1. Trang chủ >
  2. Thể loại khác >
  3. Tài liệu khác >

- Trái với quan điểm của K. Mác về bản chất con người, có một số quan niệm phiến diện về con người sau :

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.73 KB, 117 trang )


+ Mỡi cá nhân đều có một đời sống tâm lí nhất định. Tâm lí người khác về chất so

với tâm lí động vật. Đó là đời sống tâm lí có ý thức.

+ Tâm lí người là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là não bộ – các

giác quan (hệ thần kinh)

+ Thực chất tâm lí người là sự phản ánh thế giới khách quan vào não bộ bằng hoạt

độnh của bản thân mỗi người.

+ Năng lực phản ánh tâm lí của con người được thể hiện:

o

o

o



Các q trình tâm lí ;

Các trạng thái tâm lí;

Các thuộc tính tâm lí.



Các thuộc tính tâm lí của con người được hình thành thơng qua các q trình,

trạng thái tâm lí.

Hệ thống những thuộc tính tâm lí của con người là bộ phận quan trọng nhất trong

đời sống tâm lí của mỡi cá nhân con người.





Khái niệm về nhân cách



- Con người sống, hoạt động trong các mối quan hệ đa dạng.

+Khi con người được nhìn nhận là một đại diện cho lồi người thì đó là một cá

nhân.

+ Khi con người tham gia vào các hoạt động có mục đích có ý thức thì con người

được xem như một chủ thể.

+ Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tham gia tích

cực vào các mối quan hệ xã hội thì con người được xem như là nhân cách.

- Như vậy, khi nói tới khái niệm nhân cách, phải xem xét:



- Nó bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một

con người.

- Những thuộc tính này được hình thành trong q trình tác động qua lại giữ con

người và con người trong xã hội…

Khi nói tới nhân cách, cần nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng

nhất của nó, đó là các giá trị, bao gồm:









Các giá trị tư tưởng.

Các giá trị đạo đức.

Các giá trị nhân văn.



Hệ thống các giá trị này được hình thành và cũng cố bởi năng lực nhận thức kinh

nghiệm sống của mỗi cá nhân trong quá trình thể nghiệm lâu dài. Nội dung của

định hướng giá trị là niềm tin, thế giới quan đạo đức, nguyên tắc sống… của con

người.

- Khi nói tới nhân cách con người Việt Nam, ta thấy có sự thống nhất biện

chứng giữa các mặt phẩm chất (đức) và năng lực (tài) .

- Đức : Hệ thống thái độ của con người.

- Tài : Hiệu quả tác động của nhân cách tới các đối tượng xung quanh.

Đức bao gồm các mặt:

Các phẩm chất xã hội : Các quan điểm niềm tin tư tưởng – chính trị, thế giới

quan khoa học, thái độ đới với các hoạt động.

• Các phẩm chất cá nhân: Nếp sống, thói quen, những ham muốn…

• Các phẩm chất ý chí: Tính kỉ luật, tính tự giác, tính tự chủ, tính mục đích…





Tài bao gồm các mặt:

Khả năng thích ứng, năng lực sáng taọ, linh hoạt, mềm dẽo trong cuộc sống,

hoạt động.











Khả năng biểu hiện tính độc đáo, biểu hiện cái riêng cái bản lĩnh của cá nhân.

Khả năng hành động



Hành động có mục đích, có điều khiển, chủ động, tích cực, sáng tạo, đạt kết quả

tốt…

+ Khả năng giao tiếp

Xây dựng, duy trì được các mối quan hệ tốt đẹp vời mọi người xung quanh.

- Như vậy, chúng ta có thể hiểu nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lí của mỡi

người, là tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh

thần của mỗi người.

- Khái niệm về sự phát triển nhân cách

Con người sinh ra chưa có nhân cách. Chính trong q trình sống, hoạt động, giao

lưu … mà con người tự hình thành và phát triển nhân cách của mình bằng con

đường xã hội : Lĩnh hội các di sản văn hóa vật chất và tinh thần của loài người.

+ Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự phát triển được hiểu là:

Là sự tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất.

• Sự phủ định cái cũ và xuất hiện cái mới.

• Động lực của sự phát triển là giải quyết các mâu thuẩn bên trong của sự vật

hiện tượng.





+ Cần chú ý, sự phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân không phải là

một.

- Sự phát triển cá nhân bao gồm các mặt phát triển sau:

 Sự phát triển về mặt thể chất.

 Sự phát triển về mặt tâm lí.

 Sự phát triển về mặt xã hội.



Sự phát triển cá nhân là q trình cải biến tồn bộ các sức mạnh thể chất và tinh

thần, các sức mạnh bản chất của con người.

- Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lí của mỡi người nên sự phát triển nhân

cách phải được hiểu sự phát triển mặt tâm lí xã hội của con người.

Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn giữa

sự phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân. Nếu quan niệm như vậy thì có

thể hiểu khái niệm cá nhân là khái niệm nhân cách. Nhưng trong thực tế, hai khái

niệm này không phải là một!

Sự phát triển nhân cách là quá trình biến đổi không chỉ về lượng mà cả những

biến đổi về chất trong mỡi nhân cách. Đó là q trình nảy sinh cái mới và hủy diệt

cái cũ.

+ Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố,

trong đó có hai nhân tố cơ bản sau:

- Nhân tố sinh học

- Nhân tố xã hội

Các nhân tố này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách khơng phải có

giá trị song song hoặc bằng nhau hoặc độc lập đối với nhau. Vì vậy, khi xem xét

mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển nhân cách

cần phải thật sự khách quan, đúng đắn và khoa học.

2. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách

2.1. Bẩm sinh – di truyền

Bẩm sinh là những đặc điểm, thuộc tính của cá nhân khi sinh ra đã có.

• Di truyền là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những đặc điểm giống chúng

(sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học của cha mẹ, thế hệ trước).





Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

×