Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
- Giai đoạn 1954 - 1975. - Giai đoạn 1975 - 1986. - Cơ sở khách quan tồn tại nhiều thàh phần kinh tế ở nước ta hiện nay.

- Giai đoạn 1954 - 1975. - Giai đoạn 1975 - 1986. - Cơ sở khách quan tồn tại nhiều thàh phần kinh tế ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ - 23trang

2.1 - Giai đoạn 1954 - 1975.


Đưa Quan hệ sản xuất đi trước một bước mở đường cho Lực lượng sản xuất, đặc biệt là sai phạm trong cải cách ruộng đất: Thủ tiêu thành phần Địa chủ,
Tư sản.Đồng hoá Quan hệ sở hữu với Quan hệ sản xuất, cơng nghiệp nặng và xây thể .Đó là biểu hiện của nhận thức không đúng về quy luật Quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.

2.2 - Giai đoạn 1975 - 1986.


Thực hiện thời kỳ đóng cửa, tự cơ lập với thế giới. Bộ máy chính quyền quan liêu bao cấp, hoạt động kém hiệu quả hoàn toàn khơng phù hợp với tính chất
và trình độ của Lực lượng sản xuất, lại ảo tưởng rằng thiết lập Quan hệ sản xuất mới sẽ dẫn đến sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Không thấy được mối quan
hệ biện chứng giữa các yếu tố nội tại của Quan hệ sản xuất, đồng nhất Quan hệ sản xuất với sở hữu Tư liệu sản xuất, hoặc đồng nhất với phân phối sản phẩm,
công tác quản lý và tổ chức lỏng lẻo, trình độ thấp. Tóm lại: Với nhận thức sai lầm về mơ hình Xã hội chủ nghĩa do cách làm
duy ý chí, nóng vội, chủ quan, muốn đốt cháy giai đoạn, coi sở hữu toàn dân là mục đích nên đã mau chóng thiết lập chế độ công hữu và Tư liệu sản xuất, một
Quan hệ sản xuất quá xa, quá tiên tiến một cách giả tạo so với Lực lượng sản xuất. Điều này làm cho nền kinh tế kém phát triển, xã hội khủng hoảng nặng nề.

2.3 - Cơ sở khách quan tồn tại nhiều thàh phần kinh tế ở nước ta hiện nay.


Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào cũng có phương thức sản xuất giữ vị trí chi phối. Ngồi ra, còn có phương thức sản xuất tàn dư của xã hội trước để lại
và phương thức sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Các phương thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phương thức sản xuất thống trị. Mặt
khác, trong thời kỳ quá độ, chưa có thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị, chi
11
phối các thành phần kinh tế khác , mà chúng chỉ là những mảng, những bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ thống nhất biện chứng.
Tất yếu khách quan là tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là vì:
+ Thứ nhất: Khi giai cấp công nhân và nhân dânlao động giành được
chính quyền, tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về Tư liệu sản xuất. Thực tế có hai loại tư hữu lớn gồm có nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, . . . của
các chủ tư bản trong và ngoài nước - đó là kinh tế Tư bản chủ nghĩa; Tư hữu nhỏ gồm nơng dân, bn bán nhỏ - đó là sản xuất nhỏ cá thể.
Thái độ của chính quyền mới đối với hai loại tư hữu trên là khác nhau. Đối với tư hữu lớn - kinh tế tư bản tư nhân chỉ có phương pháp duy nhất là quốc hữu
hố. Đối với tư hữu nhỏ thì có con đường hợp tác hoá theo các nguyên tắc mà V. I . Lênin đã vạch ra là tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi, . . . đồng thời tuân
theo quy luật khách quan.
+ Thứ hai: Sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều
kiện chủ quan, khách quan, nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều giữa Lực lượng sản xuất và các ngành ,vùng, doanh ngiệp . . . . Chính sự phát triển khơng
đồng đều đó quy định Quan hệ sản xuất, trước hết là hình thức, quy mơ và Quan hệ sở hữu phải phù hợp với nó, nghĩa là tồn tại Quan hệ sản xuất không giống nhau đó
là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau.
+ Thứ ba: Để phát triển kinh tế, củng cố Kinh tế - Chính trị - Xã hội, Nhà
nước xây dựng những cơ sở kinh tế mới, hình thành thành phần kinh tế Nhà nước. Mặt khác, trong điều kiện quốc tế hố đời sống kinh tế thơng qua hợp tác và đầu tư
nước ngoài, Nhà nước cùng các nhà Tư bản, cơng ty trong và ngồi nước hình thành kinh tế Tư bản Nhà nước.
2.4 - Tác động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đến nền kinh tế nước ta hiện nay.
Tính tích cực của nền kinh tế nhiều thành phần biểu hiện qua các khía cạch:
12
+ Có khả năng khai thác, huy động và sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong nước, tận dụng vốn và cơng nghệ của nước
ngồi. Do đó phát huy được cả nội lực và ngoại lực. + Giải quyết phần lớn công ăn việc làm cho nhân dân, phát triển làng nghề
truyền thống, tận dụng vốn và nhân công nhàn rỗi có hiệu quả, phát huy thế mạnh vốn có của con người Việt Nam, đẩy mạnh phát triển Lực lượng sản xuất.
+ Tạo ra sự đa dạng về quy mơ và trình độ kỹ thuật phù hợp với hiện trạng về cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật của nước ta. Tạo sự liên kêt, liên doanh
với nước ngồi với chiều nhiều hướng có lợi hơn. + Khi các thành phần kinh tế đều phát huy sức mạnh, hoạt động tích cực
làm cho năng suất lao động phát triển, từ đó nhanh chóng tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống nhân dân.
Là bước khởi đầu, đặt nền móng cho thời kỳ quá độ với cơ sở vật chất kỹ thuật chắc chắn để đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên Chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn Chủ nghã tư bản. Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, việc thi hành chính sách kinh tế
nhiều thành phần cũng nảy sinh ra những yếu tố tiêu cực như tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, tệ nạn hàng giả, trốn thuế, buôn lậu, tham nhũng đang là những
vấn đề nhức nhối cần giải quyết. Những yếu tố tiêu cực phát sinh đó được cộng hưởng với chiến lược Diễn biến hồ bình của các thế lực đế quốc hòng tiêu diệt
chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tạo nên nguy cơ chệch hướng Xã hội chủ nghĩa rất đáng lo ngại.
Tuy nhiên, kết quả thực tế từ công cuộc đổi mới từ 15 năm đã cho thấy mặt tích cực của cơ chế kinh tế nhiều thành phần là rất to lớn. Việt Nam từ một nước
nông nghiệp lạc hậu đã trở thành một nước có nền kinh tế tăng trưởng vững chắc với tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 1991 - 1996 là 8,4 ;
năm 1997 là 8,8; thu nhập đầu người tăng 5,2 năm. Lạm phát giảm từ 800 năm xuống 2,1 năm và năm 2000 là 0 . Tích luỹ trong nước tăng 5 lần
so với GDP từ 3 lên 17 của GDP năm . Đầu tư tăng gấp ba lần, từ 11,6 13
của GDP năm 1989 đến 28 của GDP năm 1996. Sản lượng nông nghiệp tăng 2 lần, Việt Nam trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong
5 năm 1991 - 1995 , hàng năm , nông nghiệp tăng 4,5 , công nghiệp tăng 13,5 , xuất khẩu tăng 20 , đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ lệ nghèo giảm 35
trong vòng 10 năm từ năm 1986.
2.5 - Sự hoàn thiện Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt nam.
Cần phải khẳng định rằng: Phát triển Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa là kết quả của tiến trình lịch sử, tiến trình đó được quy định bởi quy
luật Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất. Có nghĩa là: Cùng với từng bước phát triển Lực lượng sản xuất, Quan hệ sản
xuất được hoàn thiện tương ứng, trong đó nội dung cốt lõi là hồn thiện Quan hệ sản xuất theo hướng tập trung hoá hoặc xã hội hoá.
Thật vậy, Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện hai đặc trưng tác động biện chứng trong q trình xã hội hố Quan hệ sở hữu kinh tế.
Khi Lực lượng sản xuất còn ở mức thấp, ứng với nó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhỏ và phân tán.
Lực lượng sản xuất từng bước phát triển sẽ tỉ lệ thuận với tiến trình tập trung hố và xã hội hoá Quan hệ sở hữu mà đỉnh cao của nó là sở hữu tồn dân, sự
hình thành các tập đồn kinh tế, cơng ty cổ phần,cơng ty đa qc gia, các đại nông trại, . . . được coi là biểu hiện của q trình xã hội hố Quan hệ sở hữu ở một mức
độ nhất định do kết quả tác động biện chứng của Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất.
Với cách nhìn đó thì chế độ công hữu Xã hội Chủ nghĩa được xác lập như một tất yếu khách quan bởi sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ cao của Lực lượng sản xuất. Nhìn trên giác độ khác, trong mối quan hệ giữa Kinh tế thị trường và định
hướng Xã hội Chủ nghĩa, có thể thấy rằng Kinh tế thị trường biểu thị nổi bật như
14
phương thức vận động của Lực lượng sản xuất, còn định hướng Xã hội Chủ nghĩa thể hiện như Quan hệ sản xuất cần đạt tới phương thức vận động đó.
Chủ nghĩa Xã hội cũng có thể hiểu đó là một nền tảng kinh tế xã hội được dựa trên chế độ đổi mới thực hiện được ý tưởng cao đẹp do lịch sử giao phó là xây
dựng một xã hội cơng bằng, văn minh với ý nghĩa đích thực của nó. Có lẽ do quy luật này mà Đảng ta khẳng định tính nguyên tắc của phát triển Kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
2.6 - Điều kiện đảm bảo xây dựng và phát triển kinh tế theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Để đạt được Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng là phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản kiên định, sáng tạo, cách
mạng. Sau đó là hệ thống chính trị phù hợp mà hạt nhân của nó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

2.6.1 - Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Giai đoạn 1954 - 1975. - Giai đoạn 1975 - 1986. - Cơ sở khách quan tồn tại nhiều thàh phần kinh tế ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×