1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Ví dụ 13: Trích đoạn Lucia di Lammermoor của Donizetti [ô nhịp 1- 8]

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


68

dọc và mở ngang và cách luyện tập vị trí âm thanh gắn liền với

tập hơi thở bằng cách bật mơi âm ngậm từ thấp lên cao, từ cao

xuống thấp.

[Trích phỏng vấn Đào Tố Loan, GV TN, HVANQGVN, 10/2018].

Chúng tôi cũng nhận thấy, trước khi thực hiện bất kỳ kỹ thuật ca hát

nào người hát đều cần nắm vững sự kết hợp của ba yếu tốt này. Tuy nhiên,

hiện nay còn tồn tại những vướng mắc trong đào tạo TN nói chung, đặc biệt

đào tạo giọng Colorature Soprano, một giọng hát đòi hỏi cao những kỹ thuật

hát cơ bản. Chưa thực hiện tốt ba vấn đề quan trọng nói trên sẽ là lực cản lớn

nhất khi thầy, cô giáo hướng dẫn các SV rèn luyện các lối hát kỹ thuật của

giọng Colorature Soprano.

2.2. Một số kỹ thuật hát cho giọng Colorature Soprano chất lượng cao

TN là môn nghệ thuật vô cùng phong phú và hết sức phức tạp. Kỹ thuật

TN chính là cơng cụ hỗ trợ đắc lực giúp cho giọng hát có thể thể hiện được mọi

yêu cầu của tác phẩm. Tác giả A.E.Varlamov đã viết “Nghệ thuật ca hát có

những đồ trang sức riêng để tập cho giọng hát sự biểu cảm và đẹp đẽ... đó có

thể là portamento (trượt,lướt, vuốt), legato (liền tiếng), staccato (nảy)...” [73, tr.

51]. Tác giả Hồ Mộ La thì tách kỹ thuật TN làm hai phần: kỹ thuật TN “là

những kỹ năng cơ bản... xây dựng ở giai đoạn rèn luyện cơ bản” [45, tr. 213] và

kỹ xảo “là những xảo thuật cao xây dựng trên nền tảng của kỹ thuật cơ bản...

xây dựng ở giai đoạn rèn luyện kỹ năng cao” [45, tr. 213]... Như vậy, đều là kỹ

thuật TN nhưng mỗi mức độ lại cần có những yêu cầu riêng, những kỹ thuật

chung ứng dụng trong tất cả các loại giọng và những kỹ xảo để phát triển tốt

nhất cho từng loại giọng. Trong đào tạo giọng Colorature Soprano việc lĩnh hội

kỹ thuật và luyện tập đạt đến độ tinh xảo là vô cùng quan trọng, đặc biệt với mục

tiêu đào tạo CLC mà luận án đang nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu phát

triển giọng Colorature Soprano CLC chúng tôi tập chung về một số kỹ thuật sau.

2.2.1. Kỹ thuật hát cantilena

Kỹ thuật hát cantilena (liền tiếng) được coi là cơ bản nhất trong ca hát,

được học ngay từ những bước đi ban đầu và ứng dụng trong tất cả các loại

giọng. Tuy nhiên, đối với giọng Colorature Soprano trong đào tạo CLC thì kỹ

thuật này có ý nghĩa là nền tảng để phát triển các loại kỹ thuật khó khác, vì



69

làm được kỹ thuật Cantilena đúng nghĩa là hơi thở đúng. Nguyên tắc chung

của kỹ thuật này là biết hát legato giai điệu, nghĩa là âm thanh liền với nhau,

phải đạt được tiêu chí tn trào liên tục và thanh thoát. Như vậy hát cantilena

liên quan trực tiếp đến chất lượng âm thanh, nghĩa là âm thanh phải đúng,

phải luyện tập dần dần, liên tục trên cơ sở nắm vững cách phát âm đúng.

Những âm thanh gào thét, gằn cổ, dù giai điệu vẫn có thể legato nhưng khơng

thể coi đó là âm thanh cantilena, nói cách khác khơng đạt được tiêu chí của

âm thanh cantilena.

Theo tác giả Nguyễn Trung Kiên: Để hát liền giọng phải đòi hỏi hai

điều kiện, thứ nhất: “Luyện tập cho cơ quan phát âm hoạt động đúng và phù

hợp, nghĩa là giọng hát có được những tính chất thiết yếu như: vang, khỏe,

tròn, đều đặn với một hơi thở sâu và tiết kiệm” [35, tr. 105]; thứ hai: “Biết

hát liên kết giai điệu” [35, tr. 105], có nghĩa là hát legato. Để đạt yêu cầu thứ

hai, thời gian đầu tập với những mẫu âm luyện giọng và bài luyện thanh

(vocalise) đơn giản sau đó mới là những bài hát có lời. Ngồi ra nên tập những

câu nhạc giai điệu chuyển động như game, hợp âm rải, với những quãng khác

nhau, cần chú ý không được thay đổi hoạt động của cơ quan phát âm, làm sao

cho âm thanh ln ở trên một vị trí thống nhất.

Ví dụ 14 [35, tr.252].



Ví dụ 15 [35, tr.249].



Những mẫu âm này tương đối khó, phù hợp với lộ trình phải triển giọng

Colorature Soprano trong đào tạo CLC. Khi hát các âm này người học cần đặt

âm thanh nhẹ nhàng với hơi thở ổn định, nên tập với nguyên âm “a” kết hợp

phụ âm “m, n”. Khi thuần thục có thể chuyển luyện nhiều nguyên âm khác

nhau. Luyện tốt những âm trên người học có thể luyện những mẫu âm dài kết

hợp luyện hơi thở.



70

Ví dụ 16: [35, tr.256].



Ví dụ 17: [35, tr.256].



Yêu cầu khi thực hiện những mẫu âm trên âm thanh phải đạt độ vang

và bay, người hát làm chủ hơi thở, phía trong miệng thả lỏng, hàm dưới mềm

mại, hát rõ nốt, tập với tốc độ chậm rồi tăng dần tốc độ. Mở rộng âm vực

giọng hát theo sự tiếp nhận của người học, không nên cố tập quá cao.

Có rất nhiều bài vocalise giúp phát triển kỹ thuật cantilena. Khi tập với

cantilena ở tốc độ chậm, có thể thực hiện những mẫu luyện thanh dạng sau:

Ví dụ 18. Trích Vocalise 6, [Phụ lục 11, tr.146]



Dạng bài luyện thanh trên đây giai điệu liền bậc sẽ giúp thống nhất vị

trí âm thanh và ổn định với hơi thở dài. Người học cần lấy hơi thở sâu, chú ý

hát liền tiếng từ âm nọ sang âm kia.

Phức tạp hơn, người học nên luyện tập những bài vocalise ở mức độ

phức tạp hơn, đòi hỏi sự kết hợp nhiều kỹ thuật khác nhau.



71

Ví dụ 19: Trích Vocalise 6, [Phụ lục 11, tr. 147]



Bài tập trên giai điệu đi lên đi xuống liền bậc nhưng cần kết hợp chạy

passage và kỹ thuật Trillo. Người học phải thực hiện đồng thời các kỹ thuật đó

với âm thanh tn trào. Để thực hiện, người học phải làm chủ hơi thở, cơ thể và

khẩu hình được bng lỏng...

Khi đạt sự chắc chắn về hơi thở, làm chủ vị trí âm thanh, nắm được cơ

chế trong phát thanh, những dạng bài tập dưới đây sẽ giúp phát triển giọng hát

một cách toàn diện, nhằm ứng dụng vào những tác phẩm phức tạp.

Ví dụ 20. Trích Vocalise 5, [Phụ lục 11, tr. 144]



72



Với trích đoạn trên, trong một ô nhịp như xuất hiện nhiều kỹ thuật,

staccato, passage, cantilena cùng với nhảy quãng xa. Để thực hiện đoạn này đòi

hỏi người học sự kiên trì tập luyện. Tập tách từng hơi, từng kỹ thuật để đạt độ

chính xác về âm thanh sau đó ghép các thành câu hát, thể hiện sự tương phản

giữa các kỹ thuật và thống nhất trên cùng vị trí âm thanh.

Trong các tác phẩm TN, kỹ thuật cantilena chiếm một tỉ trọng lớn, đòi

hỏi mức độ phức tạp khác nhau, chẳng hạn: Aria Ah! non credea mirarti trích

“La sonnambula” của V. Bellini [Phụ lục 12, tr.170]; Aria “Omio babbino

Caro” của Puccini...



Ví dụ 21: Aria “Omio babbino Caro” - Puccini (Từ ô nhịp 1 - 3)



73

Khi hát giai điệu trên đòi hỏi người học cần hát gắn kết giữa âm nọ với

âm kia, chú ý ở ô nhịp nhảy quãng xa (A4 - A5). Cần ém hơi thở để câu hát vừa

chính xác về cao độ vừa đạt sự liền tiếng, tuôn trào và nhạc cảm. Tác phẩm trên

phù hợp với SV giọng Colorature Soprano trong đào tạo CLC và có thể học ở

năm thứ nhất bậc đại học.

Tóm lại, với kỹ thuật cantilena, khi thực hiện người học cần chú ý hơi

thở sâu và chắc, cơ thể thả lỏng, những nốt đầu đặt âm thanh chuẩn xác, đẩy

hơi đều đặn để chuyển âm, khẩu hình bng lỏng, ngáp và mở rộng phía trong,

hàm ếch được nhấc cao vừa hát vừa nghe điều chỉnh khoảng vang của âm

thanh. Yêu cầu tiếng hát tròn có sắc thái tình cảm. Theo ca sĩ Đào Tố Loan:

“Hát khó nhất khơng phải là cao bao nhiêu, thấp bao nhiêu mà là làm thế nào

để hát liền giọng từ thấp lên cao, từ cao xuống thấp... Liền giọng tức là biết

cách pha giọng không để lộ giọng thật, giọng giả” [PV GV Đào Tố Loan qua

ghi âm, CD1, Check 2].

2.2.2. Kỹ thuật hát staccato

Hát staccato là yêu cầu kỹ thuật chung của tất cả các giọng đặc biệt

giọng Colorature Soprano. Đây là một trong những kỹ thuật khó trong TN và

là kỹ thuật quan trọng cần phát triển ở đào tạo CLC đối với giọng Coloratura

Soprano. Kỹ thuật staccato tốt nhất để giúp người học nắm được cách bật âm

thanh đúng, nhẹ nhàng, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố các âm thanh cao

bằng cách hát gọn, nhanh như lướt qua các âm cao, là cơ sở để phát triển âm

khu cao của giọng.

Với yêu cầu linh hoạt, nhẹ nhàng, trong sáng của staccato, âm thanh bắt

buộc phải có vị trí nơng và cao, do đó có thể dần dần khắc phục âm thanh sâu,

tối, gằn cổ. Khởi động luyện kỹ thuật này bằng những bài tập đơn giản.

Ví dụ 22 [35, tr.265].



74

Ví dụ 23 [35, tr.265].



Khi hát những mẫu âm trên cần chú ý buông lỏng hàm dưới, môi trên

phải hơi nhếch lên để hở hàm răng trên như khi cười. Vị trí âm thanh phải

nông như phát ra từ chân răng hàm trên. Hơi thở đẩy nhẹ nhàng, không nên

bật hơi ra theo từng nốt nhạc mà cố gắng giữ bụng tương đối ổn định và mềm

mại đàn hồi.

Những mẫu âm trên có thể ứng dụng cho các loại giọng nữ khác tập

luyện bởi chưa đòi hỏi độ phức tạp, tinh vi. Trong đào tạo TN đại trà hiện

hành, không chỉ giọng Colorature Soprano mà những giọng nữ cao khác cũng

phải luyện tập kỹ thuật Staccato. Tuy nhiên, tần xuất kỹ thuật staccato xuất

hiện trong tác phẩm khơng nhiều.

Ví dụ 24: Non posso disperar của Dcluca (từ ơ nhịp 4 - 9)



Có thể thấy, staccato trong trích đoạn trên chưa đòi hỏi kỹ thuật phức tạp. Sự

xuất hiện staccato trong tác phẩm không nhiều đồng thời giai điệu đi liền bậc.



75

Người hát cần có hơi thở chắc, ổn định vị trí âm thanh có thể thực hiện.

Tương tự như vậy trong tác phẩm dưới đây.Thực hiện tương tự như vậy với

các tác phẩm như: Già il sole dal Gange (Mặt trời trên sông Gange) của

Scarlatti; Aria “Danza, danza, faciulla gentile” của Durante ...

Ví dụ 25: Trích aria “Danza, danza, faciulla gentile” của Durante, (ơ

nhịp 54 - 61).



Ở trích đoạn trên, staccato xuất hiện đan xen giữa các ơ nhịp, nhảy

qng 3, khơng khó để người học có thể thực hiện. Chú ý, cảm nhận cơ bụng

dưới bật nhẹ, khẩu hình hơi cười và âm thanh đều đặn.

Nếu các giọng nữ khác staccato không phải sở trường và thường chỉ hát

ở những tác phẩm ít có xuất hiện staccato thì với giọng Colorature Soprano,

những tác phẩm như trên chỉ là sự rèn luyện khởi đầu cho kỹ thuật này.

Làm chủ những mẫu âm staccato thông thường, các giọng Colorature

Soprano nói chung, Colorature Soprano trong đào tạo CLC nói riêng cần

luyện tập những mẫu luyện thanh ở mức độ phức tạp hơn, đó là những bài tập

giải quyết độ linh hoạt, tập khó dần với sự kết hợp giữa các âm hát liền tiếng

với âm nảy, như ví dụ dưới đây.

Ví dụ 26 [81, tr. 67].



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×