Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nâng cao nhận thức cho CBQL và GV về tầm quan trọng của việc phát triển TDST cho HS thông qua hoạt động thực hành giải toán có lời văn. Đồng thời trang bị những kiến thức, kĩ năng cần thiết để GV có thể lựa chọn nội dung, thiết kế và tổ chức hoạt

Nâng cao nhận thức cho CBQL và GV về tầm quan trọng của việc phát triển TDST cho HS thông qua hoạt động thực hành giải toán có lời văn. Đồng thời trang bị những kiến thức, kĩ năng cần thiết để GV có thể lựa chọn nội dung, thiết kế và tổ chức hoạt

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



môn học với các nội dung cụ thể trong nhà trường đều nhằm tạo cơ hội phát

triển năng lực tư duy và hình thành nhân cách tốt nhất cho HS. Trong hệ

thống giáo dục phổ thơng thì Tiểu học là bậc học nền tảng, vì vậy việc rèn

luyện tư duy cho HS cần thực hiện ngay khi bắt đầu bậc học. Trong các mơn

học ở nhà trường TH thì mơn Tốn có rất nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và

phát triển tư duy cho HS. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi GV là biết lựa chọn

nội dung thích hợp và tổ chức các hoạt đợng vừa sức để từng bước rèn luyện tư

duy cho HS một cách đúng mức. Phát triển năng lực tư duy cho HS là cần thiết

vì: Năng lực tư duy tốt sẽ có nhiều cơ hợi trong học tập, việc làm, được thừa

nhận và trọng đãi trong thế giới ngày nay. Năng lực tư duy tốt là điều kiện tiên

quyết để trở thành cơng dân tốt, họ sẽ có được những quyết định thông minh đối

với các vấn đề xã hội. Năng lực tư duy tốt sẽ biết điều chỉnh để có trạng thái tâm

lí tốt, nhờ vậy họ có thái đợ tích cực đối với c̣c sống. Năng lực tư duy tốt tức

là có mợt bợ óc thơng minh tỉnh táo để phục vụ cá nhân, cộng đồng và thế giới.

TDST là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt đợng trí tuệ, tập trung và

tìm ra những lời giải, những sản phẩm hay q trình đợc đáo. TDST được

hình thành từ rất sớm, nhiệm vụ của dạy học là làm cho nó phát triển. HS lớp

4 đã bước đầu tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo. Như vậy việc phát triển

TDST trong dạy học Toán ở Tiểu học là rất cần thiết, là một nhiệm vụ quan

trọng trong công tác giảng dạy.

Phát triển TDST là góp phần hình thành phẩm chất trí tuệ. Chúng ta

phải thay đổi “thế giới quan” của mình mợt cách sâu sắc để mở ra mợt kỷ

ngun mới hồn tồn trong cách nhìn, trong nhận thức, trong cách hiểu và

cách thực hiện để giáo dục trẻ sáng tạo.

b) Cung cấp lý luận cho CBQL, GV về vấn đề phát triển TDST của HS

lớp 4 trong dạy học toán.

HS lớp 4 đã tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo, mức độ sáng tạo thường

gặp trong khi học và giải bài tập toán là phát triển cái đã biết, mở rộng lĩnh

vực ứng dụng. Việc các em giải mợt bài tốn nào đó mà khơng bị những mệnh



30



lệnh nào chi phối cũng được xem là có yếu tố sáng tạo, bởi vì khi học sinh

giải bài tốn đó thì phải tiến hành dựa trên vốn kinh nghiệm. Trước hết cần

đọc kĩ đề toán, suy nghĩ về ý nghĩa cuả bài tốn, nợi dung bài tốn, đặc biệt là

chú ý đến câu hỏi của bài toán. Học sinh biết lược bỏ những yếu tố che đậy

bản chất toán học của bài tốn hay nói cách khác là học sinh chỉ ra mối quan

hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài tốn và nêu ra phép tính thích

hợp để từ đó tìm được đáp số của bài tốn là sáng tạo. Hoặc việc các em tìm

được nhiều cách giải và lựa chọn cách giải hợp lý nhất cho mợt bài tốn cũng

là sáng tạo. Để có sự sáng tạo khi giải tốn các em có thể bỏ đi một số bước

hoặc không tuân theo một bước giải nào cả.

Biểu hiện sự sáng tạo của HS lớp 4 trong hoạt đợng giải tốn:

- Linh hoạt trong việc lựa chọn cách giải toán, phương pháp giải toán.

- Giải bài toán bằng cách nhanh nhất.

- Lựa chọn cách giải tối ưu nhất.

- Tìm được cách giải mới, đợc đáo

- Phát hiện cách giải mợt cách nhanh chóng hoặc nhanh nhạy khi phát

hiện vấn đề.

Các phẩm chất đặc trưng của tư duy sáng tạo:

- Tính mềm dẻo

- Tính nhuần nhuyễn

- Tính đợc đáo

- Tính nhạy cảm

- Tính phát triển

Trong đó tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn và tính đợc đáo là 3 đặc

trưng cơ bản nhất của TDST(đã được đề cập trong đề tài này). Để rèn luyện

các phẩm chất của TDST, trong hoạt đợng thực hành giải tốn có lời văn, GV

cần thực hiện theo một số định hướng sau:

- Rèn luyện cách nhìn bài tốn để lược bỏ được yếu tố lời văn đã che đậy.

- Cung cấp các dạng bài, các tình huống ứng dụng phong phú của bài mẫu.



31



- Khuyến khích HS lựa chọn cách giải tối ưu cho bài tốn.

- Tăng dần mức đợ khó và phức tạp của bài tốn.

- Khuyến khích HS phát triển bài toán đã giải thành cách giải nhiều bài

toán khác.

c) Trang bị kĩ năng thiết kế tình huống để phát triển TDST.

Để có kĩ năng thiết kế tình huống phát triển nhằm TDST cho học sinh GV

cần: Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và mức độ rèn luyện TDST trong mỗi bài

tập, mỗi tình huống giải tốn; Lựa chọn nợi dung, xác lập tình huống (bài tập)

phù hợp với mục đích phát triển TDST; Lựa chọn hình thức dạy học sao cho phù

hợp; Sử dụng các biện pháp kích thích hoạt đợng tư duy như: hệ thống câu hỏi,

hình ảnh trực quan (sơ đồ, hình vẽ,...), thủ thuật biến đổi bài tập,...Bên cạnh đó,

GV cần dự kiến q trình tư duy diễn ra ở HS dưới các tác động sư phạm để điều

chỉnh, điều khiển kịp thời.

d) Trang bị kĩ năng đánh giá nhằm phát triển TDST cho HS mơn Tốn

Thực hiện theo Thơng tư 30 và thơng tư 22 của BGD & ĐT, đánh giá

HS Tiểu học theo ngun tắc: Đánh giá vì sự tiến bợ của HS, coi trọng việc

đợng viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện

của HS, giúp HS phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, cơng bằng,

khách quan.

Trong kiểm tra, đánh giá HS mơn Tốn lớp 4, cần phải chú trọng mục

tiêu phát triển năng lực TD hơn là mục tiêu trang bị kiến thức và kĩ năng. Như

vậy, việc lựa chọn nội dung kiểm tra, đánh giá là rất quan trọng, phải đánh giá

được năng lực TD của HS, trong đó cần chú trọng năng lực TDST. GV cần dự

kiến các quá trình tư duy diễn ra khi giải quyết các tình huống có vấn đề để

đánh giá được năng lực TDST. Nội dung kiểm tra phải có hướng mở, HS mới

có cơ hợi sáng tạo.

Việc đánh giá nhận xét đối với học sinh không nên quá khắt khe, cứng

nhắc. Chấm chữa bài cho HS mà rập khn đáp án mợt cách máy móc sẽ làm



32



thui chợt đi tính sáng tạo của HS. GV phải biết khuyến khích, đợng viên kịp

thời những biểu hiện dù rất nhỏ về khả năng sáng tạo của HS. Một GV biết

cách đánh giá để tạo cơ hội cho HS có được sự sáng tạo là mợt GV biết ghi

nhận cách giải mới của HS dù cách đó chưa hay, chưa ngắn gọn. GV cũng

không nên quá coi trọng đáp số của bài tốn mặc dù đó là mục đích mà việc

giải tốn cần hướng tới. Chẳng hạn có HS khi làm bài đã tìm ra được cách

giải hay, trình tự các bước giải đều thực hiện tốt nhưng kết quả cuối cùng lại

là mợt kết quả sai, có nghĩa là học sinh đó đã thực hiện tốt các thao tác tư duy,

có tính sáng tạo nhưng kĩ năng tính tốn chưa được cẩn thận thì GV chỉ nên

nhắc nhở HS cẩn thận hơn và chỉ trừ đi một số điểm rất nhỏ.

Việc đánh giá năng lực TDST phải tiến hành thường xuyên trong suốt

quá trình dạy học. GV cần thường xuyên theo dõi các biểu hiện TDST của HS

trong q trình giải tốn để kịp thời bồi dưỡng và phát triển năng lực TDST.

2.2.2. Biện pháp 2: Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học

sinh lớp 4 nhằm phát triển tư duy sáng tạo

Ở biện pháp này, chúng tôi rèn một số kĩ năng nhằm giúp học sinh phát

triển TDST.

a) Kĩ năng 1: Giúp học sinh hiểu rõ phép tính và thực hành trên

các hệ thống số.

Giúp học sinh tiểu học hiểu rõ ý nghĩa phép tính và thực hành thành

thạo trên hệ thống số là mợt vấn đề vơ cùng quan trọng. Bởi vì, tốn có lời

văn dù ở dạng nào thì để giải quyết nó, học sinh vẫn phải thực hành các phép

tính tốn với hệ thống số. Vì thế, làm tốn có lời văn đúng trước hết học sinh

phải thực hành thành thạo các phép tính với các hệ thống số và hiểu rõ ý nghĩa

phép tính .

Để hiểu rõ ý nghĩa của phép tính, ngay từ những bài đầu tiên (ơn tập

kiến thức lớp 3) của chương trình tốn 4, giáo viên cần củng cố ngay kiến

thức về thực hành với 4 phép tính trên hệ thống số tự nhiên, đặc biệt là phép

nhân và phép chia (chia hết, chia có dư...). Trên cơ sở đó, tiếp tục nâng cao kỹ



33



năng thực hành 4 phép tính trên hệ thống số tự nhiên với vòng số lớn hơn ở

lớp 4 (7 đến 10 số).

Cần cho các em làm các bài toán + , - , x , : , tồn tại với nhiều văn

phong khác nhau.

Ví dụ : Mợt nhóm học sinh có 12 bạn, trong đó số bạn trai bằng mợt

nửa số bạn gái ( bằng , kém số bạn gái 2 lần ). Hỏi nhóm bạn đó có mấy bạn

trai, mấy bạn gái?

Hoặc "số bạn gái gấp 2 lần số bạn trai"

Khi đó, các em sẽ hiểu rõ ràng hơn về ý nghĩa của phép tính.

Để rèn kĩ năng tính tốn, HS ở lớp 4 gặp nhiều khó khăn nhất là tính

nhân, chia (đặc biệt là nhân có nhớ, chia cho số có hai chữ số, chia có dư...). Vì vậy,

để rèn kĩ năng tính tốn cho HS khơng gì hơn là việc thực hành thực tế với

các bài toán cụ thể của mỗi loại. Muốn vậy cần làm được 3 việc:

Thứ nhất : Giúp HS nắm thật chắc Bảng cửu chương.

Thứ hai : Giúp HS nắm chắc quy trình thực hành phép tính (cách tính,

thứ tự tính) vấn đề này học sinh cần thực hành thường xuyên tích cực với sự

quan tâm sâu sắc và đầu tư thời gian của giáo viên.

Thứ ba : GV cần phát hiện những học sinh kém trong việc thực hành

phép tính, nhận thức ý nghĩa phép tính để bồi dưỡng trên lớp, giao cho các

nhóm học để bồi dưỡng thêm.

Kỹ năng này là nền tảng cơ sở và đem lại hiệu quả rất lớn cho việc giải

tốn có lời văn.

b) Kĩ năng 2: Trang bị quy trình giải toán có lời văn

Quy trỡnh giải tốn có lời văn gồm 4 bước:

- Bước 1: Đọc và phân tích đề tốn.

- Bước 2: Tóm tắt bài tốn, tìm hướng giải.

- Bước 3: Trình bày lời giải.

- Bước 4: Kiểm tra.



34



Với quy trình này, để các em có thể nắm được và áp dụng thành thạo là

mợt vấn đề hết sức phức tạp. Vì giải tốn có lời văn là mợt hoạt đợng trí tuệ,

khó khăn, nó khơng chỉ dừng lại ở mức đợ nắm và áp dụng mẫu mà nhiều lúc,

mợt bài tốn có sự kết hợp của nhiều khái niệm và quan hệ toán học. Nó đòi

hỏi học sinh khả năng phân tích, tổng hợp rất lớn.

Để giúp học sinh nắm được quy trình giải, ta thực hiện như sau:

Bước 1: Đọc và phân tích đề.

Đây là bước rất quan trọng, giáo viên cần giúp học sinh hiểu mục tiêu

cần đạt khi đọc và phân tích đề.

Xác định được:

- Dữ kiện của bài tốn (cái đã cho).

- Ẩn số của bài toán (cái phải tìm, cái chưa biết).

- Điều kiện (mối quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số)

Để từ đó, học sinh phác hoạ ra dạng của bài tốn.

Mợt vấn đề nữa trong bước này là giáo viên cần rèn cho học sinh đọc đi

đọc lại, quan tâm đặc biệt tới các từ có tính chất " chìa khố", biết loại bỏ các

yếu tố thừa không liên quan.

Bước 2: Tóm tắt bài toán, tìm hướng giải

Sau khi đọc nắm được các thơng tin cần thiết học sinh thực hiện việc

tóm tắt bài toán. Nghĩa là rút gọn bài toán lại sau khi đã loại bỏ các yếu tố

khơng liên quan. Việc tóm tắt bài tốn đánh giá mức đợ đọc - hiểu đề của học

sinh. Nhất là với các dạng toán điển hình, tóm tắt được bài tốn đồng nghĩa

với việc các em đã định dạng xong.

Để làm tốt bước này thì giáo viên cần cho học sinh làm quen với nhiều

cách tóm tắt điển hình nhất, ngắn gọn nhất mà vẫn đảm bảo đủ lượng thông

tin cần thiết để giải bài tốn.

Khi tóm tắt xong học sinh tiến hành tìm cách giải. Có hai trường hợp:



35



Trường hợp 1: Bài tốn tḥc loại áp dụng công thức đơn thuần học

sinh chỉ cần xác định rõ các yếu tố cần tìm và mối quan hệ giữa chúng, áp

dụng công thức để giải.

Trường hợp 2: Với mợt số bài tốn mà dạng điển hình chưa rõ ràng mà

để áp dụng mợt loại điển hình nào đó, học sinh phải qua mợt hay nhiều bước

trung gian. Ta sẽ dùng sơ đồ phân tích đi lên để hướng dẫn các em tìm lời

giải. Qua kinh nghiệm giảng dạy, cho thấy cách này rất thành công.

Để thấy rõ kĩ năng trên, ta xét các ví dụ sau:

Ví dụ 1: Bài 4 trang 28 SGK tốn 4.

Có 9 ôtô vận chuyển thực phẩm vào thành phố. Trong đó 5 ôtô đi đầu

mỗi ôtô chở được 36 tạ và 4 ôtô sau mỗi ôtô chở được 45 tạ. Hỏi trung bình

mỗi ơtơ chở được bao nhiêu thực phẩm?

Sơ đồ phõn tớch

TB mỗi ôtô chở đợc ?



Tổng số

ôtô tham

gia vận

chuyển ?



Tổng số

thực phẩm

vận

chuyển?

5ôtô đi

đầu

vận

chuyển

1 ôtô

chuyể

n ? tạ



đợc ? Số

ôtô ?



4ôtô

sau vận

chuyển

đợc ?

1 ôtô

chuyể

n ? tạ



Đi

đầu

? ôtô



Đi

sau

? ôtô



Số

ôtô ?



K c vi các bài tốn điển hình cơ bản, dùng sơ đồ phân tích này cũng

vơ cùng hiệu quả, học sinh nắm bài rất tốt khơng bao giờ đi sai đường.

Ví dụ 2: Bài 2 trang 28 SGK toán 4.



36



Dân số của một số xã trong 3 năm liền tăng thêm lần lượt là 96 người,

82 người, 71 người. Hỏi trung bình mỗi năm số dân của xã đó tăng thêm bao

nhiêu ngi?

S phõn tớch

TB mỗi năm dân số

tăng ? ngời



Số ngi ?



Tổng số ngời

tăng ?



96 ng

ời



82 ng

ời



71 ng

ời



3

năm



Vi dng s đồ này, khi các câu hỏi được trả lời cụ thể bằng các chữ số

tường minh, các em sẽ bắt tay vào việc giải tốn rất dễ dàng và khơng

hay mắc sai sót.

Bước 3: Trình bày lời giải.

Ở bước này theo chúng tôi cần chú ý một số vấn đề sau.

Mỗi câu ghép tính, phải có câu lời giải đi kèm. Câu lời giải này xuất

phát từ mục đích của phép tính (phép tính ta thực hiện nhằm đi tìm cái gì?) Từ

mục đích đó ta có câu trả lời hợp lý.

Ví dụ 3: Bài 4 trang 28 SGK tốn 4

Ở bài tốn này: Với phép tính thứ nhất: 36 x 5 = 180 (tạ). Để trả lời tốt

học sinh cần đặt câu hỏi: Phép tính này tìm gì? (tìm tổng số tạ thực phẩm mà

5 xe đầu chở được). Vậy câu trả lời đúng sẽ là:

5 xe đầu chở được số thực phẩm là: 36 x 5 = 180 (tạ).

(hoặc số thực phẩm 5 xe đầu chở được là: 36 x 5 = 180 (tạ).)

Với phép tính thứ 2: 45 x 4 = 180 (tạ). Mục đích phép tính là tìm tổng

số tạ thực phẩm mà 4 xe sau chở được.



37



Vậy câu trả lời đúng sẽ là:

4 xe sau chở được số thực phẩm là: 45 x 4 = 180 (tạ).

(hoặc số thực phẩm 4 xe sau chở được là:45 x 4 = 180 (tạ). )

Phép tính thứ 3: 180 + 180 = 360 (tạ).

Mục đích của phép tính là đi tìm tổng số tạ thực phẩmtrên xe của cả

đồn. Vì vậy câu trả lời là:

Cả 9 xe chở được số tạ thực phẩm là: 180 + 180 = 360 (tạ).

Có thể gợp 3 phép tính: (36 x5) + (45 x4) = 360 ( tạ).

Mục đích của phép tính chính là tìm tổng số thực phẩm chở được của 9

xe. Vậy câu trả lời là: 9 xe chở được số thực phẩm là: (hay đoàn xe chở được

số thực phẩm là:).

Đi từ mục đích của phép tính, câu trả lời của học sinh sẽ sát với phép

tính, đợ chính xác cao và các em ít mắc sai lầm hơn trong các diễn đạt câu lời

giải.

Mỗi phép tính đều có kết quả và đơn vị của kết quả đó ghi trong ngoặc

(km, kg, quả, m, tấn, tạ...). Kết quả ở phần đáp số không ghi trong dấu ngoặc

đơn. Phần này học sinh cần ghi nhớ, giáo viên cần theo dõi, nhắc nhở thường

xuyên.

Phần đáp số phải ghi rõ ràng theo u cầu của bài (chứ khơng phải do

số phép tính) cần nhấn mạnh. Hỏi cái gì đáp số cái đó câu trả lời cuối cùng

cho câu hỏi bài toán mà phần lời giải là phần giải thích, là cơ sở cho câu trả

lời đó.

Ví dụ 4: Bài 1 trang 47 SGK tốn 4.

Nêu bài tốn theo tóm tắt lời giải:

Bài này có hai câu hỏi: Bố bao nhiêu tuổi, con bao nhiêu tuổi?

Vì vậy phần đáp số chỉ cần ghi:

Đáp số: Bố 48 tuổi.

Con 10 tuổi.

Bước 4: Kiểm tra đánh giá.



38



Đây là bước cuối cùng của q trình giải tốn nhằm 2 mục đích: Kiểm

tra tính chính xác của phép tính, của cách giải, của kết quả (bài tốn đúng hay

sai) và rèn tính cẩn thận, chu đáo cho học sinh. Vì vậy ở bước này giáo viên

cần yêu cầu các em thực hiện thật nghiêm túc và tự giác. Có thể: Tự kiểm tra

ngay sau từng bước tính, từng phép tính...hoặc kiểm tra sau khi đã hồn thành

cả bài để phát hiện, sửa kịp thời hoặc trong quá trình kiểm tra, suy luận giải

đó các em tìm ra cách giải mới hay hơn.

c) Kĩ năng 3: Giúp học sinh nhận dạng các bài toán và phương pháp

giải đặc thù.

Với việc dạy giải tốn có lời văn và đặc biệt là trong phạm vi đề tài

nghiên cứu thì việc giúp học sinh nhận dạng được các bài toán và phương

pháp giải đặc thù của từng dạng là vô cùng quan trọng. Muốn làm tốt được

các dạng toán này trước hết cần:

Nhận dạng bài tốn:

Bài tốn điển hình bao giờ cũng bao gồm mợt số yếu tố cho trước nhất

định có tính chất giống nhau (số lớn, số bé, tổng, hiệu, tỉ số của hai số…) và

yêu cầu tìm những đối tượng tuy khác nhau song đều có tính chất tốn học

giống nhau. Các yếu tố này có lúc cho tường minh có lúc khơng tường minh.

Vì thế, việc xác định dạng tốn là vơ cùng quan trọng.

Tìm hiểu phương pháp giải đặc thù của từng dạng:

Xác định được dạng toán rồi từ đó học sinh đã xác định được bản chất

tốn học của từng đối tượng, lúc đó học sinh phải hiểu được phương pháp giải

đặc thù của từng loại toán. Như thế các em mới áp dụng giải được một cách

dễ dàng. Để giúp học sinh nhận dạng các bài tốn và tìm phương pháp giải

đặc thù thực hiện như sau:

Cung cấp mẫu:

Việc đầu tiên cần làm là đưa ra các bài toán mẫu giúp học sinh nhận

dạng loại toán. Ở bước này cần cho học sinh nắm chắc được các đối tượng đã



39



cho, phải tìm vì chính các đối tượng này với những tính chất tốn học của nó

sẽ làm nên những dạng tốn điển hình.

Sau khi đưa các bài toán mẫu, giáo viên hướng dẫn các em nhận xét, rút

ra quy trình giải. Chẳng hạn:

* Tốn trung bình cợng:

Bước 1: Tính tổng của các số đã cho.

Bước 2: Lấy tổng đó chia cho số các số hạng.

* Tốn tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó:

Bước 1: Tìm số lớn: Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2

Hoặc: Tìm số bé: Số bé = (Tổng - Hiệu) : 2.

Bước 2: Tìm hai số còn lại bằng cách lấy tổng trừ đi số đã tìm được ở

bước 1.

* Tốn tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó:

Bước 1: Tìm tổng số phần bằng nhau.

Bước 2: Tìm giá trị mợt phần bằng nhau đó.

1 phần bằng nhau = tổng : tổng số phần bằng nhau.

Bước 3: Tìm hai số : Lấy một phần bằng nhau nhân với số phần bằng

nhau của mỗi số.

* Tốn tìm hai số biết hiệu và tỷ số của hai số đó:

Bước 1: Tìm hiệu số phần bằng nhau.

Bước 2: Tìm giá trị mợt phần bằng nhau.

Một phần bằng nhau = hiệu chia cho hiệu số phần bằng nhau của mợt số.

Bước 3: Tìm hai số:

Lấy giá trị một phần bằng nhau nhân với số phần bằng nhau của mỗi

số.

Khi học sinh đã nắm được quy trình giải các dạng bài GV đưa ra các

bài tập từ dễ đến khó để học sinh củng cố, khắc sâu dần các thuật ngữ toán

học của mỗi dạng. Từ những bài tốn đòi hỏi chỉ áp dụng cơng thức đến với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nâng cao nhận thức cho CBQL và GV về tầm quan trọng của việc phát triển TDST cho HS thông qua hoạt động thực hành giải toán có lời văn. Đồng thời trang bị những kiến thức, kĩ năng cần thiết để GV có thể lựa chọn nội dung, thiết kế và tổ chức hoạt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×