1. Trang chủ >
  2. Thể loại khác >
  3. Tài liệu khác >

Con người sinh ra chưa có nhân cách. Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao lưu … mà con người tự hình thành và phát triển nhân cách của mình bằng con đường xã hội : Lĩnh hội các di sản văn hóa vật chất và tinh thần của loài người.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.73 KB, 117 trang )


Sự phát triển cá nhân là quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh thể chất và tinh

thần, các sức mạnh bản chất của con người.

- Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lí của mỡi người nên sự phát triển nhân

cách phải được hiểu sự phát triển mặt tâm lí xã hội của con người.

Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn giữa

sự phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân. Nếu quan niệm như vậy thì có

thể hiểu khái niệm cá nhân là khái niệm nhân cách. Nhưng trong thực tế, hai khái

niệm này không phải là một!

Sự phát triển nhân cách là q trình biến đổi khơng chỉ về lượng mà cả những

biến đổi về chất trong mỡi nhân cách. Đó là quá trình nảy sinh cái mới và hủy diệt

cái cũ.

+ Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố,

trong đó có hai nhân tố cơ bản sau:

- Nhân tố sinh học

- Nhân tố xã hội

Các nhân tố này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách khơng phải có

giá trị song song hoặc bằng nhau hoặc độc lập đối với nhau. Vì vậy, khi xem xét

mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển nhân cách

cần phải thật sự khách quan, đúng đắn và khoa học.

2. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách

2.1. Bẩm sinh – di truyền

Bẩm sinh là những đặc điểm, thuộc tính của cá nhân khi sinh ra đã có.

• Di truyền là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những đặc điểm giống chúng

(sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học của cha mẹ, thế hệ trước).





Vai trò của bẩm sinh – di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân

cách:

Vấn đề di truyền những tư chất và nhất là các năng lực (nghệ thuật, khoa học,

kiến trúc…) ở trẻ em là một vấn đề quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.

o

Di truyền tạo sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả

năng cho người đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định.

o

Nhà giáo dục cầøn quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tự nhiên

đó của con người ; cần phát hiện sớm, có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng kịp thời

nhằm phát triển tài năng cho trẻ em.



Di truyền khơng quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội loài người.

o

Di truyền tạo ra tiền đề cho sự phát triển nhân cách.

o

Trên cơ sở tiền đề ấy, phải có mơi trường sống thích hợp, hoạt động tích

cức và được sự giáo dục đúng đắn thì bẩm sinh di truyền mới trở thành hiện thực.

• Quá trình phát triển con người xét về mặt sinh lí cũng là một q trìnhphức

tạp.

• Cần chú ý :

o

Chú ý đúng mức đến vai trò của di truyền trong sự hình thành và phát

triển nhân cách.

o

Nếu xem nhẹ yếu tố bẩm sinh di truyền thì chúng ta đã bỏ qua một tiền

đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển tâm lí.

o

Nếu đánh giá quá cao yếu tố bẩm sinh di truyền sẽ dẫn tới sai lầm về mặt

nhận thức, phủ nhận khả năng biến đổi bản chất của con người, phủ nhận vai trò

của giáo dục và tự giáo dục.





2.2. Mơi trường

Mơi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã

hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người.

• Mơi trường sống được chia thành 2 loại :

o

Môi trường tự nhiên : bao gồm các điều kiện tự nhiên – sinh thái phục vụ

cho hoạt động của con người.

o

Môi trường xã hội, bao gồm :





Mơi trường chính trị : chế độ chính trị, giai cấp…

Môi trường kinh tế sản xuất : chế độ kinh tế, quan hệ sản xuất, cơ sở sản xuất –

kinh doanh …

Mơi trường sinh hoạt xã hội: gia đình, các tổ chức phục vụ sinh hoạt cộng đồng.

Môi trường văn hóa: hệ tư tưởng, nhà trường, cơ quan văn hóa - giáo dục, phương

tiện thông tin đại chúng…

Môi trường xã hội được chia thành 2 loại :

Môi trường lớn : đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của Nhà nước, chế độ chính

trị, chế độ kinh tế, hệ thống các quan hệ sản xuất…

• Mơi trường nhỏ : là một bộ phận của môi trường lớn trực tiếp bao quanh trẻ,

đó là : gia đình, nhà trường, bạn bè, đồn - đội, người lớn thân thuộc, cơ sở sản

xuất mà trẻ tham gia, cơ sở văn hóa địa phương…





Vai trò mơi trường trong sự hình thành và phát triển nhân cách

Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi

trường nhất định. Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp

phương tiện, điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm

lĩnh các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hóa để hình thành, phát triển và hồn

thiện nhân cách của mình.

• Tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát

triển nhân cách tùy thuộc :

o

Lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó

(tiếp thu, chấp nhận hay phủ định phản đối)

o

Xu hướng, năng lực của cá nhân tham gia vào cải biéân mơi trường (tích

cực hay tiêu cực, mạnh hay yếu)

• Trong sự tác động qua lại giữa mơi trường và nhân cách, cần chú ý đến hai mặt

của vấn đề :

o

Tính chất tác động của hồn cảnh sống đã phản ánh vào nhân cách.





Tính tích cực của nhân cách tác động đếùn hồn cảnh nhằm mục đích

làm cho hồn cảnh phục vụ nhu cầu và lợi ích của cá nhân.

o



(Quan hệ giữa môi trường sống và nhân cách là mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau,

quan hệ hai chiều)

Khi bàn về mối quan hệ giữa môi trường sống và con người, K.Mác đã khẳng

định : “Hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra

hoàn cảnh”.

Khi bàn về việc xây dựng con người mới XHCN Việt Nam, Đảng CS Việt Nam

cũng đã khẳng định : Con người mới vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể có ý thức

của xã hội. Con người mới Việt Nam là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng,

đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to lớn và

quyết định đối với sự hình thành con người mới. Song con người mới là chủ thể

có ý thức của xã hội. Phải bằng kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng, phải

thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành

viên của xã hội mới cải tạo được mình và dần dần trở thành con người mới.

Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặt từng bước việc học tập và

giáo dục với thực tiễn cải tạo và xây dựng xã hội và đấu tranh cách mạng.

• Trong q trình giáo dục học sinh, cần lưu ý một số điểm sau :

o

Từng bước gắn việc giáo dục và học tập của học sinh với việc cải tạo và

xây dựng xã hội.

o

Xây dựng cho học sinh có các giá trị đúng đắn.

o

Giúp học sinh chiễm lĩnh những ảnh hưởng tích cực của môi trường

sống, phê phán những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến học sinh.

o

Tổ chức cho học sinh tích cực tham gia vào việc cải tạo và xây dựng

môi trường có tác dụng giáo dục.

o

Xã hội kết hợp với nhà trường có kế hoạch “sư phạm hóa” từng bước

mơi trường, quan tâm đến việc bảo vệ học sinh trước ảnh hưởng xấu…

o

Cần đánh giá đúng đắn vai trò của môi trường sống trong sự phát triển

nhân cách.





Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách là sai

lầm về mặt nhận thức, cho rằng mọi cái đều do hoàn cảnh, rơi vào thuyết “Định

mệnh do hoàn cảnh”. Thuyết này hạ thấp, thủ tiêu vai trò của giáo dục…

o

Hạ thấp, phủ nhận vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách

dẫn đễn “thuyết giáo dục là vạn năng”, giáo dục con người theo xu hướng cải

lương…

o



Hoạt động của cá nhân

Công tác giáo dục sẽ thành công khi người được giáo dục ý thức được, chấp nhận

các yêu cầu của nhà giáo dục, biến chúng thành của bản thân, làm cho họ tự đề ra

mục đích phấn đấu, rèn luyện… Điều đó có nghĩa là người được giáo dục phải

tích cực hoạt động.

Hoạt động cá nhân giữ vai trò quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển

nhân cách.

Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tự thân vận động, về động lực của sự

phát triển nhân cách.

Trong quá trình giáo dục, nhà trường cần tổ chức được các hoạt động phong phú,

đa dạng để cuốn hút học sinh tham gia.

3. Vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách

3.1.Khái niệm về giáo dục

Giáo dục là q trình tồn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích,

có kế hoạch, thơng qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được

giáo dục nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người.

Theo nghĩa hẹp : giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng,

hành vi … nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói

quen ứng xử đúng đắn trong xã hội.



3.2. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách :

Giáo dục định hướng, dẫn dắt đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Tính

định hướng và dẫn dắt của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

được thể hiện ở các điểm sau :

Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Giáo

dục tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều

hướng đó.

• Điều này được thể hiện qua : mục đích giáo dục, mục tiêu cấp học.

• Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố di truyền, mơi trường

sống khơng thể có được.

• Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật. Nhờ có

giáo dục mà nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người.

• Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lí xấu và làm cho nó phát triển

theo chiều hướng mong muốn của xã hội.

• Giáo dục khơng chỉ thích ứng, mà còn đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát

triển.

• Sự phát triển tâm lí trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong điều kiện

của dạy học và giáo dục.





Khi bàn về vai trò yếu tố giáo dục trong sự phát triển tâm lí con người, Bác Hồ đã

viết trong bài thơ “Nửa đêm” :

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nhật kí trong tù)



3.2. Những điều kiện để giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân

cách

- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục

Giáo dục không chỉ là sự tác động một chiều của những người làm cơng tác giáo

dục tới thế hệ trẻ mà nó còn bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người

được giáo dục trong mối quan hệ hai chiều giữa nhà giáo dục và học sinh.

- Giáo dục chỉ có thể đảm bảo sự phát triển nhân cách nếu có được chõ dựa là :







Tư chất vốn có ở mồi người.

Hoạt động tích cực (tự vận động) của mỡi người trước khi tác động bên ngồi.



Ở đây ta thấy có sự thống nhất giữa tác động bên ngoài (giáo dục) và điều kiện

bên trong (tư chất - hoạt động tích cực cá nhân).

- Dạy học và giáo dục phải được xây dựng theo nguyên tắc phát triển và đón trước

được sự phát triển tâm lí.

- Giáo dục khơng phải là vạn năng, nó cũng khơng hạ thấp, thủ tiêu các yếu tố

khác.

3.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và tính tích cực cá nhân trong sự phát triển

nhân cách

Giáo dục tác động, thúc đẩy làm cho cá nhân tích cực hoạt động để phát triển

nhân cách của mình. Chẳng hạn, thông qua các hoạt động giáo dục của thầy cô, sự

dạy bảo của gia đình làm cho ý chí, tính tích cực của học sinh tăng lên rõ rệt.

Mặt khác, chính do sự tích cực của cá nhân nên quá trình giáo dục cũng tiến hành

thuận lợi hơn, giáo dục nhanh chóng đạt được mục đích hơn.

3.4. Những quan điểm sai lầm về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển

nhân cách



- Quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, coi giáo dục là vạn năng, là yếu tố

quyết định đến sự phát triển nhân cách “ trẻ em như tấm bảng sạch mà nhà giáo

dục muốn viết vẽ gì lên đó cũng được”

- Quan điểm xem giáo dục khơng có vai trò, ý nghĩa gì đối với sự phát triển nhân

cách.

Chương III

MỤC ĐÍCH, NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC

DÂN.

1. Mục đích giáo dục

1.1. Khái niệm

Mục đích giáo dục là một phạm trù cơ bản của giáo dục học có tác dụng định

hướng cho mọi hoạt động giáo dục (công tác nghiên cứu lí luận và thực tiễn). Đối

với hoạt động giáo dục, mục đích giáo dục là điểm xuất phát, là căn cứ để đánh

giá hiệu quả chất lượng giáo dục.

Đối với các q trình giáo dục, mục đích giáo dục quy định tính chất và phương

hướng phát triển của chúng, quy định nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện

các q trình giáo dục.

Mục đích giáo dục phản ánh quy luật khách quan, xu thế tất yếu trong mọi lĩnh

vực giáo dục. Mục đích giáo dục chính là các phẩm chất, các u cầu về mơ hình

của ”con người thời đại”, phản ánh tính quy định của xã hội đối với giáo dục được

thể hiện qua thiết kế giáo dục và được thực thi thông qua hoạt động cụ thể sinh

động của hệ thống giáo dục.

Trong thực tế cần hiểu mục đích giáo dục ở các cấp độ sau :

Cấp độ vĩ mơ: Phù hợp với u cầu tồn xã hội, phù hợp với xu thế phát triển

chung của thời đại.

• Cấp độ trung gian: Cho một cấp học, một ngành học, một trường học.





Cấp độï cá nhân : Cá nhân trong quá trình tiếp thu sự giáo dục (xã hội hóa)

ln ln hiểu rõ mục tiêu mình cần đạt tới. Bởi vì, trong khi xác định mục đích

giáo dục thì điều quan trọng nhất là nhận thức cho được cái mà bản thân người ta

vốn coi là mục đích của đời mình. Mục đích giáo dục phải trùng hợp với mục đích

bao qt hơn của người thụ giáo.





Ngồi thuật ngữ mục đích giáo dục thường dùng trong các giáo trình giáo dục

học, trong các đề án, kế hoạch giáo dục ta thường gặp thuật ngữ mục tiêu giáo dục

cũng chỉ những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục trong một thời

gian nhất định. Tuy nhiên, có thể phân biệt hai thuật ngữ này qua một số dấu hiệu

sau :

Mục đích

1.Có tính định hướng tính lý tưởng

2.Thời gian thực hiện dài



Mục tiêu

1.Có tính cụ thể với hành động và

phương tiện xác định



3.Tính rộng lớn khái quát của vấn đề



2. Thời gian thực hiện ngắn xác

định



4.Khơng thể đo được kết quả



3. Tính xác định của vấn đề



5.Cấu trúc phức tạp, được tạo thành do

nhiều mục tiêu kết hợp lại



4. Kết quả đo được.

5. Là một bộ phận của mục đích



Có thể nói mục tiêu là một bộ phận của mục đích, là mục đích gần, phải thực hiện

nhiều mục tiêu mới đạt được mục đích. Mục đích giáo dục có cấu trúc phức tạp

do nhiều mục tiêu tạo thành. Tuy nhiên, mục đích khơng phải là tổng số các mục

tiêu, không phải là phép cộng giản đơn mà là một sự kết hợp có quy luật giữa các

mục tiêu.

- Mục đích giáo dục mang tính lịch sử và tính giai cấp



Mục đích giáo dục phản ánh sự phát triển sức sản xuất và quan hệ sản xuất, sự

phát triển của khoa học kỹ thuật và văn hóa, hệ tư tưởng mới và lối sống xã hội

(nó phản ánh hình thái kinh tế - xã hội)

• Mục đích giáo dục phản ánh những quan điểm của giai cấp thống trị xã hội, thể

hiện ở các điểm sau:

o

Đào tạo con người như thế nào?

o

Đào tạo con người theo lý tưởng triết học và xã hội học nào ?

o

Đào tạo con người phục vụ cho ai ? Cho lợi ích của giai cấp hoặc tầng

lớp nào trong xã hội?





Để xây dựng mục đích giáo dục hiện nay ở Việt Nam, không thể không nghiên

cứu, kế thừa và phát triển những mục đích giáo dục Việt Nam đã có truyền thống

lâu đời và trở thành giá trị tinh thần của nhân dân ta.

Dưới chế độ phong kiến, mục đích giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của

nho giáo. Mục đích giáo dục thời kỳ này chủ yếu hình thành phẩm chất người

quân tử với nhiững nét đáng chú ý sau đây :

Coi đạo đức là giá trị hàng đầu, sống theo lý tưởng nhân nghĩa yêu thương

người khác ;

• Có trách nhiệm đối với gia đình, họ hàng, làng nước, trung với vua, với nước;

có hiếu với cha mẹ, nhân dân.

• Sống thiết thực chăm chỉ học hành, thường xun nâng cao trình độ học vấn.

• Coi trọng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tài năng. Nho giáo cho rằng : “Con

người sống chết có mệnh, giàu sang tại trời”. Đó là điều con người khơng tự quyết

định được. Nhưng chỗ không phải tại trời, mà con người có thể tự quyết định và

chịu trách nhiệm trước bản thân, gia đình và xã hội là trí và ngu do học mà khơng

học, có đạo đức mà khơng có đạo đức, do chịu tu dưỡng và không chịu tu dưỡng.

Đó là hai chỡ khơng có tiền định của trời. Vì vậy, nho giáo cho rằng : “Từ thiên tử

cho đến thứ dân ai cũng phải lấy tu thân làm gốc”.

• Khơng màng phú quý, khơng ham danh lợi.

• Khiêm tốn, nhường nhịn : An mệnh, an phận, bằng lòng với những cái mình

có, khơng đòi hỏi, khơng đấu tranh cho bản thân.





Khơng quan tâm tới lợi ích, hạnh phúc, cái vui cho bản thân.

• Thờ trời và thờ cúng tổ tiên và bách thần.

• Một mặt có sự dung hòa thỏa hiệp theo tinh thần trung dung, học theo những

chỡ thấy mình yếu kém, mặt khác, rất ngoan cường, kiên trì,…





Từ việc nghiên cứu mục đích giáo dục phong kiến có thể rút ra một số vấn đề

đáng lưu ý sau:

Nhân nghĩa, trách nhiệm, tu thân là những bài học rất quý giá đối với con

người Việt Nam hiện đại.

• Nho giáo khơng coi trọng tự do, hạnh phúc cá nhân, mà coi trọng giá trị của

mỗi người trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, thế nhưng lại đào tạo được những

nhân cách cao thựơng, bất khuất, có lòng nhân ái cao, biết hy sinh vì đạo nghĩa.

• Nho giáo coi trọng việc giáo dục và nhà nước nho giáo đặt việc giáo hóa còn

cao hơn cả việc cai trị, nhưng trong thực tế việc tổ chức giáo dục lại rất sơ sài. Từ

nội dung đến tổ chức, trang bị đều có nhiều thiếu sót. Con người chủ yếu được

đào tạo trong gia đình với sự chăm sóc của các thầy giáo có trách nhiệm và nhà

nước chỉ tổ chức thi cử để đánh giá tuyển chọn nhân tài. Thế nhưng xã hội lại có

nhiều người biết chữ, có tâm lý hiếu học, say mê học tập suốt đời …Như vậy giáo

dục gia đình và chất lượng thầy giáo phải chăng là hai nhân tố cực kỳ quan trọng

trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

• Quan niệm cấu trúc cha – con trong gia đình nho giáo đã mở rộng ra xã hội

dưới các hình thức:





Gia đình : Cha – con

Nước : Vua – tôi, vua là cha của dân

Thiên hạ : Thiên tử – thứ dân

Thế giới : Trời – người

Trời được xem như cha, có khó khăn gì cũng gọi “Trời”. Điều đó dẫn đến hai khả

năng : Tìm cách hòa đồng với tự nhiên, tạo ra đời sống tâm linh nhẹ nhõm; Không



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

×