1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO GIỌNG SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


12

Đào tạo đại trà: “Là chương trình đào tạo trình độ đại học được thực

hiện hợp pháp tại cơ sở đào tạo, có mức trần học phí theo quy định hiện hành

của Chính phủ đối với cơ sở đào tạo công lập” [5, tr. 2].

Như vậy, theo cách hiểu của chúng tơi, chương trình đào tạo đại trà là

chương trình dành cho số đông, cung cấp nguồn nhân lực chung cho xã hội,

khơng có sự phân chia từng đối tượng cụ thể cho mục đích đào tạo.

Đào tạo chất lượng cao: Dựa trên Thông tư số 24/2014/TT-BGDĐT

“Về Đào tạo Chất lượng cao trình độ đại học khái niệm chất lượng cao được

định danh như sau: “Là chương trình đào tạo có các điều kiện đảm bảo chất

lượng đầu ra cao hơn chất lượng đào tạo đại trà đồng thời đáp ứng tiêu chí

và điều kiện đào tạo CLC” [5, tr. 2]. Nghĩa là yêu cầu về nội dung, chương

trình, giáo trình, phương thức dạy học tới đối tượng người học phải cao hơn

mức đào tạo đại trà. Ngoài ra, chúng tơi chưa tìm thấy khái niệm cụ thể về

đào tạo CLC.

Trong quá trình tìm hiểu làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi gặp một

số ý kiến cho rằng: Ở một số trường có danh tiếng, uy tín, chương trình đào

tạo của trường đó đã là đào tạo chất lượng cao nên việc xây dựng một chương

trình mới cho đào tạo CLC là không cần thiết. Ở ngành âm nhạc,

HVANQGVN là một trong những cơ sở đào tạo như vậy. Tuy nhiên, chiếu

theo các định nghĩa đã nêu trên chúng tơi cho rằng, chương trình đào tạo TN

tại HVANQGVN hiện phục vụ cho số đông và trong diện rộng, kiến thức

chuẩn đầu ra SV cần đạt mức tối thiểu theo yêu cầu đào tạo... Do vậy, chương

trình hiện hành vẫn được hiểu là chương trình đào tạo đại trà. Mặt khác, qua

tìm hiểu, so sánh với một số cơ sở đào tạo trong khu vực và trên thế giới

chúng tơi nhận thấy chương trình đào tạo hiện hành còn bộc lộ nhiều hạn chế

và chưa mang nhiều tính ưu việt (điều này sẽ được chúng tơi trình bày cụ thể

ở phần nghiên cứu về chương trình dạy học ở phần sau). Như vậy, việc xây

dựng một chương trình đào tạo CLC dành riêng cho những SV có khả năng

vượt trội, có giọng hát xuất sắc sẽ giúp họ có cơ hội phát triển xa bởi tri thức



13

họ cần lĩnh hội khơng phải tối thiểu cần đạt, thay vào đó là ngưỡng kiến thức

tối đa bản thân có khả năng chiếm lĩnh.

Chương trình đào tạo CLC “được xây dựng và phát triển trên nền của

đào tạo đại trà của cơ sở đào tạo” [5, tr. 3]. Dựa trên chương trình đào tạo

hiện hành, cơ sở đào tạo xây dựng một chương trình riêng cho đào tạo chất

lượng cao sao cho chuẩn đầu ra: “Phải cao hơn đào tạo đại trà tương ứng”

[5, tr. 3]. Cụ thể, GV có trình độ thạc sĩ trở lên, có năng lực chun mơn,

nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của đào tạo CLC, có kinh nghiệm,

phương pháp giảng dạy hiệu quả. Cơ sở vật chất, phòng học riêng cho lớp đào

tạo CLC, các thiết bị hỗ trợ giảng dạy, học tập. Đủ giáo trình, tài liệu tham

khảo trong, ngồi nước, được cập nhật thường xuyên và các cơ sở vật chất

cần thiết khác theo yêu cầu đào tạo CLC.

Dựa trên những phân tích trên, chúng tôi xây dựng khái niệm đào tạo

chất lượng cao đối với giọng Colorature Soprano như sau: Là chương trình

đào tạo dành riêng cho giọng Colorature Soprano xuất sắc được chọn lọc từ

những giọng Soprano nói chung, giọng Colorature Soprano nói riêng có khả

năng vượt trội từ chương trình đào tạo hiện hành. Những SV, học viên được

chọn cần đảm bảo một số tiêu chí bắt buộc như: Âm sắc giọng hát có tính chất

nhẹ, bay, vang xa (những đặc điểm điển hình của giọng Colorature Soprano),

âm vực của giọng hát rộng, nắm được kỹ thuật hát căn bản, ngoại ngữ, có

niềm khát khao và đam mê trong học tập... Chương trình đào tạo CLC được

thiết kế theo hướng điều chỉnh, bổ sung từ chương trình đào tạo hiện hành

nhằm tăng cường các kiến thức chuyên sâu ở mức cao hơn nhằm đáp ứng

yêu cầu chuẩn đầu ra là những sinh viên, học viên giọng Colorature Soprano

tài năng, có khả năng hát tốt những tác phẩm đòi hỏi kỹ thuật và nghệ thuật

thanh nhạc phức tạp. Có khả năng tham dự những cuộc thi thanh nhạc lớn

mang tầm quốc gia, quốc tế... Để đáp ứng yêu cầu đó, GV tham gia giảng dạy

chương trình đào tạo CLC đối với giọng Colorature Soprano phải có trình độ

chun mơn cao, từ thạc sỹ trở lên, có thâm niên giảng dạy từ 5 năm trở lên,



14

có năng lực nghiên cứu và hiểu biết sâu, rộng về kiến thức chuyên ngành, đặc

biệt phải có kinh nghiệm giảng dạy giọng Clorature Soprano. Phương pháp

giảng dạy cũng yêu cầu phải cải tiến để tạo ra sự tương tác tích cực giữa giảng

viên và sinh viên, phát huy tính sáng tạo, đột phá thường có ở các sinh viên

xuất sắc. Cơ sở vật chất cần được đáp ứng với yêu cầu dạy và học trong đào

tạo CLC.

Năm 2018, Khoa thanh nhạc, HVANQGVN manh nha thực hiện lựa

chọn một số sinh viên có tố chất giọng hát tốt, chọn giảng viên đồng thời hỗ

trợ kinh phí cho giảng viên nhằm mục đích giúp SV có tố chất đạt chất lượng

cao hơn. Tuy nhiên, việc triển khai chưa theo một lộ trình cụ thể và đồng bộ

bởi các yêu tố khác như: Chương trình, giáo trình, thời gian đào tạo... Khoa

còn đang thực hiện theo chương trình đào tạo hiện hành.

1.1.2. Mục đích đào tạo chất lượng cao

“Nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học ở những cơ sở đào tạo

có đủ điều kiện nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tính cạnh tranh cao trên thị

trường lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” [5, tr. 2].

Như vậy, mục đích đào tạo CLC đối với giọng Colorature Soprano mang

ý nghĩa quan trọng: Nâng cao chất lượng loại giọng này để tiếp tục phát triển

cũng như hội nhập với quốc tế (tham gia các cuộc thi TN ra ngoài lãnh thổ

Việt Nam, xuất khẩu được các nghệ sĩ biểu diễn cho các nhà hát, các GV cho

các cơ sở đào tạo TN ra ngồi lãnh thổ Việt Nam).

Có thể thấy, mục đích của hai mơ hình: đào tạo TN đại trà và đào tạo

giọng Colorature Soprano CLC tại HVANQGVN có sự khác nhau cơ bản giữa

một bên SV cần nắm vững những kiến thức cơ bản, toàn diện với một bên là

đào tạo chuyên sâu nhằm mục đích cạnh tranh, hội nhập quốc tế. Từ chương

trình, giáo trình, phương pháp đào tạo, yêu cầu về đội ngũ GV, tuyển chọn SV

đến cơ sở vật chất trong đào tạo đều có sự đòi hỏi cao hơn.



15

Bảng 1: So sánh đào tạo đại trà và đào tạo chất lượng cao đối với giọng

Colorature Soprano CLC.

Yêu cầu



Đào tạo đại trà



Đào tạo chất lượng cao



Chương



cho giọng Colorature

Đáp ứng chương trình đào Đáp ứng cho số ít người học



trình



tạo chung cho mọi đối có khả năng vượt trội, có sự



Giáo trình



tượng.



phân loại, cải tiến về chương

trình, giáo trình chun sâu



Giảng viên



hơn mức đại trà.

GV có trình độ đạt chuẩn - GV có trình độ thạc sỹ

theo quy định của Bộ GD - chuyên ngành TN trở lên.

ĐT (Có



bằng



thạc



sỹ - Có thâm niên, kinh nghiệm



chuyên ngành TN trở lên, dạy học từ 5 năm trở lên (ưu

các phương pháp dạy học tiên những GV giọng Soprano,

chung theo quy định).



có thành tựu trong đào tạo

giọng Soprano nói chung,

Colorature Soprano nói riêng,

có giải thưởng về TN trong



Năng lực SV



biểu diễn).

SV có đầu vào đạt tiêu Có năng lực vượt trội về:

chuẩn chung về giọng hát, Giọng hát (bay, nhẹ, vang xa);

khơng có cố tật giọng hát, âm sắc đẹp, kiến thức âm nhạc

có hiểu biết về kiến thức âm vững vàng, có hiểu biết về

nhạc theo quy định chung.



Kỹ



ngoại ngữ chuyên ngành. Có



sức khỏe tốt

thuật Cần nắm được tất cả những Cần nắm được những yêu cầu



thanh nhạc



yêu cầu chung nhất về kỹ kỹ thuật khó, rất khó dành

thuật TN, biết vận dụng vào riêng cho giọng Colorature

các tác phẩm theo chương Soprano (passage, Staccato,

trình quy định.



trillo).



16

Các năng lực Hiểu biết cơ bản về xử lý Hiểu sâu về xử lý tác phẩm,

khác



tác phẩm



trường phái âm nhạc gắn với

tác phẩm cụ thể, hành động

sân khấu, kịch nghệ, hiểu biết

về ngoại ngữ chuyên ngành.



Từ bảng so sánh trên có thể thấy, đào tạo CLC giọng Colorature Soprano

tại HVANQGVN hiện có nhiều thế mạnh để phát triển. Chương trình đào tạo

TN tại HVANQGVN đang hiện hữu nhiều nhân tố vượt trội về năng lực

chuyên môn. Bởi vậy, việc thực hiện đào tạo chất lượng cao là góp phần đáp

ứng mục đích đào tạo ra nhiều sinh viên, học viên có tố chất, năng lực, có cơ

hội phát triển tốt hơn bởi được học chương trình đào tạo được thiết kế chất

lượng hơn, học chuyên sâu hơn và cơ hội hội nhập quốc tế nhiều hơn.

1.2. Khái lược về giọng Soprano

1.2.1. Đặc điểm chung của giọng Soprano

Theo cuốn Thuật ngữ âm nhạc của tác giả Nguyễn Bách, Soprano có

nghĩa là “giọng nữ cao” [12, tr. 153].

Theo cuốn Phương pháp Sư phạm Thanh nhạc của tác giả Nguyễn

Trung Kiên: “Soprano là loại giọng hát cao nhất trong các loại giọng” [35,

tr. 70]. Tác giả cho rằng, âm vực giọng nữ cao từ nốt C4 đến E6.

Tác giả Hồ Mộ La, “giọng nữ cao có âm vực cao nhất trong các loại

giọng. Theo tác giả, âm vực của loại giọng này từ nốt C4 đến C6, cao hơn có

thể lên E6 (hiếm)” [45, tr. 176].

Về âm vực giọng nữ cao, thông thường các ca sĩ đạt âm thanh tốt nhất

từ nốt A3 đến C6. Tuy nhiên, nhiều trường hợp có thể xuống tới G3 hoặc lên

tới E6 vẫn đạt âm thanh đẹp đặt biệt đối với giọng Colorature Soprano. Chúng

tôi cho rẳng, âm vực có thể đạt được đối với giọng Soprano còn mang tính

tương đối, nhiều trường hợp hát được âm vực cao hơn hoặc xuống thấp hơn.

Tuy nhiên, về căn bản âm vực các tác giả đưa ra là hoàn toàn có căn cứ và để

đạt được trình độ như vậy người học phải có q trình rèn luyện một cách

nghiêm túc. Để hiểu rõ hơn về đặc điểm giọng Soprano, dưới đây chúng tơi

phân tích qua ba phần: Âm khu, âm vực và âm sắc.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×