội. Quy luật này chỉ rõ động lực và xu thế phát triển của lịch sử.

1.3.1 - Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.


Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của Tư liệu sản xuất và sức lao động. Khi công cụ sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất
ra những sản phẩm cho xã hội không cần đến lao động của nhiều người thì Lực lượng sản xuất có tính chất các thể. Khi cơng cụ sản xuất được nhiều người sử
dụng để sản xuất ra một sản phẩm thì Lực lượng sản xuất mang tính xã hội. Trình độ sản xuất được thể hiện ở trình độ tinh xảo và hiện đại của công cụ
sản xuất, trình độ chun mơn, nghiệp vụ và kỹ năng - kỹ xảo của người lao động, trình độ phân cơng lao động xã hội , tổ chức quản lý sản xuất và quy mơ của nền
sản xuất. Trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất càng cao thì chuyên mơn hố
và phân cơng lao động càng sâu. Trình độ phân cơng lao động và chun mơn hố là thước đo trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất.
1.3.2 - Lực lượng sản xuất quy định sự hình thành, phát triển và biến đổi của Quan hệ sản xuất. Lực lương sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, là
nội dung của phương thức sản xuất. Quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, là hình thức xã hội. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội
8
dung là cái quyết định, nội dung thay đổi trước, hình thức thay đổi sau và phụ thuộc vào nội dung.
Lực lượng sản xuất phát triển thì Quan hệ sản xuất thay đổi phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất. Sự phù hợp đó làm cho Lực lượng
sản xuất tiếp tục phát triển . Khi tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất phát triển đến mức nào đó sẽ mâu thuẫn với Quan hệ sản xuất hiện có, đòi hỏi xố bỏ
Quan hệ sản xuất cũ để hình thành Quan hệ sản xuất mới phù hợp với Lực lượng sản xuất đang phát triển, phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất
mới ra đời. Sự phát triển của Lực lượng sản xuất từ thấp tới cao qua các thời kỳ lịch sử
khác nhau đã quyết định sự thay thế Quan hệ sản xuất cũ bằng Quan hệ sản xuất mới cao hơn đưa xã hội lồi người qua nhiều hình thái xã hội khác nhau với những
kiểu Quan hệ sản xuất khác nhau. Lịch sử đã chứng minh rằng, do sự phát triển của Lực lượng sản xuất,loài
người đã bốn lần thay đổi Quan hệ sản xuất gắn liền với bốn cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, Lực lượng sản xuất nào thì Quan hệ sản xuất tương ứng như thế.

1.3.3 - Vai trò của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Quan hệ sản xuất trong tổ chức và quản lý sản xuất: - Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×