1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

* Những nét cơ bản về địa bàn huyện Krông Năng tỉnh Đăk Lăk

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.28 KB, 34 trang )


Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến

hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm

sau, lượng mưa khơng đáng kể.

d. Về tài ngun khống sản.

Đá xây dựng: Bao gồm có đá bazan và đá granite; đá bazan đã được khai thác ở

khá nhiều điểm, song việc điều tra, quản lý còn nhiều hạn chế, đây là nguồn tài nguyên

khá phong phú trên địa bàn.

Đá granite có rất nhiều ở phía Bắc và Đơng bắc tuy vậy điều kiện khai thác còn

khó khăn về giao thơng, nhu cầu hiện tại không lớn nên chưa đầu tư khai thác. Sét làm

gạch ngói cũng đã có những kết luận ban đầu về trữ lượng và chất lượng ở một số điểm

nhưng chưa được nghiên cứu đánh giá về giá trị cơng nghiệp và khả năng khai thác sử

dụng.

Ngồi ra, huyện Krơng Năng còn có vàng sa khống liên quan đến các trầm tích

hiện đại ở thượng nguồn các suối lớn, tuy nhiên nhìn chung đây là huyện có tiềm năng

khống sản không lớn, trên thực tế không phải là thế mạnh trong tương lai của Krông

Năng. Riêng đá xây dựng có thể quy hoạch, quản lý khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng

phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn.

e. Về tài nguyên rừng.

So với các huyện khác của tỉnh Đắk Lắk, diện tích đất lâm nghiệp huyện Krơng

Năng khơng lớn, đến năm 2008 có 7.364 ha, trong đó chủ yếu là rừng đặc dụng 100 ha,

rừng phòng hộ 5.940,3 ha, rừng sản xuất chiếm tỷ lệ ít. Diện tích trồng cây lâu năm là

30.905,5 ha chủ yếu là cây cà phê, cao su, điều; trong đó cà phê là 25.662 ha, diện tích

cao su là 3.155 ha, hồ tiêu là 286,8 ha.

2. Dân cư, dân tộc

Dân số toàn huyện năm 2016 đạt 127.080 người, mật độ dân số bình quân khoảng

206 người/km2. Dân số huyện phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ

yếu ở thị trấn Krông Năng ven các trục Quốc lộ 29, tỉnh lộ 3 chạy qua các xã như Tam

Giang, Phú Xuân, Ea Hồ và các xã như Phú Lộc, Ea Tóh. Các xã có mật độ dân số thấp

chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Dắh, Cư Klơng, Ea Púk…



Trên địa bàn huyện, ngồi các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đơng khác dân di

cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến sinh cơ lập nghiệp.Trong những năm gần đây,

dân số của có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do, điều này đã gây nên sức

ép lớn cho huyện về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh

trật tự và mơi trường sinh thái.

Huyện có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá

riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, Tày… ; kiến trúc nhà sàn,

nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng... là những sản phẩm văn

hoá vật thể và phi vật thể quý giá. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân

tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của huyện Krơng Năng.



Phần II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krơng Năng.

2.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Trên địa bàn huyện, đất dùng để sản xuất nông nghiệp được chia thành đất trong

cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong những

năm qua được thể hiện ở bảng dưới.

Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krơng Năng

Stt

2013

2014

2015

So sánh diện tích giữa các năm

Diện tích Diện

Diện

Danh mục

1

2

3



Cây hàng năm

Cây lâu năm

Tổng



(ha)

14,854

31,930

46783.99



tích (ha) tích (ha) 2014/2013

16,668

32,138

48806



2015/2014



+/-



%



+/-



%



16,536



1813.



112.2



-132.0



99.2



32,898

49434



7

208.3

2022.



100.7

104.3



760.0

628.0



102.4

101.3



0

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng



Sử dụng phương pháp tính tốc độ phát triển liên hồn để tính tốn số liệu bảng 3

ta thấy: Đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong ba năm từ 2013- 2015 có

biến động nhẹ. Trong ngành trồng trọt, diện tích đất trồng cây lâu năm là chủ yếu với

12.254 ha, cây hàng năm là 905 ha tại năm 2013 và tăng lên 15.466 ha đối với cây lâu

năm và cây hàng năm 919 ha vào năm 2015.Theo từng năm cơ cấu diện tích thay đổi

mạnh theo chiều hướng tăng lên đối với cây lâu năm năm 2014 tăng 12.2% so với năm

2013 và năm 2015 thì diện tích cây lâu năm giảm xuống do có nhiều nơi trên địa bàn

huyện đã phá cà phê để trồng hồ tiêu, đã làm cho diện tích đất sản xuất nơng nghiệp

giảm 132 ha .

2.1.2. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

Cây hằng năm được trồng nhiều trên đia bàn huyện chủ yếu như lúa, ngô, khoai

sắn, cây rau đậu. Các cây trồng hàng năm được trồng chủ yếu ở những nơi có địa hình



tương đối bằng phẳng hoặc những nơi đất sình, ven suối và có mốt số ít được trồng xen

trong vườn của các hộ dân.

Bảng 2. Diện tích cây hằng năm trên địa bàn huyện Krơng Năng



Stt



2013



2014



2015



So sánh diện tích giữa các năm



Tên cây



Diện



Diện



Diện



trồng



tích



tích



tích



(ha)



(ha)



(ha)



+/-



%



+/-



%



2014/2013



2015/2014



1



Lúa



2,231



2,564



2,570



332.7



114.9



6



100.2



2

3

4



Ngơ

Khoai

Sắn

Cây có củ



8,586

483

411



9,274

653

509



8,964

460

550



688

170

98



108.0

135.2

123.8



-310

-193

41



96.7

70.4

108.1



59



107



100



48



181.4



-7



93.5



229



213



253



-16



93.0



40



118.8



23

2

25

1,897



6

17

2,360



5

6

7

8

9

10



khác

Đậu tương,

đậu phụng

Bơng

Vừng

Mía

Rau, đậu



-17

26.1

-6

0.0

5

-2

0.0

5

0

-8

68.0

-2

88.2

15

463

124.4

154

106.5

2,514

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krơng Năng



Sử dụng phương pháp tính Tốc độ phát triển liên hoàn theo phương pháp thống

kê. Khi quan sát bảng 2 ta thấy tất cả các loại cây trồng ngắn ngày đều có sự tăng – giảm

khơng ổn định. Diện tích cây hàng năm có biến động nhỏ khơng đáng kể. Có một số loại

cây biến động mạnh như cây ngơ, khoai diện tích tăng đều trong giai đoạn 2015/2014

đến 2016/2015. Trong các loại cây hằng năm thì diện tích của cây bơng đã khơng còn

được trồng trên địa bàn huyện. Theo diễn biến thực tế tại địa phương, cứ loại cây trồng

nào cho sản phẩm có giá cao ở năm trước, thì người dân lại ồ ạt gieo trồng loại cây đó

vào năm sau, ngồi cây chủ lực là lúa và ngơ thì gần như các cây trồng còn lại người dân

tự phát, trồng với diện tích quy mơ nhỏ. Diện tích cây trồng hàng năm có tăng nhẹ và

đều theo từng năm từ năm 2013-2016.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

×