1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


58

phát huy nhiều nhất khả năng của giọng hát, sự linh hoạt trong khi hát, từ đó

người học có khả năng thể hiện những tác phẩm lớn, phức tạp, mang tính

nghệ thuật cao. Đây cũng chính là tiêu chí mà luận án đặt ra trong đào tạo

giọng Colorature Soprano CLC.

2.1. Những yêu cầu khi thực hiện các kỹ thuật của giọng Colorrature

Soprano chất lượng cao

Những yêu cầu bao gồm: Hơi thở, khẩu hình và vị trí âm thanh. Sở dĩ

chúng tơi nhấn mạnh ba yếu tố này vì đây là những yêu cầu quan trọng nhất, là

khung sườn trong ca hát mang yếu tố quyết định chất lượng âm thanh khi hát

bất kỳ kỹ thuật nào, loại hình ca hát nào. Tuy nhiên, chúng tôi không bàn kỹ

làm thế nào để lấy hơi, mở khẩu hình ra sao hay đặt vị trí âm thanh ở đâu, điều

chúng tơi hướng tới là SV cần đạt những yêu cầu đó ở mức độ nào để có thể

ứng dụng khi hát các tác phẩm TN phức tạp mà đào tạo giọng Colorature

Soprano CLC đòi hỏi.

2.1.1. Hơi thở

Hơi thở được xem là nền tảng thiết yếu trong ca hát, là nguồn năng

lượng quan trọng cho giọng hát. Theo tác giả M. E. Donets - Tesseir (GV

người Pháp của Nhạc viện Kiev.Ukraina): “Trong hát, hít thở là yếu tố cơ

bản. Tập cách hít thở đúng là rất khó. Trong hát, hít thở trước tiên là phải

biết tiết kiệm hơi, phải biết phân phối hơi một cách hợp lý ở cả ba khâu:

lượng hơi, nín thở và thở mạnh” [80, tr. 4]. Đồng thời phải chú ý để hơi thở

khơng phát ra thành tiếng. Khi hít hơi cần phải làm thư giãn phần dưới của

lồng ngực chỗ các xương sườn dưới, đồng thời giữ cho phần trên ở tư thế tự

do, không nâng vai lên mà hơi ngả về phía sau để cho ngực rộng ra. Cách thở

thuận tiện nhất là thở hỗn hợp, tức là thở bằng xương sườn và cơ hoành. Sau

giai đoạn một của thở là hít vào thì đến giai đoạn nín thở ngắn, tức là ngừng

một chút để cho các cơ chức năng kịp chuyển sang chuẩn bị cho thở ra. Thở

ra cần chậm, đều bằng cách điều khiển các cơ nén cho bụng thóp lại một cách

đàn hồi. Tập thở ra đều đều, từ từ, một trong những động tác khó trong phát

triển kỹ thuật hát. Theo cuốn Kinh nghiệm giảng dạy giọng nữ cao: Hơi thở



59

càng nhịp nhàng, đều đặn thì càng có thể giữ cho tiếng hát ngân dài hơn và

nghe hay hơn” [80, tr. 5].

Để phát triển hơi thở đúng hướng lệ thuộc nhiều vào việc hướng dẫn

kiên trì của GV và sự tiếp thu nghiêm túc của SV. Qua theo dõi nhiều năm

chúng tơi thấy ít SV luyện tập hơi thở đúng cách, thông qua các kỳ thi và

kiểm tra, những kết quả tốt thường thuộc về những người có hơi thở tốt, có

thể khẳng định, lấy hơi và kiểm soát hơi thở là nền tảng thiết yếu cho tất cả

bài luyện giọng. Để mang lại hiệu quả của việc kiểm sốt hơi thở cần có sự

tương tác giữa các cơ của ngực nâng lên, vùng xương sườn và thành bụng

trước. Thông thường, những SV được lựa chọn trong đào tạo CLC, việc lấy

hơi ở đâu, lấy bằng cách nào khơng còn là vấn đề khó khăn, xong làm chủ

luồng hơi và vận dụng tốt vào tác phẩm lại là điều cần bàn. Bởi vậy, làm thế

nào để hát một câu hát dài vẫn làm chủ cột hơi? Những đoạn có giai điệu

nhảy quãng xa mà vẫn đạt âm thanh đều đặn...

Sau khi đạt được yêu cầu cơ bản trong việc lấy hơi, nhả hơi và giữ hơi

sẽ là giai đoạn phát triển hơi thở, tập những mẫu âm luyện thanh khó để luồng

hơi tích cực hơn, có khả năng ứng dụng tốt nhất vào các tác phẩm TN mang

tính nghệ thuật đỉnh cao. Để làm rõ điều này, chúng tôi đã nghiên cứu đưa ra

những bài tập phát triển hơi thở đối với SV giọng Clorature CLC như sau:

Luyện nhiều bài tập có giai điệu nhảy quãng.

Ví dụ 1 [35, tr.265].



Ví dụ 2 [35, tr.252].



Để thực hiện mẫu luyện thanh trên hiệu quả, cách tốt nhất nên kết hợp

phụ âm “m” kết hợp các nguyên âm “i” hoặc “a” tạo thành âm “mi” hoặc

“ma”. Khi luyện, dây thanh đới mở ra để hít vào và khép lại để thở ra cho



60

phần khởi đầu tiếp theo. Kiểm soát hơi thở ở thành bụng, riêng luyện âm nảy,

phần bụng dưới bật nhẹ, cơ thể ở trạng thái thả lỏng nhất.

Luyện những bài tập thể hiện đồng thời cường độ sắc thái

Ví dụ 3. [35, tr.111].



Ví dụ 4 [35, tr.249].



Thực tế cho thấy, những đoạn hát kéo dài kết hợp nhạc cảm người hát

thường khó giữ được hơi đến hết câu hát kèm theo sự gồng cứng cơ thể và

cứng hàm...Bởi vậy, cần luyện tập thường xuyên những mẫu âm trên đây để

trở thành thói quen sử dụng hơi thở trong một câu hát phức tạp. Để thực hiện,

người hát phải có sự chuẩn bị hơi thở kỹ càng, tiết kiệm hơi thở khi hát sao

cho âm thanh được nét nhất, làm chủ cả cường độ âm nhạc. Bụng dưới chứa

và nén chặt hơi nhưng phần ngực trên trở lên phải được thả lỏng tuyệt đối. Có

thể luyện các mẫu âm trên bằng cách đọc note nhạc hoặc kết hợp với các

nguyên âm, phụ âm như: Nô, na, mô, ma, la...

Tập hơi thở cùng với mẫu âm hát nhanh

Ví dụ 5 [35, tr.259].



Ví dụ 6 [35, tr.260].



61

Hát nhanh chính là sở trường của giọng Colorature Soprano, do vậy

luyện những mẫu âm trên rất phù hợp để phát triển hơi thở giúp người hát dễ

dàng ứng dụng khi hát một câu hát dài. Để thực hiện những mẫu âm trên

người hát cần lưu ý lấy hơi sâu tại phần cơ hoành, cần làm chủ hơi thở, tiết

kiệm hơi để hát hết câu với âm thanh đều đặn không bị mất nốt.

Phần trên đây chúng tôi đã đưa ra một số mẫu âm luyện thanh rất thích

hợp để phát triển hơi thở cho giọng Colorature Soprano. Chúng tôi muốn

nhấn mạnh đây là một trong những kỹ năng vô cùng quan trọng mà người học

hát cần phải hiểu, nắm chắc và thực hiện, như tác giả A. E. Varlamov viết

trong cuốn Trường dạy hát: “khi hát, muốn cho tiếng hát không phát ra một

cách bản năng, vơ thức thì phải biết cách tập ra tiếng hát trên cơ sở hiểu biết

chơ chế hít thở và cơ chế sản sinh giọng nói” [73, tr 3]. Tuy nhiên, cần lưu ý,

dù đã ở một trình độ hiểu biết nhất định, xong trong luyện tập hơi thở GV nên

đan lồng các mẫu âm từ dễ đến khó. Khơng nên vì SV có tố chất, năng lực tốt

mà cho luyện ngay những mẫu âm khó khi bắt đầu.

2.1.2. Khẩu hình

Khẩu hình là yếu tố vơ cùng quan trọng trong TN, “là bộ phận hoạt động

liên tục trong suốt thời gian hát... giữ vai trò quan trọng khi phát âm” [35, tr.

42]. Cuốn Phương pháp dạy TN của tác giả Hồ Mộ La nhấn mạnh vấn đề mở

khẩu “mở khẩu hình - mở như ngáp” [45, tr.174]. Tác giả cho rằng: “các nhà

nghiên cứu Venner, L.V.Dmitriev, Coradetti và nhiều nhà sư phạm khác đều kế

thừa cách mở khẩu hình treo lưỡi gà hình vòng cung của Pasavant” [45, tr.174].

Tác giả cũng nhấn mạnh “trong giảng dạy luôn nhắc nhở và nhắc nhở không

mệt mỏi để học sinh mở bằng được khẩu hình lưỡi gà treo, hát các nguyên âm

đều treo ngược lưỡi gà” [45, tr.179]. Qua q trình học tập, giảng dạy và nghiên

cứu tơi nhận thấy kiểu mở khẩu hình ngáp thực sự mang lại hiệu quả âm thanh

tốt hơn cả, đặc biệt khi ứng dụng đối với giọng Colorature Soprano. Khẩu hình

mở thoải mái, rộng rãi, sẽ làm cho nét mặt được tự nhiên, tươi tỉnh.

Hoạt động mở khẩu hình tựu trung có hai cách mở cơ bản: Mở khẩu

hình chiều dọc và mở khẩu hình chiều ngang. Mở khẩu hình chiều dọc: Cả hai

mơi trên và mơi dưới hơi đưa ra phía trước, được áp dụng ngay cả khi hát



62

những nguyên âm i, ê, thông thường những nguyên âm này khi hát môi trên

hơi nhếch lên; Mở khẩu hình chiều ngang: Đó là cách mở khẩu hình được

thực hiện trên cơ sở mơi trên được nhấc lên, hở hàm răng trên, người ta gọi là

khẩu hình cười, các ca sĩ giọng Soprano, đặc biệt Colorature Soprano thường

áp dụng kiểu mở này khi hát những nốt cao ở âm khu cao hoặc hát những câu

nhạc nhiều nốt ở tốc độ nhanh, hát những âm thanh nảy. Những ca sĩ áp dụng

kiểu mở khẩu hình ngang ngay cả khi phát âm những nguyên âm u, ô thì

miệng vẫn mở với hàm răng trên được lộ ra và vị trí mơi trên ln được nhấc

lên. Khẩu hình chiều ngang tạo ra âm thanh sáng nhẹ và “bay” phù hợp với

các giọng hát nhẹ, đặc biệt với giọng Colorature Soprano. Thực tế, khẩu hình

nên mở ngang hay dọc liên quan tới các nguyên âm i, e, a, o, u, xuất phát từ

những yêu cầu của âm thanh khác nhau, những đặc tính khác nhau của từng

loại giọng, thậm chí của từng phong cách tác phẩm, phong cách tác giả để có

thể áp dụng kiểu mở khẩu hình một cách linh hoạt, đáp ứng những yêu cầu cụ

thể khi biểu diễn.

Đối với giọng Colorature Soprano, khi hát miệng mở phải tương đối

đối rộng hơn khi nói, thiên về mở ngang nhiều hơn. Mở thoải mái, hàm dưới

buông lỏng, mềm mại, không nén hàm dưới xuống một cách thái q, hoặc

chìa hàm dưới ra phía trước, làm như vậy sẽ dẫn tới hiện tượng cứng hàm, là

một trong những nguyên nhân âm thanh bị gằn cổ, ảnh hưởng nhiều tới âm

sắc của giọng. Khi bị các tật nói trên, GV nên cho tập với nguyên âm a, là

nguyên âm giúp mở khẩu hình ngáp dễ dàng, với khn miệng tươi, hàm trên

cười, phía trong khẩu hình lưỡi gà được nhấc lên. Cách mở như vậy sẽ tránh

hiện tượng hát bẹt âm “a”, mặt khác, khi tập nên hướng dẫn người học hát âm

“a” nhưng hơi hướng về âm “ô” để âm thanh nghe tròn tiếng. Hoặc âm luyện

thanh có sự kết hợp của cả nguyên âm “ô” và “a”. Những SV trong đào tạo

CLC hầu hết đã hiểu tầm quan trọng của mở khẩu hình, đa phần thực hiện

được những yêu cầu cơ bản về mở khẩu hình khi hát. Đã biết kết hợp mở phía

trong cổ họng và mở phía ngồi miệng. Tuy nhiên, khi ứng dụng vào những

tác phẩm đòi hỏi kỹ thuật hát phức tạp, phát âm nhả chữ ở những âm khó đặc

biệt nằm ở những nốt cao thì SV còn gặp rất nhiều khó khăn. Để khắc phục



63

điều này, chúng tôi cho rằng cần luyện nhiều những mẫu âm luyện thanh có

sự kết hợp nhiều nguyên âm khác nhau, giúp tạo thói quen thay đổi khẩu hình

một cách linh hoạt.

Ví dụ 7 [35, tr.260].



Ví dụ 8 [45, tr. 161].



Ví dụ 9 [35, tr.260].



Vẫn là những mẫu âm thể hiện sự linh hoạt, nhảy quãng, thế mạnh của

loại giọng Colorature Soprano, xong để luyện khẩu hình, nên kết hợp nguyên

âm và phụ âm với nhau. Ngồi ra còn giúp giải quyết các hiện tượng âm

thanh bị rít, bẹt, hát sâu...

Tuy nhiên, cần lưu ý, dù khẩu hình mở ngang, dọc, rộng, mở vừa, dài

ngắn... ln phải kết hợp mở phía trong (hàm ếch mềm) để mang lại hiệu quả

âm thanh tốt. Hàm ếch mềm khi hát thực hiện vai trò như một cái van điều tiết

đóng lối ra hốc mũi. Khi mở miệng, soi vào gương, tập nhấc hàm ếch mềm

lên giống như khi ngáp. Hoạt động tích cực của hàm ếch mềm kết hợp với nén

hơi tốt, rất có tác dụng khi hát những nốt ở âm khu trên nốt chuyển giọng.

Tuy nhiên, một điều cần nhớ nếu hàm ếch mềm nhấc lên, mà hơi thở lại yếu,

khơng nén tốt, khi đó sẽ tạo ra âm thanh sâu trong vòm họng, âm sắc sẽ tối và

xấu. Khi hát những ca khúc có tầm cữ khơng rộng, khơng cần một âm lượng

lớn, thì hàm ếch mềm khi đó chỉ cần mềm mại, nghĩa là hàm dưới bng lỏng



64

đã có thể tạo âm thanh theo u cầu. Tập cảm giác nhấc hàm ếch mềm ngay

từ động tác hít hơi, cảm giác như khi ngáp. Có thể tập âm thanh với hoạt động

nhấc hàm ếch mềm bằng cách tập hát ngậm miệng như khi ngáp ngậm miệng.

Như vậy, phần này chúng tôi đã nêu những vấn để cơ bản của cách mở

để đem lại âm thanh vang, sáng, đẹp, phù hợp với giọng Colorature Soprano,

đó là sự kết hợp của mở khẩu hình bên ngồi và nhấc hàm ếch mềm bên

trong. Chúng tôi cũng đã chỉ ra những cố tật do cách mở khẩu hình sai gây ra

và đưa ra hướng khắc phục.

2.1.3. Vị trí âm thanh cộng minh

Vị trí âm thanh là nơi âm thanh phát ra tiếng vang, là một trong những

yếu tố vô cùng quan trọng để mang lại một âm thanh tốt. Những ca sĩ giọng

Colorature Soprano khi hát những tác phẩm kinh điển, phức tạp, đặc biệt lại

hát cùng dàn nhạc với quy mô lớn, nếu không đạt kỹ thuật cộng minh điêu

luyện thì giọng hát sẽ bị âm thanh dàn nhạc lấn át giọng hát. Có thể nói, yếu

tố cộng minh sẽ giúp những giọng nữ cao chuyên nghiệp có một âm sắc hồn

chỉnh thơng qua tất cả các qng của giọng. Bởi thế, các nhà sư phạm TN đã

tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra phương pháp hát cộng minh. Vậy âm thanh cộng

minh là gì?

Theo cuốn Phương pháp dạy TN ,tác giả Hồ Mộ La đưa ra nhận định

của W. Venner về vị trí âm thanh như sau: “là một ảo giác tiếng vang 2800Hz

xuất hiện ngay trong “vòng hầu”, chính cái đó gây ảo giác vị trí” [45, tr.199].

Theo tác giả Hồ Mộ La: “tiếng hát có hiệu quả cộng minh tốt là khi ca sĩ thấy

tiếng hát của mình vang vừa phải, nhẹ nhàng và khơng mệt mỏi; người nghe

càng ở xa càng thấy tiếng hát đó vang, khỏe và đẹp”. Người học hát chuyên

nghiệp phải hiểu và nắm được kỹ thuật ca hát này nếu muốn giọng hát được

phát triển, vươn xa, đặc biệt khi hát những tác phẩm TN sở trường của giọng

Colorature Soprano. Các nhà nghiên cứu về sư phạm TN đã chỉ ra hai loại vị

trí âm thanh cộng minh đó là cộng minh đầu và cộng minh ngực.

Cộng minh đầu: Là cảm giác âm thanh phát ra không phải âm vang từ

miệng, mà ở chỗ cao hơn: Ở đầu, ở hốc mũi, ở trán… Âm thanh của giọng hát

không chỉ âm vang ở miệng, mũi, mà truyền đi ở những hốc vang khác nữa.



65

Khi hát tốt, có cảm giác rung ở mặt. Theo tác giả Nguyễn Trung Kiên, “Vị trí

cao của âm thanh không những là cảm giác cộng minh đầu, mà còn chứa

đựng tính chất đặc biệt về âm sắc của âm thanh với những bồi âm phong phú,

một âm thanh đẹp, âm vang mạnh mẽ, trong sáng và gọn gàng” [35, tr 96].

Nói cách khác, là những âm thanh của giọng chuyển (giọng óc hay giả thanh)

được cộng hưởng, được xun thấu, phóng về phía trước cũng nhờ bồi âm mà

chúng tạo ra.

Cộng minh ngực: Được gọi một cách đơn giản là vang ngực. Đó là cảm

giác rung ở lồng ngực khi hát. Tác giả Nguyễn Trung Kiên cho rằng, “Hiện

tượng này xảy ra khi người ca sĩ hát ở âm khu ngực, tức là những nốt trung

và thấp của giọng, lúc đó đặt tay lên ngực sẽ thấy lồng ngực hơi rung” [35, tr

97]. Đây chính là những âm thanh của giọng ngực (giọng thật) có sự cộng

hưởng âm vang đầy đặn, giàu âm sắc nhờ các bồi âm mà chúng tạo ra.

Tuy nhiên, không phải cất giọng hát lên có thể tạo được âm thanh cộng

minh ngực hay cộng minh đầu mà người hát cần hiểu và biết cách đặt âm

thanh vào đúng vị trí giúp tạo ra tiếng hát cộng minh và biến nó trở thành kỹ

năng. Theo tác giả Hồ Mộ La: “Muốn phát huy hiệu quả của cộng minh trước

hết phải tạo hình khoang cộng minh phù hợp với yêu cầu của phát âm các

nguyên âm, âm sắc các loại giọng và các cao độ” [45, tr.198]. Sau khi đạt

được độ vang, xốp, nhẹ nhàng thơng thống của âm thanh “phải rèn luyện sự

chải chuốt và vang rền của âm thanh bằng thủ pháp luyện giọng hát tập

trung vào một điểm cao nhất trong khoang cộng minh... từ đỉnh đó bắn thanh

âm ra ngồi chân răng cửa và phóng ra khơng gian bên ngồi” [45, tr.199].

Với cách tác giả trình bày trên đây chúng tơi nhận thấy có sự tương đồng với

thực tế giảng dạy và trải nghiệm của bản thân.

Trên thực tế, những SV giọng Colorature Soprano khi được lựa chọn

đào tạo CLC là những người đã hiểu và biểu hiện được năng lực này bởi nếu

khơng có vị trí âm thanh đúng khơng thể hát tốt những tác phẩm khó, đặc biệt

là aria. Tuy nhiên, hiểu nhưng ổn định vị trí trong cả tác phẩm hay giữa các

đoạn chuyển giọng còn gặp nhiều khó khăn. Để hướng tới những tác phẩm



66

khó trong chương trình đào tạo CLC người học bắt buộc phải làm chủ được vị

trí âm thanh khi hát.

Theo chúng tơi, để luyện vị trí âm thanh nên cho SV giọng Colorature

Soprano tập nói vào vị trí trước khi hát. Với những tác phẩm được giao, SV

tập phát âm vào vị trí yêu cầu trước, việc này để tránh trường hợp sai vị trí

gây ra âm thanh sâu, tì cổ dẫn tới đau rát cổ họng. Cách này được chúng tôi

thực hiện khá hiệu quả bởi khi nói âm thanh được phát ra nhẹ nhàng, khi GV

nhận thấy người học nói đúng vị trí u cầu thì bắt đầu hướng dẫn SV hát.

Tuy nhiên, trong q trình thực hiện chúng tơi tn thủ một số ngun tắc:

Khơng nói q lớn và cao vượt quãng nói tự nhiên để tránh cơ thể căng cứng

và loại bỏ dấu luyến âm của lời nói thơng thường. Chúng tôi lựa chọn những

nguyên âm, phụ âm giúp bật âm và dễ cảm nhận vị trí âm thanh đúng.

Ví dụ 10: [81, tr.97].



Hoặc cho SV luyện những mẫu bật ngân âm thanh như ví dụ 1 và 8,

hoặc ở một số mẫu âm dưới đây:

Ví dụ 11 [45, tr. 161].



Ví dụ 12 [45, tr. 161].



Trong suốt q trình thực hiện các bài tập trên cần chú ý luyện rõ

ngun âm, mục đích là kết hợp tính tồn vẹn của nguyên âm với sự cộng

hưởng để tạo ra âm sắc tốt. Để làm như vậy, các bộ phận trong cơ chế phát âm

phải được thả lỏng và phải được thay đổi linh hoạt giữa các nguyên âm.

Luyện tập với sự kết hợp hài hòa giữa hơi thở, vị trí và khẩu hình để âm thanh

được tròn, vang, sáng. Tương tự như vậy khi ứng dụng vào tác phẩm cụ thể.



67

Ví dụ 13: Trích đoạn Lucia di Lammermoor của Donizetti [ơ nhịp 1- 8]



Ở trích đoạn trên có sự ln phiên giữa giai điệu liền bậc và nhảy quãng, hát

những trích đoạn kiểu như vậy sẽ tốt cho việc ổn định và phát triển vị trí âm

thanh. Bắt đầu ở “Quando rapito trong estasi del piii cocente ardore” để luyện

độ rõ nguyên âm. Khi hát yêu cầu vị trí âm thanh đặt nông với hơi thở sâu,

nén chắc. Làm chủ những âm liền bậc thì việc vận dụng vào giai điệu nhảy

quãng sẽ đơn giản hơn, mang lại giọng hát chuyên nghiệp với âm sắc tốt nhất.

Trên đây chúng tôi đã giới thiệu các vấn đề quan trọng có liên quan

trực tiếp đến luyện tập các kỹ thuật cần thiết của giọng Colorature Soprano đó

là hơi thở, khẩu hình và vị trí âm thanh cộng minh. Những vấn đề này có mối

liên quan mật thiết lẫn nhau, một âm thanh tốt là khi có sự nén chặt hơi thở

vùng cơ hồnh, cơ thể được thả lỏng, đặt đúng vị trí âm thanh và khẩu hình

mở phù hợp. Nếu chưa cảm nhận hơi thở nén chặt tại vùng cơ hồnh có nghĩa

là vị trí âm thanh đang bị nơng, chưa phải vị trí của khoảng vang cộng minh.

Tác giả Hồ Mộ La đã viết: “Một khi tiếng hát bằng hơi thở với tư thế khẩu

hình ngáp, tạo hình khoang cộng minh tốt, tiếng hát sẽ có cộng minh đẹp,

hiệu quả” [45, tr.176]. Theo phỏng vấn ca sĩ Đào Tố Loan, ca sĩ giọng

Colorature Soprano về vấn đề luyện tập hơi thở, khẩu hình, vị trí âm thanh

như sau:

Hát là nghệ thuật của hơi thở, khi hát legato bình ổn thì hơi thở

nén, khi thay đổi hát staccato thì phải bật bụng, luyện kỹ thuật

đó bằng bật mơi âm ngậm. Khẩu hình hát cần linh hoạt giữa mở



68

dọc và mở ngang và cách luyện tập vị trí âm thanh gắn liền với

tập hơi thở bằng cách bật môi âm ngậm từ thấp lên cao, từ cao

xuống thấp.

[Trích phỏng vấn Đào Tố Loan, GV TN, HVANQGVN, 10/2018].

Chúng tôi cũng nhận thấy, trước khi thực hiện bất kỳ kỹ thuật ca hát

nào người hát đều cần nắm vững sự kết hợp của ba yếu tốt này. Tuy nhiên,

hiện nay còn tồn tại những vướng mắc trong đào tạo TN nói chung, đặc biệt

đào tạo giọng Colorature Soprano, một giọng hát đòi hỏi cao những kỹ thuật

hát cơ bản. Chưa thực hiện tốt ba vấn đề quan trọng nói trên sẽ là lực cản lớn

nhất khi thầy, cô giáo hướng dẫn các SV rèn luyện các lối hát kỹ thuật của

giọng Colorature Soprano.

2.2. Một số kỹ thuật hát cho giọng Colorature Soprano chất lượng cao

TN là môn nghệ thuật vô cùng phong phú và hết sức phức tạp. Kỹ thuật

TN chính là cơng cụ hỗ trợ đắc lực giúp cho giọng hát có thể thể hiện được mọi

yêu cầu của tác phẩm. Tác giả A.E.Varlamov đã viết “Nghệ thuật ca hát có

những đồ trang sức riêng để tập cho giọng hát sự biểu cảm và đẹp đẽ... đó có

thể là portamento (trượt,lướt, vuốt), legato (liền tiếng), staccato (nảy)...” [73, tr.

51]. Tác giả Hồ Mộ La thì tách kỹ thuật TN làm hai phần: kỹ thuật TN “là

những kỹ năng cơ bản... xây dựng ở giai đoạn rèn luyện cơ bản” [45, tr. 213] và

kỹ xảo “là những xảo thuật cao xây dựng trên nền tảng của kỹ thuật cơ bản...

xây dựng ở giai đoạn rèn luyện kỹ năng cao” [45, tr. 213]... Như vậy, đều là kỹ

thuật TN nhưng mỗi mức độ lại cần có những yêu cầu riêng, những kỹ thuật

chung ứng dụng trong tất cả các loại giọng và những kỹ xảo để phát triển tốt

nhất cho từng loại giọng. Trong đào tạo giọng Colorature Soprano việc lĩnh hội

kỹ thuật và luyện tập đạt đến độ tinh xảo là vô cùng quan trọng, đặc biệt với mục

tiêu đào tạo CLC mà luận án đang nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu phát

triển giọng Colorature Soprano CLC chúng tôi tập chung về một số kỹ thuật sau.

2.2.1. Kỹ thuật hát cantilena

Kỹ thuật hát cantilena (liền tiếng) được coi là cơ bản nhất trong ca hát,

được học ngay từ những bước đi ban đầu và ứng dụng trong tất cả các loại

giọng. Tuy nhiên, đối với giọng Colorature Soprano trong đào tạo CLC thì kỹ

thuật này có ý nghĩa là nền tảng để phát triển các loại kỹ thuật khó khác, vì



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×