1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

CHƯƠNG III: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRONG MẠNG 4G

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.25 MB, 59 trang )


mang con được chia cho nhiều thuê bao cùng sử dụng một lúc. Mỗi trạm thuê bao sẽ

được cấp một hoặc vài sóng mang con gọi là kênh con hố. Khi các trạm thuê bao không

sử dụng hết không gian sóng mang con thì tất cả cơng suất phát của trạm gốc sẽ chỉ tập

trung vào số sóng mang con được sử dụng. Trong quá trình truyền dẫn mỗi trạm thuê bao

được cấp phát một kênh con riêng. OFDMA là kỹ thuật đa truy cập vào kênh truyền

OFDM, một dạng cải tiến của OFDM.

Mỗi người sử dụng được ấn định một tài nguyên thời gian-tần số cụ thể. Như một

nguyên tắc cơ bản của E-UTRAN, các kênh dữ liệu là các kênh chia sẻ. Ví dụ, đối với

mỗi khoảng thời gian truyền của 1ms, một quyết định lịch biểu mới được lấy về trong đó

người sử dụng được gán với các nguồn tài nguyên thời gian/tần số trong suốt khoảng thời

gian truyền tải.

OFDMA tương tự như phương thức đa truy nhập phân chia theo tần số thông

thường (FDMA), tuy nhiên nó khơng cần thiết có dải phòng vệ lân cận rộng như trong

FDMA để tách biệt những người dùng khác nhau. Hình 2.4 mơ tả một ví dụ về bảng tần

số thời gian của OFDMA, trong đó có 7 người dùng từ a đến g và mỗi người sử dụng một

phần xác định của các sóng mang phụ có sẵn, khác với những người còn lại.



f a

a

a

a

b

b

b

b



c

c



d

d

e

e

e

e

f

f



g

g

g

g



a

a

a

a

b

b

b

b



c

c



d

d

e

e

e

e

f

f



g

g

g

g



a

a

a

a

b

b

b

b



c

c



d

d

e

e

e

e

f

f



g

g

g

g



t

Hình 2.4: Ví dụ của biểu đồ số thời gian và OFDMA

Thí dụ cụ thể này thực tế là sự hỗn hợp của OFDMA và TDMA bởi vì mỗi người sử

dụng chỉ phát ở một trong 4 khe thời gian, chứa 1 hoặc vài symbol OFDM. 7 người sử

dụng từ a đến g đều được đặt cố định (fix set) cho các sóng mang theo bốn khe thời gian



3.1.3. Sơ đồ hệ thống OFDMA

Điềuchế băng tần gốc

Chèn ký tự dẫn đường



IFFT



Chèn GI



DAC



Kênh truyền



Giải điều chế băng tần gốc

Cân bằng kênh



IFFT



Tách GI



DAC



Tách ký tự dẫn đường

Hình 2.7: Tổng quan hệ thống sử dụng OFDMA

Khơi phục

Nguồn tín hiệu ban đầu được

điều kênh

chế ởtruyền

băng tần cơ sở thông qua các phương

pháp điều chế như QPSK, M- QAM… Tín hiệu dẫn đường (bản tin dẫn đường, kênh hoa

tiêu - pilot symbol) được chèn vào nguồn tín hiệu, sau đó được điều chế thành tín hiệu

OFDM thơng qua biến đổi IFFT và chèn chuỗi bảo vệ GI. Luồng tín hiệu số được chuyển

thành tín hiệu tương tự trước khi truyền trên kênh vơ tuyến qua anten phát. Tín hiệu này

sẽ bị ảnh hưởng bởi fading và nhiễu trắng AWGN (Addictive White Gaussian Noise).

Tín hiệu dẫn đường là mẫu tín hiệu được biết trước ở phía phát và phía thu, được phát

kèm với tín hiệu có ích nhằm khơi phục kênh truyền và đồng bộ hệ thống.



Hình 2.8: Mẫu tín hiệu dẫn đường trong OFDMA

Phía máy thu sẽ thực hiện ngược lại so với máy phát. Để khơi phục tín hiệu

phát thì hàm truyền phải được khơi phục nhờ vào mẫu tin dẫn đường đi kèm. Tín hiệu

nhận được sau khi giải điều chế OFDM được chia làm hai luồng tín hiệu. Luồng thứ nhất



là tín hiệu có ích được đưa đến bộ cân bằng kênh. Luồng thứ hai là mẫu tin dẫn đường

được đưa vào bộ khôi phục kênh truyền, sau đó lại được đưa đến bộ cân bằng kênh để

khơi phục lại tín hiệu ban đầu.

3.1.4. Sơ đồ truyền dẫn tuyến xuống



Hình 2.1: Sơ đồ truyền dẫn tuyến xuống (Downlink)

Ghép kênh phân chia tần số trực giao OFDM là công nghệ truyền dẫn đa song

mang tiết kiệm băng tần sử dụng trong các hệ thống thông tin vô tuyến băng rộng.

Nguyên lý của OFDM là phân chia toàn bộ băng thơng cần truyền vào nhiều sóng mang

con và truyền đồng thời trên các sóng mang này. Theo đó, luồng số tốc độ cao được chia

thành nhiều luồng tốc độ thấp hơn. Việc chia tổng băng thông thành nhiều băng con với

các sóng mang con dẫn đến giảm độ rộng băng con trong miền tần số đồng nghĩa với tăng

độ dài ký hiệu. Số sóng mang con càng lớn thì độ dài ký hiệu càng lớn. Điều này có nghĩa

là độ dài ký hiệu lớn hơn so với thời gian trải rộng trễ của kênh pha đinh phân tán theo

thời gian, hay độ rộng băng tần tín hiệu nhỏ hơn độ rộng băng tần nhất quán của kênh. Vì

thế có thể giảm ảnh hưởng của trễ đa đường và chuyển đổi kênh pha đinh chọn lọc thành

kênh pha đinh phẳng. Như vậy OFDM là một giải pháp cho tính chọn lọc của các kênh

pha đinh trong miền tần số, cho phép giảm thiểu méo tuyến tính do tính phân tán của

kênh truyền dẫn vô tuyến gây ra.

OFDMA là phương pháp đa truy nhập dựa trên OFDM, trong đó mỗi người sử

dụng được cấp phát một số sóng mang con trong tổng số sóng mang con khả dụng của hệ

thống.

Một số đặc trưng quan trọng của hệ thống OFDM:



- Sử dụng nhiều sóng mang băng hẹp, chẳng hạn với hệ thống MC-WCMDA băng

thơng 20MHz sử dụng 4 sóng mang với mỗi sóng mang có băng tần là 5MHz, thì đối với

hệ thống OFDM có cùng băng tần như vậy thì có thể lên tới 2048 sóng mang con với

băng thơng sóng mang con là 15MHz.

- Các sóng mang con trực giao nhau, mật độ phổ cơng suất các sóng mang con này

có thể chồng lấn lên nhau mà khơng gây nhiễu cho nhau. Vì thế khơng cần đoạn băng bảo

vệ so với FDMA.

Khả năng giảm thiểu trễ đa đường tuy nhiên việc phát thơng tin trên nhiều sóng

mang con trực giao cũng mang lại một số hạn chế cho OFDM:

- PAPR lớn do OFDM sử dụng nhiều sóng mang để truyền thơng tin, giá trị cực đại

của kí tự trên một sóng mang có thể vượt xa mức trung bình trên tồn bộ sóng mang. Vì

vậy để khơng làm méo tín hiệu phát bộ khuếch đại cơng suất phải đặt ở chế độ dự trữ lớn

nên hiệu suất sử dụng khơng cao. Điều này dẫn tới chi phí máy cầm tay.

- Nhạy cảm cao với dịch tần số, do các sóng mang trong miền tần số trực giao

nhau nên chỉ một ảnh hưởng nhỏ như dịch Doppler cũng có thể gây nên các sóng mang

chồng lấn lên nhau gây nhiễu ICI.

- Vì các sóng mang được điều chế, mã hóa và phát đi một cách độc lập nên các

sóng mang con này bị suy giảm rất nhiều do ảnh hưởng của pha đinh. Vì vậy cần có các

lược đồ điều chế và mã hóa thích ứng để tránh hiện tượng phổ rỗng, nếu không sẽ không

thể khôi phục được dữ liệu trên sóng mang đó.

3.1.5. Sơ đồ truyền dẫn tuyến lên



Hình 2.2: Sơ đồ truyền dẫn tuyến lên



Đối với đường lên LTE, truyền dẫn đơn sóng mang dựa trên kỹ thuật DFTspread

OFDM. Việc sử dụng điều chế đơn sóng mang cho đường lên đem lại tỷ số đỉnh trên

trung bình (peak to average ratio) của tín hiệu được truyền thấp hơn khi mà so sánh với

kỹ thuật truyền dẫn đa sóng mang ví dụ như OFDM. Tỷ số đỉnh trên trung bình của tín

hiệu được truyền càng nhỏ thì cơng suất phát trung bình đối với một bộ khuếch đại cơng

suất nhất định càng cao. Vì vậy mà truyền dẫn đơn sóng mang cho phép sử dụng hiệu quả

hơn bộ khuếch đại công suất, đồng thời làm tăng vùng phủ sóng. Điều này đặc biệt quan

trọng đối với những thiết bị đầu cuối bị giới hạn về năng lượng. Tại cùng một thời điểm,

việc cân bằng cần thiết để kiểm sốt lỗi của tín hiệu đơn sóng mang do fading lựa chọn

tần số là vấn đề nhỏ trong đường lên vì ít giới hạn trong nguồn tạo tín hiệu tại trạm gốc

hơn so với thiết bị đầu cuối di động.

Tương phản với đường lên không trực giao của WCDMA/HSPA (cũng dựa trên

truyền dẫn đơn sóng mang), thì đường lên LTE lại dựa trên kỹ thuật phân tách trực giao

giữa những người dùng trong miền thời gian và tần số (trên lý thuyết, việc phân chia

người dùng trực giao có thể thực hiện được trong miền thời gian chỉ bằng cách ấn định

tồn bộ băng thơng truyền dẫn đường lên cho một người dùng tại 1 thời điểm, điều này

có thể thực hiện được với đường lên nâng cao). Kỹ thuật phân tách người dùng trực giao

trong nhiều tình huống mang lại lợi ích trong việc tránh được nhiễu trong tế bào (intra

cell interference). Tuy nhiên, việc phân bố một lượng tài nguyên băng thông tức thời rất

lớn cho người dùng lại không phải là một chiến lược hiệu quả trong những tình huống mà

chính tốc độ dữ liệu bị giới hạn bởi công suất truyền dẫn hơn là băng thông. Trong những

tình huống như vậy, một thiết bị đầu cuối sẽ chỉ được phân bố một phần của tổng băng

thông truyền dẫn và những thiết bị đầu cuối khác có thể truyền song song trên phần phổ

còn lại. Vì vậy mà đường lên LTE sẽ bao gồm một thành phần đa truy nhập miền tần số

(frequency domain multiple access component), hệ thống truyền dẫn đường lên LTE

nhiều khi cũng được xem như là hệ thống Single Carrier FDMA (SCFDMA).

3.1.6. Tại sao phải sử dụng kỹ thuật OFDMA cho 4G ở đường xuống

Với những đặc tính kỹ thuật của OFDMA vừa kể trên, việc sử dụng kĩ thuật truy nhập

này vào mạng 4G mang lại nhiều ưu điểm:



-



-



-



Thực hiện việc chuyển đổi chuỗi dữ liệu từ nối tiếp sang song song nên thời gian

symbol tăng lên do đó sự phân tán theo thời gian gây bởi trễ do truyền dẫn đa

đường giảm xuống.

Tối ưu hiệu quả phổ tần do cho phép chồng phổ giữa các sóng mang con. Hạn chế

được ảnh hưởng của fading bằng cách chia kênh fading chọn lọc tần số thành các

kênh con phẳng tương ứng với các tần số sóng mang OFDM khác nhau.

Có thể truyền dữ liệu tốc dộ cao.

Cấu trúc máy thu đơn giản.



3.2. Cơ chế quản lý tài nguyên trong mạng 4G

3.2.1. Quản lý tài nguyên và đảm bảo chất lượng dịch vụ trong mạng 4G

Như chúng ta đã biết, những chức năng phức tạp nhất của lớp MCA trong mạng

4G chính là chức năng: Quản lý tài nguyên vô tuyến và các thuật tốn lập lịch. Trong cấu

hình OFDMA, hai chức năng trên luôn luôn tương tác và kết hợp với nhanh nhằm đạt

mục tiêu chính là:

- Nâng cao hiệu suất sử dụng phổ (spectral effciency) để tăng dung lượng kênh.

- Đảm bảo tính cơng bằng giữa các MS có điều kiện kênh truyền khác nhau.

- Đảm bảo được chất lượng dịch vụ (QoS) của các lớp dịch vụ khác nhau trong

mạng 4G.

Cần phải chú ý rằng thông thường không thể đạt cả 3 mục tiêu hiệu suất sử dụng

phổ, tính cơng bằng và đảm bảo QoS cùng một lúc. Thí dụ, các thuật toán lập lịch với

mục tiêu tối đa dung lượng của kênh truyền vô tuyến (tối đa hiệu suất sử dụng phổ) thông

thường sẽ không công bằng với những MS ở xa trạm gốc BS hoặc có điều kiện kênh

truyền không tốt. Mặt khác, nếu thỏa mãn công bằng một cách tuyệt đối thì sẽ dẫn đến

truyền khơng tốt. Mặt khác, nếu thỏa mãn công bằng một cách tuyệt đối thì sẽ dẫn đến

hiệu suất sử dụng phổ thấp.



Hình 3.8. Mơ hình sử dụng các thật tốn lập lịch

Như vậy, mục tiêu của tất cả các thuật toán lập lịch và quản lý tài ngun vơ tuyến

là phải tìm ra một giải pháp thỏa hiệp giữa 3 tiêu chí trên. Đây cũng là mục tiêu chính khi

phát triển các thuật tốn lập lịch và quản lý tài ngun vơ tuyến trong nhiệm vụ này.

3.2.2. Tại sao phải quản lý tài nguyên trong mạng 4G

Việc đề ra các giải pháp cho quản lý tài nguyên vô tuyến là rất quan trọng nhưng

phải đồng thời đảm bảo cả về chất lượng dịch vụ trong mạng OFDMA/4G. Có rất nhiều

giải pháp theo các hướng khác nhau nhưng đều hướng đến giải quyết các yêu cầu như:

 Giảm thiểu nhiễu đồng kênh thích hợp với công nghệ OFDMA, đồng thời nâng

cao hiệu suất sử dụng lại tần số.

 Điều khiển và phân chia tài nguyên vô tuyến cho OFDMA với mục tiêu là tối đa

dung lượng kênh truyền.



 Đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) và tính cơng bằng giữa các MS (máy di

động) thích hợp với cơng nghệ OFDMA.

Nhưng thơng thương để có thể đạt được cả 3 tiêu chí trên cùng một lúc là điều rất

khó. Thí dụ, các thuật tốn lập lịch với mục tiêu tối đa dung lượng kênh truyền vô tuyến

(nghĩa là tối đa hiệu suất sử dụng phổ) thông thường sẽ không công bằng với những MS

ở xa trạm gốc hoặc có điều kiện kênh truyền khơng tốt. Mặt khác, nếu thoản mãn công

bằng một cách tuyệt đối thì sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng phổ thấp. Do vậy, thơng qua các

thuật tốn lập lịch và quản lý tài ngun vơ tuyến cần tìm ra giải pháp để có thể đáp ứng

được đồng thời cả 3 tiêu chí trên. Thí dụ, các thuật tốn lập lịch với mục tiêu tối đa dung

lượng kênh truyền vô tuyến (nghĩa là tối đa hiệu suất sử dụng phổ) thông thường sẽ

không công bằng với những MS ở xa trạm gốc hoặc có điều kiện kênh truyền khơng tốt.

Mặt khác, nếu thoản mãn cơng bằng một cách tuyệt đối thì sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng

phổ thấp. Do vậy, thông qua các thuật toán lập lịch và quản lý tài ngun vơ tuyến cần

tìm ra giải pháp để có thể đáp ứng được đồng thời cả 3 tiêu chí trên.

Nói đến vấn đề nhiễu đồng kênh và nâng cao hiệu suất sử dụng lại tần số, trong

mạng sử dụng hệ thông tin OFDMA với hệ số tái sử dụng tần số 100%, các phương pháp

phân phối tài nguyên vô tuyến truyền thống chỉ cho hiệu năng thông lượng thấp do nhiễu

đồng kênh CCI (Co-Channel Interference) quá cao. Để giải quyết vấn đề này, có thể sử

dụng một số giải pháp như:

 Sử dụng lại tần số từng phần: trong phương pháp này, các vùng phủ sóng gần

nhau sẽ được ấn định các tập hợp tần số khác nhau để tránh hiện tượng nhiễu đồng kênh.

Nhưng phương pháp này lại có nhược điểm là hệ số sử dụng lại tần số rất thấp.

 Chia nhỏ vùng phủ sóng: Một vùng phủ sóng sẽ được chia nhỏ thành 6 vùng

con, mỗi vùng sẽ được ấn định một tập tần số sao cho 2 tập tần số trùng nhau sẽ nằm ở 2

vùng phủ sóng khác nhau, với khoảng cách đủ lớn để không xảy ra CCI. Nhược điểm là

khi một thiết bị di đọng đi từ vùng con này sang vùng khác trong nội bộ một vùng phủ

sóng thì nó cần phải thực hiện chuyển giao và cơ chế phân phối tài nguyên vô tuyến cố



định cho các vùng con sẽ hạn chế khả năng tái sử dụng tần số, gây lãng phí tài ngun vơ

tuyến.

Trong vấn đề điều khiển và phân chia (tối ưu hóa) tài ngun vơ tuyến, mỗi kết nối

vật lý giữa hai nút mạng của mạng hữu tuyến ln có dung lượng cố định, người sử dụng

có vai trò ngang nhau trong mạng. Điều này có nghĩa là băng thông luôn tỷ lệ thuận với

tài nguyên mạng dành cho người sử dụng đó. Nhưng hồn tồn ngược lại, ở mạng không

dây, tốc độ truyền của một kết nối hoặc một người sử dụng không phải lúc nào cũng tỷ lệ

thuận với tài nguyên dành cho kết nối hoặc người sử dụng đó. Nguyên nhân là các nút di

động MS ln ln chuyển động cà có điều kiện kênh truyền tới BS thay đổi dẫn đến

việc thông lượng truyền dữ liệu giữa chúng có sự khác nhau. Vì vậy, không sử dụng kênh

truyền vô tuyến với cơ chế chia sẻ theo thời gian, OFDMA cho phép một MS truyền dữ

liệu đồng thời trên nhiều sóng mang và khe thời gian. Điều này giúp tối ưu hóa dung

lượng kênh truyền với cơ chế chia sẻ tài nguyên vô tuyến mềm dẻo trong cả hai miền là

tần số và khe thời gian.

Tiêu chí thứ 3 đó là đảm bảo chất lượng dịch vụ và tính cơng bằng trong hệ thơng

tin OFDMA, người ta thường sử dụng các bộ lập lịch khác nhau, tùy theo từng loại thuật

toán lập lịch mà các tham số dịch vụ sau được đảm bảo:

 Trễ

 Biến động trễ

 Băng thơng

 Xác xuất mất gói

Các thuật tốn lập lịch khơng chỉ có nhiệm vụ đảm bảo chất lượng dịch vụ cho các

luồng dữ liệu mà còn đảm bảo tính cơng bằng cho các MS. Điều này có nghĩa là khi tình

trạng kênh truyền khơng tốt thì vẫn phải được chia sẻ một tài nguyên vô tuyến nhất định

để truyền dữ liệu bản thân MS đó.

Đi sâu vào giải quyết vấn đề, chúng ta có thể tạm chia các mơ hình giải pháp đó ra

làm hai nhóm là nhóm các cơ chế RRM tĩnh (fixed design) và nhóm các thuật tốn RRM

động (dynamic RRM algorithms).



Trong một mơ hình RRM tĩnh, các quyết định quản lý tài nguyên được thực hiện

chỉ một lần, thường là trước khi hệ thống được triển khai. Một khi quyết định này được

đưa ra, để thay đổi phạm vi và cách thức hoạt động thì khơng thể tái cấp phát lại tài

ngun hệ thống mà bắt buộc phải dừng hoạt động của hệ thống và tiếp tục đưa ra một

quyết định khác. Nếu các mạng khơng dây là tĩnh và xác định (derterministic) thì các

thiết kế và cấp phát tĩnh là đủ để sử dụng. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng và cố hữu

của mạng khơng dây đó là tính di động và phân phối tải nên mọi giả thiết xem xét trong

thiết kế và cấp phát tĩnh sẽ thay đổi liên tục trong khi hệ thống hoạt động. Nói cách khác,

tất cả quyết định cấp phát là có xu hướng thay đổi trong các mạng vơ tuyến thực tế. Do

đó ở đây mơ hình tĩnh khơng còn thích hợp nữa, thay vào đó nếu ta thực hiện đáp ứng các

thay đổi trên thì có thể cải thiện đáng kể hiệu năng của các mạng vơ tuyến.

Đối với các thuật tốn RRM động sẽ có hai cách tiếp cận cơ bản tới RRM động đó

là các thuật tốn RRM động tập trung và các thuật toán RRM động phân tán. Trong RRM

tập trung, quyền quản lý tập trung về một điểm (như một trạm gốc BS trong mạng), điểm

đó sẽ thu thập thơng tin từ các nút mạng khác, tính tốn thay đổi trong cấp phát tài

nguyên và thông báo lại sự thay đổi đó cho tồn thể các nút mạng khác. Trong RRM phân

tán, mỗi một thành phần mạng (các nút mạng) đều thu thập các thông tin và tự điều chỉnh

thay đổi các chiến lược cấp phát tài nguyên. Chú ý rằng các thuật tốn RRM động phân

tán thường ít xảy ra quá tải hơn các thuật toán RRM động tập trung. Tuy nhiên trong hoạt

động của các thuật toán phân tán, khó có thể dự đốn riêng rẽ từng hành động thay đổi

độc lập của từng nút mạng, do đó sự thay đổi của nút mạng này có thể gây ảnh hưởng tới

hoạt động của nút mạng khác. Bởi vậy trước khi áp dụng các thuật toán phân tán vào thực

tế thì người ta thường dùng các phương pháp mơ phỏng trên máy tính để phân tính hoạt

động của mạng trước. Hơn nữa, nếu không đạt đến một trạng thái hội tụ ổn định, băng

thông của hệ thống sẽ được cấp phát không hiệu quả bởi sự quá tải của các bản tin báo

hiệu về sự thay đổi diễn ra trong quản lý và cấp phát tài nguyên.

Nhìn chung trong các mơ hình multi-cell, những người dùng riêng lẻ khó mà biết

được các điều kiện kênh truyền của những người dùng khác trong những vùng phủ sóng

khác. Do đó, các MS trong những vùng phủ sóng khác nhau khơng thể cùng vận hành



hiệu quả với nhau, tất cả đều cố gắng tối đa hóa hiệu năng sử dụng kênh của mình mà

khơng quan tâm đến hoạt động của những người khác trong một mơ hình phân tán. Từ đó

cần phải đề xuất một giải pháp để kiểm soát hoạt động của những người dùng, hay những

nhà cung cấp khác nhau để cùng nhau vận hành, điều phối trong sử dụng và cấp phát tài

nguyên để đạt được hiệu suất sử dụng cao nhất, ít nhiễu nhất, ít tốn kém nhất.

3.2.3. Quản lý tài nguyên vô tuyến trong mạng 4G

Các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà nghiên cứu cung cấp để tìm ra một cơ chế

mạnh mẽ riêng cho mình. Vì vậy có thể nói chính vấn đề quản lý tài nguyên vô tuyến sẽ

tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà phát triển dịch vụ 4G, nhà cung cấp nào

quản lý tài nguyên vô tuyến tốt hơn, đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt hơn.

Đứng về phương diện người dùng cá nhân khi sử dụng 4G, RRM phải đảm bảo tối

thiểu công suất phát của thiết bị người dùng (trong mối quan hệ ràng buộc của tốc độ và

công suất truyền) đồng thời phải hạn chế tối đa hiện tượng nhiễu đồng kênh (Co-Channel

Interference – CCI) giữa người dùng thuộc những cell khác nhau bằng cách chọn cơ chế

cấp phát hợp lý các kênh con cho những người dùng nằm trong vùng nhiễu (vùng xen

phủ) giữa hai vùng phủ sóng.

Đứng về phương diện các lớp dịch vụ, phải đảm bảo cấp phát tài nguyên cân đối

theo thứ tự ưu tiên cho các lớp dịch vụ, cho các kết nối hiện thời và các kết nối mới để

đảm bảo được các tham số QoS của hệ thống. Công việc quản lý tài nguyên vô tuyến như

vậy được thực hiện bằng các thuật toán lập lịch (scheduling), sẽ được khảo sát kỹ trong

các phần tiếp theo của bản báo cáo này.

Đứng về phía hệ thống OFDMA/4G, phải tối thiểu tổng công suất truyền của hệ

thống, tối đa thông lượng, vùng phủ và dung lượng, tối thiểu chi phí và độ phức tạp của

hệ thống.

3.2.4.

Tối ưu hóa tài ngun vơ tuyến trong OFDMA-TDD Trong các mạng hữu

tuyến, mỗi kết nối vật lý giữa hai nút mạng ln có dung lượng cố định, người sử

dụng đều có vai trò ngang nhau trong mạng. Điều này có nghĩa là băng thơng ln

ln tỷ lệ thuận với tài nguyên mạng dành cho người sử dụng đó. Trái lại, trong

các mạng khơng dây, tốc độ truyền của một kết nối hoặc một người sử dụng không

phải bao giờ cũng tỷ lệ thuận với tài nguyên dành cho kết nối hoặc người sử dụng

đó. Nguyên nhân là trong mạng không dây, các nút di động MS ln ln chuyển

động và có điều kiện kênh truyền tới BS luôn luôn thay đổi (khoảng cách, tác động

của các loại nhiễu .v.v.). Điều này có nghĩa là với cùng một tài nguyên vô tuyến

được dành sẵn như nhau, hai MS khác nhau có thể có thơng lượng truyền dữ liệu



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (59 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×