1. Trang chủ >
  2. Mầm non - Tiểu học >
  3. Lớp 4 >

Lựa chọn thời điểm vận dụng phương pháp BĐTD

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 26 trang )


Ví dụ: Trước khi học bài mới về Câu cảm, giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên

bảng điền thông tin còn thiếu để hồn thành Bản đồ tư duy v Cõu khin:

?

?



L u

ý



ụng

d

c





?



CÂU KHIếN



t

đặ

ch iến

Cá u kh





Hoc hc sinh nhìn vào sơ đồ tư duy đầy đủ của mình lên

? để trình bày. Sau

khi học sinh trình bày, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt câu về câu khiến bằng

?



các cách vừa nêu hoặc nêu tình huống yêu cầu học sinh đặt câu khiến sao cho lịch

?



sự...Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên cần dựa vào để nhận xét,

đánh giá.

Khi viÕt,

cuèi c©

u có dấ

chấmth

u

an hoặ

c dấu ch

ấm



p lịch sự

ềnghịphải giữphé

Khi yêu cầu, đ

, giúp...

m



g

n,

ơ

làm

từ:

bằng cách thêm



L u

ý



g

ụn

d

c

Nêu yêu cầu, đ

ềnghị, mong muốn...



của ng êi nãi, ng êi viÕt ví i ng êi nghe

CÂU KHIếN



t

đặ

ch iến

Cá u kh





ừng, chớ ,...

Thêmhã y, đ

vào tr ớ c Đ T

Thêmlên, đ

i, thôi, nào,

...

vào cuối câ

u

Thêmtừ đ

ềnghị, xin,

mong...

vào đ

ầu câ

u



b, Vn dng bn t duy trong việc dạy kiến thức mới như: Mở rộng vốn

từ, các bài học luyện tập về ngữ pháp như: Danh từ; Cách đặt câu khiến; Trạng

ngữ; Câu kể Ai làm gì? ; Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?;…

Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý các ý cần trình bày lên bảng thì sử

dụng bản đồ tư duy để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách

15



rất trực quan. Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản

đồ mà khơng bị sót ý. Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thơng tin

quan trọng, sơ đồ hóa chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện theo cách hiểu của

mình. Học sinh được nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa,

ghi chép… sự tập trung được phát huy, học sinh tích cực hơn.

Có thể sử dụng BĐTD trong việc dạy kiến thức mới theo các bước sau đây :

- Bước 1 : Giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề (giới thiệu bài), yêu cầu

học sinh đọc nội dung trong sách giáo khoa.

- Bước 2: Học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn

của giáo viên.

Có thể tất cả các nhóm cùng chung nội dung hoặc mỗi nhóm có nội dung khác

nhau tùy theo mục tiêu, nội dung và đối tượng học sinh. Chẳng hạn, đối với nhóm

học sinh khá giỏi giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh viết được từ khóa, từ đó

các em tự triển khai theo ý của mình. Còn đối với học sinh đạt và chưa đạt chuẩn

thì giáo viên cho bản đồ câm và một số dữ kiện để các em điền vào.

- Bước 3: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết

minh về BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.

- Bước 4: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về

kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh

hồn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.

- Bước 5: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn

hoặc một BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hồn chỉnh, cho học sinh lên

trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.

Khi củng cố kiến thức giáo viên hướng dẫn HS hệ thống kiến thức bài học

bằng bản đồ tư duy.

Ví dụ: Bài MRVT: Đồ chơi - Trò chơi (TV4, tập 1, trang 147, 148)

- Bước 1: Giáo viên đặt vấn đề: Các trò chơi, đồ chơi ln gắn liền với các

em. Vậy những trò chơi, đồ chơi nào là có lợi, nên chơi; những trò chơi, đồ chơi

nào là có hại mà chúng ta khơng nên chơi? Bài học hơm nay chúng ta sẽ cùng tìm

hiểu điều đó nhé.

16



Yêu cầu học sinh mở SGK, đọc nội dung

Bài này gồm 4 bài tập sau:

1 Nói tên đồ chơi hoặc trò chơi được tả trong các bức tranh sau:

2 Tìm thêm từ ngữ chỉ các đồ chơi hoặc trò chơi khác.

3 Trong các đồ chơi, trò chơi kể trên:

a. Những trò chơi nào các bạn trai thường ưa thích? Những trò chơi nào các

bạn gái thường ưa thích? Những trò chơi nào cả bạn gái lẫn bạn trai đều ưa thích?

b. Những đồ chơi, trò chơi nào có ích? Chúng có ích như thế nào? Chơi các

đồ chơi, trò chơi ấy như thế nào thì chúng trở nên có hại?

c. Những đồ chơi, trò chơi nào có hại? Chúng có hại như thế nào?

4 Tìm các từ miêu tả tình cảm, thái độ của con người khi tham gia các trò.

- Bước 2: GV đưa ra hệ thống câu hỏi để giúp học sinh lập bản đồ tư duy

theo nhóm.

Ví dụ: +Mục đích của bài tập này là gì? (góp phần giúp MRVT về chủ đề Đồ

chơi - Trò chơi).

+Vậy theo em chủ đề chính, từ khóa trung tâm trong 4 bài tập này là gì? (Đồ

chơi - Trò chơi).

+ Từ khóa trung tâm này ta có thể chia thành 2 nhánh chính thuộc từ khóa

trung tâm là gì? (Nhánh chính thứ nhất: Đồ chơi, nhánh chính thứ hai: Trò chơi)

+ Dựa vào yêu cầu của bài tập 1 và 2, ta xác định 2 nội dung yêu cầu liên

quan đến 2 nhánh chính là gì? (u cầu 1: Nói lên tên đồ chơi có trong tranh vẽ và

tìm thêm từ chỉ tên đồ chơi khác ngồi tranh vẽ. u cầu 2: Nói lên tên trò chơi có

trong tranh vẽ và tìm thêm tên trò chơi khác ngồi tranh vẽ).

+ Ở câu a bài tập 3, ta có thể chia ra 3 nội dung yêu cầu nhỏ để tạo ra nhánh

phụ cấp 2 của bộ phận nhánh phụ cấp 1 như thế nào? (Yêu cầu 1: Những đồ chơi,

trò chơi bạn gái thường ưa thích. u cầu 2: Những đồ chơi, trò chơi bạn trai

thường ưa thích. u cầu 3: Những đồ chơi, trò chơi cả bạn trai lẫn bạn gái đều ưa

thích).

+ Tương tự, ta có thể gộp câu b và câu c bài tập 3 thành một phần và xem như

đó là hai nội dung yêu cầu nào để lập tiếp nhánh phụ cấp 3? (Yêu cầu 1: có lợi;

u cầu 2: Có hại).



17



+ Còn bài tập 4, ta có thể xác định từ ngữ miêu tả tình cảm, thái độ khi tham

gia trò chơi là nhánh phụ cấp 4 thuộc nhánh phụ cấp mấy trong nhánh chính “Trò

chơi” (Nhánh phụ cấp 2).

GV chốt: Hai nội dung yêu cầu này chính là hai nhánh phụ cấp 1 thuộc hai

nhánh chính

Đồ chơi – Trò chơi

Đồ chơi



Trò chơi



* Ở bài tập 1 và bài tập 2, ta có thể chia mỗi bài ra thành hai nội dung yêu cầu

để tạo thành hai nhánh phụ cấp 1 của BĐTD thuộc mỗi nhánh chính trên.



Đồ chơi – Trò chơi



Đồ chơi



Có trong tranh vẽ



Trò chơi



Ở ngồi tranh vẽ



Có trong tranh vẽ



Ở ngồi tranh vẽ



Đồ chơi – Trò chơi



* Ở bài tập 3, nội dung yêu cầu a ta cũng có thể chia thành ba yêu cầu nội

dung để tạo thành

nhánh phụ cấp 2 thuộc mỗi nhánh của

Đồ3chơi

Trònhánh

chơi phụ cấp. Còn nội

dung yêu cầu b và c, ta có thể gộp lại thành một phần và xem đó là hai nội dung

đểvẽtạo thành 2Ở nhánh

phụ vẽ

cấp 3 thuộcCómỗi

nhánh

phụ

cấptranh

2. vẽ

trong

tranh của

vẽ nhánh Ở

ngồi

Có yêu

trongnhỏ

tranh

ngoài tranh

* Riêng nội dung yêu cầu bài tập 4, ta có thể tạo thành nhánh phụ cấp 4 thuộc

Bạn gái

ưa thích

Bạn

và bạn

trai ưa“Trò

thích

Bạnchơi”

trai ưa thích

nhánh

phụgáicấp

2 phần



Có lợi



Có hại



Bạn gái ưa thích

Bạn gái và bạn trai ưa thích

Bạn trai ưa thích



Có lợi



Có hại



Thái độ, tình cảm khi chơi



18



Đồ chơi – Trò chơi



Đồ chơi



Có trong tranh vẽ



Ở ngồi tranh vẽ



Trò chơi



Có trong tranh vẽ



Ở ngồi tranh vẽ



iều, đèn ơng sao, dây nhảy,Bóng,

búpdiều,

bê,

gấuđồ

bơng,

hàng.

bi, nhảy

cờ, cầu

lơng,

Thả

rước

đèn,

dây,

lắp …

ghép,

co,bắn

bịt bi,

mắtđấu

bắtcờ,

dê,banh

bắn ná,

chơi game

Đá kéo

bóng,

chuyền,

ơ ăn



- Bước 3: Đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về

BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.

Qua hoạt động này giáo viên nắm được việc hiểu kiến thức, kỹ năng trình bày,

tinh thần học tập của học sinh, từ đó giáo viên vừ bổ sung kiến thức vừa rèn cho

Bạn gái các

ưa thích

Bạn

gái và

bạn thuyết

trai ưa thích

Bạn

ưa đơng

thích

Bạnngười,

gái ưakỹthích

Bạn

gáitự

vàtin

bạnhơn,

trai ưa

thích

Bạndạn

trai hơn.

ưa thích

em khả

năng

trìnhtrai

trước

năng

mạnh

- Bước 4: Các nhóm khác có ý kiến nhận xét, bổ sung để hồn chỉnh bản đồ

tư duy

- Bước 5: GV chiếu bản đồ tư duy đã hồn chỉnh, gọi học sinh lên trình bày.



Có lợi



Có hại



Có lợi



Có hại



Thái độ, tình cảm khi chơi



19



c, Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy củng cố kiến thức :

Phù hợp với kiến thức củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài

tập thích hợp là cho học sinh tự thiết kế cho mình một bản đồ theo ý muốn sáng tạo

của mình với màu sắc tùy ý, có thể bản đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặc đầy

đủ lượng kiến thức của bài học như vừa tiếp thu trong bài học, hoạt động cá nhân

hoặc nhóm. Tuy nhiên, các thơng tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài

để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học.

Ví dụ: Khi dạy: Câu hỏi (Tuần 13), sau khi học sinh đã tự thiết kế cho mình

một BĐTD xong thì giáo viên có thể so sánh, đối chiếu, nhận xét đánh giá bài của

học sinh với BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn rồi. Lưu ý chỉ đánh giá, nhận xét

20



về kiến thức được thể hiện ở bản đồ chứ khơng tập trung đánh giá, nhận xét về

màu sắc, hình vẽ.



d. BĐTD hỗ trợ cho tiết tổng kết ôn tập kiến thức.

Sau mỗi chương mỗi phần, giáo viên cần phải tổng kết, ơn tập, hệ thống hóa

kiến thức cho học sinh trước khi các em làm bài tập và làm bài kiểm tra chương,

kiểm tra học kì, thi cuối năm.

Với thế mạnh của BĐTD là kiến thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ đồ, các

đường nối là sự diễn tả mạch logic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhân quả hay

quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, màu sắc của các đơn

vị kiến thức, sẽ giúp học sinh nhìn thấy “Bức tranh tổng thể” cả một phần kiến

thức đã học. Có nhiều cách xây dựng BĐTD trong tiết ôn tập, củng cố:

- Thông thường giáo viên cho một số câu hỏi và bài tập để học sinh chuẩn bị

ở nhà. Trong tiết ôn tập, củng cố, giáo viên hướng dẫn học sinh tự lập BĐTD, sau

đó cho học sinh trao đổi kết quả với nhau và sau cùng đối chiếu với BĐTD do giáo

viên lập ra. Từng em có thể bổ sung hay sửa lại BĐTD của mình và coi đó là tài

liệu ôn tập của mình.

- Cách khác: Giáo viên lập BĐTD mở. Trong giờ ôn tập, củng cố, giáo viên

chỉ vẽ một số nhánh chính, thậm chí khơng đủ nhánh, hoặc thiếu, hoặc thừa thơng

tin trong tiết học đó, giáo viên yêu cầu học sinh tự bổ sung, thêm hoặc bớt thơng

tin, để cuối cùng tồn lớp lập được một BĐTD ơn tập, củng cố kiến thức chương

21



đó tương đối hồn chỉnh và hợp lý. Cách làm này sẽ lôi cuốn được sự tham gia của

học sinh (suy nghĩ nhiều hơn, trao đổi nhiều hơn, tranh luận nhiều hơn) và giờ ôn

tập, tổng kết chương sẽ không tẻ nhạt và có chất lượng hơn.

- Bên cạnh đó còn có cách khác như chia nhóm và từng nhóm lập BĐTD. Sau

đó các nhóm lên trình bày BĐTD của nhóm, các nhóm khác nhận xét về các mặt

như sau:

+ Nội dung cơ bản kiến thức trong chương đã đủ chưa? Còn sót kiến thức nào

khơng?

+ Cách trình bày đã hợp lý chưa? Vị trí các thơng tin như thế nào?

+ Cấu trúc của BĐTD đã hợp lý chưa

+ Màu sắc đã hợp lý chưa? Đã làm nổi bật nội dung cơ bản chưa?

+ Nhìn tổng thể có hợp lý khơng, có hấp dẫn được người học không?

Với cách lập BĐTD như trên, chắc chắn giờ ôn tập, củng cố kiến thức sẽ

mang lại hiệu quả cao.

Ví dụ: Ơn tập về Câu kể (Tuần 18)

Có thể tổ chức một số hoạt động như sau:

Hoạt động 1: Lập Bản đồ tư duy

GV: Các em đã được học về câu kể. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng hệ thống lại

các kiến thức đó bằng một bản đồ tư duy nhé.

- Các em đã học các kiểu câu kể nào? (Câu kể Ai thế nào? Câu kể Ai làm gì? Câu kể

Ai thê nào?)

- GV tiến hành cho các nhóm hồn thành bản đồ tư duy về câu kể

Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về BĐTD

Đại diện nhóm lên bảng gắn bản đồ tư duy của nhóm mình và thuyết trình

Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hồn thiện BĐTD

22



Các nhóm khác có ý kiến nhận xét, bổ sung để hoàn thiện bản đồ tư duy

Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD

GV cho HS lên trình bày lại nội dung bài học thơng qua một BĐTD do GV đã

chuẩn bị sẵn (vẽ bằng phần mềm chiếu bằng pownpoint), hoặc BĐTD mà các em

vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện.



C. KẾT LUẬN

I. Kết quả đạt được

Qua việc giảng dạy bằng các biện pháp đã trình bày trong các tiết dạy có vận

dụng phương pháp “Bản đồ tư duy” tơi nhận thấy các tiết học ngày càng sinh động

hơn, học sinh dần quen với tiến trình, cách học của phương pháp “Bản đồ tư duy”.

Tổ chức các hoạt động học tập đã giúp học sinh được hoạt động nhiều hơn, giúp

các em phát triển tư duy, tăng cường kỹ năng hợp tác trong nhóm, kỹ năng thuyết

trình trước lớp.

Tơi đã cùng với hai đồng chí giáo viên trong khối đã tiến hành thực nghiệm

theo các biện pháp mà tôi đã nêu ở trên. Để nắm được hiệu quả sử dụng phương

23



pháp Bản đồ tư duy vào dạy học Luyện từ và câu với các giải pháp nêu trên tôi đã

tiến hành thử nghiệm qua khảo sát thực tế vào đầu năm học và cuối năm học, sau

một quá trình vận dụng các giải pháp và đạt kết quả như sau:

Thời gian

Đầu năm học

Cuối năm học

Đầu năm học

Cuối năm học

Đầu năm học

Cuối năm học



Lớ

p





số



4

B



33



4

C



34



4D



34



Giỏi



Khá



Trung bình



Yếu



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



4



12,1



11



33,3



16



48,5



2



6,1



7



21,2



15



45,5



11



33,3



0



0



6



17,6



10



29,4



14



41,2



3



8,8



9



26,5



17



50



8



23,5



0



0



7



21,2



9



27,3



16



48,5



1



3,0



11



33,3



14



42,5



8



24,2



0



0



Qua việc phân tích kết quả thực nghiêm ta thấy: Vào cuối năm học, sau khi đã

vận dụng phương pháp “Bản đồ tư duy” theo các biện pháp trên thì tỉ lệ điểm khá

giỏi, chiếm tỉ lệ cao hơn; khơng có điểm yếu, học sinh rất hứng thú học tập, nêu ý

kiến, thảo luận sôi nổi, kĩ năng diễn đạt trước lớp tốt hơn hẳn.

Đây là một kết quả đáng khích lệ sau khi vận dụng sáng kiến của mình. Tơi

tin rằng nếu tiếp tục vận dụng các biện pháp nêu trên một cách nghiêm túc, xuyên

suốt quá trình giàng dạy thì chất lượng của việc vận dụng phương pháp “Bản đồ tư

duy” vào dạy học môn Luyện từ và câu lớp 4 sẽ cao hơn nữa.

II. Bài học kinh nghiệm

Trong nhà trường tiểu học, việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học phải

thực sự có hiệu quả, làm sao công tác này phải trở thành hiện thực. Việc nghiên

cứu và ứng dụng những phương pháp tiên tiến, hiện đại vào dạy học cũng là một

trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng cho công tác đổi mới phương pháp dạy

học trong nhà trường. Phương pháp “Bản đồ tư duy” là một trong những phương

pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy dạy hiện

nay. Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá

trình dạy học. Cùng một lượng kiến thức, cùng một nội dung, một đối tượng học

24



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

×