Tải bản đầy đủ - 23 (trang)
- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Vai trò quản lý của Nhà nước.

- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Vai trò quản lý của Nhà nước.

Tải bản đầy đủ - 23trang

phương thức vận động của Lực lượng sản xuất, còn định hướng Xã hội Chủ nghĩa thể hiện như Quan hệ sản xuất cần đạt tới phương thức vận động đó.
Chủ nghĩa Xã hội cũng có thể hiểu đó là một nền tảng kinh tế xã hội được dựa trên chế độ đổi mới thực hiện được ý tưởng cao đẹp do lịch sử giao phó là xây
dựng một xã hội cơng bằng, văn minh với ý nghĩa đích thực của nó. Có lẽ do quy luật này mà Đảng ta khẳng định tính nguyên tắc của phát triển Kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
2.6 - Điều kiện đảm bảo xây dựng và phát triển kinh tế theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
Để đạt được Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng là phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản kiên định, sáng tạo, cách
mạng. Sau đó là hệ thống chính trị phù hợp mà hạt nhân của nó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

2.6.1 - Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đảng Cộng sản Việt Nam với truyền thống cách mạng được nhân dân tín nhiệm đã trở thành thế lực nắm quyền lãnh đạo đất nước. Đảng lãnh đạo, trước hết
là xác định mục tiêu chính trị, định hướng cho sự phát triển xã hội bằng cương lĩnh, đường lối, chiến lược, bằng nguyên tắc và chính sách lớn, bằng cơng tác tổ
chức cán bộ, kiểm tra cán bộ trong việc thực hiện đường lối của đảng. Yêu cầu của sự phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội
Chủ nghĩa đòi hỏi Đảng phải có bản lĩnh vững vàng, có trí tuệ, năng động, sáng tạo.
Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục đổi mới lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, với xã hội mà khâu quan trọng là đối với Nhà nước và nâng cao phẩm
chất Đảng viên trong cơ chế thị trường.

2.6.2 - Vai trò quản lý của Nhà nước.


15
Một Nhà nước của nhân dân vững mạnh, trong sạch, quản lý kinh tế xã hội ngày càng có hiệu quả. Sự hình thành và phát triển Kinh tế thị trường theo định
hướng Xã hội Chủ nghĩa khơng thể thiếu vai trò bà đỡ, khởi xướng và ni dưỡng của Nhà nước. Vai trò quản lý của Nhà nước càng trở nên cực kỳ quan trọng với
các chức năng sau: + Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển.
+ Khởi xướng, hướng dẫn và hỗ trợ nỗ lực phát triển thông qua các cơng cụ như Pháp luật, Kế hoạch hố, Chính sách Tài chính - Tiền tệ.
+ Sử dụng hiệu quả Ngân sách Nhà nước, quản lý tốt vốn và tài sản cơng. + Thực thi chính sách xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.
2.6 - Các thành phần kinh tế theo nghị quyết Đại hội IX và sự đóng góp của chúng trong nền kinh tế nước ta.
Từ năm 1986 đến nay, thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mơ
của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, cơ cấu doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã có sự chuyển biến lớn.
+ Kinh tế Nhà nước: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu Nhà
nước về Tư liệu sản xuất chủ yếu, gồm các đơn vị kinh tế mà tất cả vốn thuộc về Nhà nước hoặc phần lớn của Nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế.
Sau một quá trình sắp xếp lại, từ năm 1986 đến nay, các doanh nghiệp Nhà nước đã giảm 55 số lượng doanh nghiệp, hiện còn 5.700 doanh nghiệp hoạt
động dưới hình thức doanh nghiệp độc lập, doanh nghiệp trực thuộc các Tổng Công ty 90 , Tổng Công ty 91. Năm 2000, doanh nghiệp Nhà nước có vốn dưới 1tỷ
chiếm 25 , trên 10 tỷ chiếm 20 , đóng góp 40 tổng nộp Ngân sách và trên 50 kinh nghạch xuất khẩu của cả nước. Tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp Nhà nước
trong Tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng từ 36,5 đến 40,2 , tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước tăng 6,8 1993 đến 12 2000 .
16
+ Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm các
đơi vị kinh tế do những người lao động tự nguyện đóng góp vốn và góp sức để kinh doanh.
Trong thời gian từ năm 1986 đến năm 1996 đã giải thể 3.623 Hợp tác xã và 37. 787 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hơn 42.000 Hợp tác xã Tiểu thủ công
nghiệp . Năm 1996 là thời điểm kết thúc mơ hình Hợp tác xã kiểu cũ, chuyển sang thời kỳ xây dựng và phát triển Hợp tác xã theo mơ hình mới, đánh dấu bằng việc
ban hành Luật Hợp tác xã tháng 3 năm 1996 có hiệu lực từ tháng 1 năm 1997 .
+ Kinh tế Tư bản Nhà nước: Là thành phần kinh tế mà chủ thể là các nhà
Tư bản và Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 1988, sau khi Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam
đã có 3 dự án đầu tư được cấp phép dưới hình thức doanh nghiệp 100 vốn nước ngồi, doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài với tổng số vốn
đăng ký là 366 triệu USD, chỉ riêng năm 1995 đã có 404 dự án với 6,6 tỷ USD vốn đăng ký. Đến tháng 12 năm 2000, số dự án được cấp giấy phép lên tới 3.112 dự án
với vốn đăng ký là 43,16 tỷ USD, trong đó có 27 dự án 156 triệu USD đã kết thúc đúng thời hạn hợp đồng, 452 dự án 3,24 tỷ USD bị giải thể trước thời hạn,
668 dự án xin tăng vốn 4,25 tỷ USD .
+ Kinh tế tư nhân: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu Tư bản
Chủ nghĩa, gồm các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Năm 1991, ở Việt Nam có 122 doanh nghiệp Tư bản, Cơng ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn. Năm 1993, sau khi ban hành Nghị định 60
HĐBT đã có khoảng 900.000 cá nhân, nhóm kinh doanh được cấp đăng ký theo loại hình đơn vị có vốn dưới mức pháp định. Cuối năm 2001 có hơn 30.000 doanh
nghiệp Tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp.
+ Kinh tế cá thể, tiêủ chủ: Là thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh dựa
vào vốn và sức lao động của bản thân là chính.
17
Từ khi bước vào thời kì đổi mới, thành phần kinh tế này đã không ngừng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng quy mô hoạt động.
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi: Nghị quyết đại hội IX đã căn cứ vào
điều kiện thực tiễn của nền kinh tế dẫ đưa thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi nhằm mục đích khai thác những tiềm năng , lợi thế so sánh và các
nguồn ngoại lực từ phía các đối tác bên ngồinhằm thúc đẩy q trình phát triển kinh tế đất nước.
Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn biến khá sôi động trong năm 1998. Cuối năm 2000 cả nước có khoảng 3.000 dự án của hơn 700 doanh nghiệp thuộc 62
nước và lãnh thổ với tổng vốn đăng ký là 36 tỷ USD, vốn thực hiện 16,89 tỷ US chưa tính đến liên doanh dầu khí Vietsovpetrol, hoạt động đầu tư nước ngoài đã
nộp ngân sách 1,52 tỷ USD, tạo 21,6 tỷ USD hàng hoá xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp và 1 triệu lao động gián tiếp. FDI và ODA
đã giải ngân là 7 tỷ USD và trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế, đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển ổn định của các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ.
Năm 1999, FDI tạo ra được 10,7 GDP; 25 giá trị xuất khẩu, góp phần quan trọng phát huy nội lực của toàn bộ nền kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia trong
điều kiện hợp tác và mở cửa.
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
Rõ ràng Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là một quy luật kinh tế cơ bản, phổ biến, chi phối mọi phương
thức sản xuất, không loại trừ một quốc gia, một dân tộc nào. Điều đó, đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước thì phải nhận thức đúng để hoạt động
phù hợp với quy luật khách quan. Ở nước ta, trong cơ chế hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây,
đã có lúc chúng ta tưởng rằng có thể thiết lập được một quan hệ sản xuất cao hơn
18
đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Song kết quả diễn ra lại trái với mong muốn của chúng ta. Đó là lực lượng sản xuất khơng phát triển, tình
trạng trì trệ kéo dài, hàng hoá sản xuất ra kém chất lượng, giá thành cao, không thể cạnh tranh với hàng ngoại, lại khan hiếm không đủ để thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng, đời sống nhân dân rất khó khăn. Như vậy thực tế phát triển kinh tế ở đất nước ta gần 10 năm trở nên lạc hậu,
mà cả khi nó được áp đặt một hình thức đi trước quá xa so với lực lượng sản xuất, một lần nữa quy luật Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
Lực lượng sản xuất lại thể hiện rõ tính phổ biến và tính tất yếu mạnh mẽ của nó, bất chấp cả ý muốn chủ quan của con người. Dù mong muốn đẩy mạnh phát triển
sản xuất, nhanh chóng thực hiện CNH - HĐH nền kinh tế, chúng ta cũng không thể bất chấp quy luật mà trái lại phải tôn trọng và hành động đúng quy luật khách
quan. Đó là một trong những bài học lớn mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ.
Đảng ta đã nhận thức đúng quy luật khách quan nên đã có những đường lối chủ trương đúng đắn và kịp thời. Chỉ thị 100CT-TW của Ban bí thư ngày
1311981 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi mới. Nhưng cái mốc
quan trọng đánh dấu sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 121996.
Với Nghị quyết Đại hội VI, chúng ta đã dứt khoát đoạn tuyệt với cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển dần kinh tế sang cơ chế thị
trường theo định hướng XHCN. Cơ chế kinh tế mới khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, các khu
vực trên thế giới, động viên mọi người làm giàu trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Đường lối đổi mới của Đảng ta đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân lao động phấn khởi hưởng ứng và đã đem lại một nguồn sinh khí mới, tạo đà
cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng và dần dần đi vào thế ổn định. Sau 8 năm 19
thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: Tăng trưởng kinh tế khá, lạm phát được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải thiện từng
bước. Sở dĩ có sự chuyển biến đi lên theo hướng vững chắc như vậy chính là nhờ chúng ta đã từng bước đổi mới Quan hệ sản xuất cho phù hợp với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, do đó đã giải phóng sức sản xuất của xã hội, khai thác được các tiềm năng cả ở bên trong và bên ngoài, làm cho lực lượng sản xuất ở nước ta có
những bước tăng nhảy vọt về chất. Để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, chúng ta thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng XHCN. Thực tế của nền kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua cho
thấy: Chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả thành phần kinh tế Tư bản chủ nghĩa là vận dụng một cách đúng đắn và hợp lý với quy luật
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, việc xác định được một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
với 6 thành phần kinh tế là vô cùng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp, những chính sách phù hợp, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Sau đây là một số giải pháp chính:
Thứ nhất: Nền kinh tế nước ta còn kém phát triển do điểm xuất phát thấp, đang ở trạng thái đan sen của nhiều loại hình và thành phần kinh tế ở những trình
độ rất khác nhau như phân tán và tập trung, thủ công và hiện đại, lạc hậu và tiên tiến... Trong tình hình đó, cần phải kiến tạo được những hình thức Quan hệ sản
xuất đa dạng , thích ứng với trình độ Lực lượng sản xuất ở các thành phần kinh tế hiện có, từ đó mới khai thác được tiềm năng kinh tế to lớn đó. Vì vậy, thừa nhận sự
tồn tại lâu dài và thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần là giải pháp quan trọng nhất để giải phóng và phát triển Lực lượng sản xuất ở
nước ta. Thứ hai: chúng ta cần phải vận dụng những động lực do lực lượng sản xuất
được giải phóng tạo ra, để khai thác và sử dụng có hiệu quả tồn bộ các nguồn lực
20
hiện có như nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và trí tuệ con người...
Thứ ba: Trước xu thế tồn cầu hố đang diễn ra mạnh mẽ như vũ bão hiện nay, khi mà mọi tiềm năng sản xuất được gợi mở, khơi thông, chúng ta cần phải
tạo ra sức hấp dẫn để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngồi vào Việt Nam từ đó tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tri thức và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến của các nước phát triển, nhằm thúc đẩy nhanh chóng tiến trình CNH - HĐN nền kinh tế nước ta.
Thứ tư: Phải tạo ra một môi trường vĩ mô tốt để huy động tiềm năng của mọi thành phần kinh tế vào sự phát triển đất nước. Trong cơ cấu thành phần kinh tế, thì
thành phần kinh tế Nhà nước phải được xác định đúng về mơ hình tổ chức và định hướng phát triển, chọn đúng cán bộ tốt, có cơ chế, chính sách phù hợp để thành
phần kinh tế này khơng ngừng được củng cố và phát triển nhằm phát huy vai trò chủ đạo.
Bên cạnh đó, đối với các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các thành phần kinh tế trước đây bị coi là phi xã hội chủ nghĩa như kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế
tư bản Nhà nước,... cần phải đưa ra những chính sách nhằm đảm bảo quyền bình đẳng, khuyến khích các thành phần kinh tế này phát huy được những thế mạnh của
mình, mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, vay vốn mở rộng hoạt động kinh doanh. Bằng cách cho phép vay vốn sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của các
nhà tư bản, áp dụng phổ biến và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước...
Thứ năm: Chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực theo mức độ, thời gian thích hợp với từng giai đoạn trên nguyên tắc vừa bảo vệ độc lập dân
tộc, vừa tận dụng sức mạnh của nền kinh tế thế giới và sự hợp tác quốc tế. Và muốn hội nhập có hiệu quả thì việc phát huy nội lực là điều kiện và yếu tố không
thể thiếu. Quan điểm này phải được quán triệt trên phạm vi cả nước, từng địa phương, mỗi cơ sở.
21
Thứ sau: Coi yếu tố con người là quan trọng nhất. Đưa ra các chính sách về giáo dục như: Xố mù chữ ở vùng sâu, vùng xa; nâng cao dân trí, chú trọng đào
tạo chuyên sâu; nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ CNVC, sử dụng nhân tài, coi nhân tài là nguyên khí quốc gia.
Thực hiện đầy đủ chính sách để bảo đảm sự công bằng trên các mặt: Tuyệt đại đa số người lao động, công dân Việt Nam có việc làm, được học hành vui chơi
giải trí, bảo đảm đầy đủ quyền dân chủ cho người lao động và công dân Việt Nam, phát huy đầy đủ bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu
xây dựng và phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Việt Nam.
THƯ MỤC THAM KHẢO
22
1- Triết học Mác-lênin Tập II - NXB chính trị Quốc gia
2- Kinh tế chính trị - NXB giáo dục
3- Lý luận chính trị
4- Tạp chí cộng sản
5- Các văn kiện đại hội đảng
6- Tạp chí kinh tế và phát triển
7- Thơng tin lý luận
23

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Vai trò quản lý của Nhà nước.

Tải bản đầy đủ ngay(23 tr)

×