1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Ví dụ 35: Aria “Der Holle Rache” trích opera “Cây sáo thần” của Mozart (ô nhịp 25 - 30).

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


80

cầu linh hoạt trong sáng vui tươi của những bài hát thích hợp với giọng

Colorature Soprano.

Trong các tác phẩm opera hầu như các aria viết cho giọng Soprano, đặc

biệt Colorature Soprano (nữ cao màu sắc) đều có những đoạn cần thể hiện

bằng kỹ thuật hát passage. Ngay trong một số romance của Vivaldi chúng ta

cũng thường gặp những đoạn hát kỹ thuật passage rất khó. Bởi vậy có thể nói,

khơng hát được kỹ thuật passage thì khơng thể học những tác phẩm từ thời kỳ

âm nhạc tiền cổ điển và cả đến trường phái cổ điển và lãng mạn sau này và

đối với đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, kỹ thuật chạy passage là một

trong những kỹ thuật quan trọng nhất để phát triển giọng hát này.

Ví dụ 36 [35, tr.264].



Ví dụ 37 [35, tr.264].



Hát những mẫu âm trên ở mức độ từ dễ tới khó, lúc đầu hát nhanh vừa

phải và bắt đầu từ âm thấp quãng trung sau phát triển nhanh dần, luyện cao tới

tầm nốt “sol”, “la” rồi luyện dần xuống nốt khởi điểm ban đầu. Yêu cầu hơi

thở sâu, khẩu hình mở kết hợp phía trong và ngoài, hàm thả lỏng, cơ thể thoải

mái. Sau khi nhuần nhuyễn sẽ tăng cường những mẫu âm khó và rất khó để

phát triển giọng hát.

Ví dụ 38 [35, tr.264].



81

Ví dụ 39 [35, tr.264].



Khi thực hiện luyện các âm trên đây người hát cần tăng cường hơi thở,

phát huy tối đa tầm quan trọng của khẩu hình ngáp, cười, cơ mặt và cằm

buông lỏng với cơ thể thoải mái. Luyện kết hợp với các nguyên âm, phụ âm:

Mi, ma, nô, na...

Các tác phẩm dành cho giọng Colorature Soprano sử dụng rất nhiều kỹ

thuật passage, chẳng hạn: A.Scarlatti với tác phẩm Gia il sole dal Gange; Le

violetle, Spesso vibra per gioco của A.Campra; Tác giả A.Vivaldi với Col

piacer della mia fede, Io son quell gelsomino, La rondi nella amante; F.

Handel: Aria Da tempest. Opera “Giulio Cesare”, Aria Piangero la sortemia

“Giulio Cesare”, Aria Morrana “Tornami a vagheggias” opera “Alcina”, Aria

Atalanta “Un cenno leggiadretlo” op “Serse”; W.A. Mozart với Liên khúc

Exsultate, Jubilate gồm ba phần (Esultate, tu viginum, Alleluja; Vesperae de

Dominica Kv321; Laudate Dominum KV321; Lamero Dein Bin ich KV

208); Rossini: Cô gái chăn cừu, Taratella, Cô gái bán hoa, Cavatina

Semiramis “Bell raggio Lusimglier” trích opera “Semiramis”; G.Verdi:

Khúc hát Osca. Op “Vũ hội giả trang; Aria Gilda trích opera “Rigoletto”...

Các tác phẩm này có thể chỉ yêu cầu hát passage trong một đoạn nhỏ nhưng

có khi xuyên suốt cả tác phẩm, chẳng hạn: Cavatina der Semiramis của G.

Rossini [PL13, tr.244]; Aria Ah! non credea mirarti trích “La sonnambula”

của V. Bellini [PL12, tr.174].



82

Ví dụ 40: Trích Aria Ah! non credea mirarti trích “La sonnambula” của

V. Bellini (ô nhịp 73-76)



Đoạn chạy trên đây âm vực lên rất cao, câu passage chạy dài và liên tục

yêu cầu người hát cần chuẩn bị luồng hơi sâu, lấy hơi nhanh để không ảnh

hưởng đến tốc độ, đẩy hơi phải nhẹ nhàng, không tống hơi đột ngột. Khi bật

âm thanh phải nhẹ nhàng, dứt khốt. Ln chú ý sự chuẩn xác cao độ, không

hát một cách hời hợt, lướt qua, bỏ nốt, âm thanh phải rõ ràng, rõ tiếng dù đang

hát ở tốc độ nhanh. Hàm dưới buông lỏng để tránh cứng hàm sẽ ảnh hưởng

không tốt tới âm thanh và tốc độ.

Có những tác phẩm, chạy passage còn yêu cầu xử lý sắc thái biểu cảm

rất phức tạp, chẳng hạn:

Ví dụ 41: Trích “Rezitativ und Cavatine” trong Linda di Chamounix của G.

Donizetti (ơ nhịp 97 - 100).



83

Trích đoạn trên đây không chỉ yêu cầu chạy passage linh hoạt, âm vực

rất cao và đòi hỏi xử lý sắc thái phức tạp. Để thực hiện, người học phải đạt

được sự điêu luyện trong kỹ thuật hát, làm chủ được hơi thở dài, vị trí âm

thanh để câu hát đạt độ bay, vang xa.

Nói chung, kỹ thuật hát passage rất có lợi cho sự phát triển giọng

Colorature Soprano, tuy nhiên đây là một trong những kỹ thuật khó dạy, khó

học bởi như một số ngun nhân chúng tơi đã trình bày. Trong quá trình dạy

học người dạy cần chú ý nghiên cứu kỹ phương pháp rèn luyện kỹ thuật này,

nên tuân thủ những yêu cầu về kỹ thuật từ đơn giản tới phức tạp, từ đó tùy

theo năng lực tiếp nhận của từng đối tượng, người dạy sử dụng các mẫu âm

luyện thanh, các bài vocalise cho tới các tác phẩm phù hợp để mang lại hiệu

quả cao trong đào tạo.

2.2.4. Kỹ thuật hát trillo

Trillo theo tiếng Ý có nghĩa là hát láy đi láy lại hai nốt liên tiếp với tốc

độ rất nhanh. Đây là loại kỹ thuật khó, thơng thường giọng Colorature

Soprano có nhiều thuận lợi hơn các giọng khác. Trillo đôi khi được kết hợp

với một nốt cao ngân dài. Trong tác phẩm luôn xuất hiện hai ký hiệu nằm

ngay trên đầu của nốt nhạc đó là chữ “tr” hoặc hình lượn sóng để nhận biết về

trillo. Thơng thường, trước khi trillo có chùm láy hoa mỹ.

Ví dụ 42 [45, tr.220].



Theo tác giả Mồ Mộ La: “Khi rèn luyện trillo, họng mở to, lưỡi gà

nhấc cao, cằm ổn định và các cơ thanh quản thả lỏng, hơi thở nén tốt và đẩy

hơi đều đặn liên tục, vị trí và âm sắc nhất quán. Tiếng rung láy có cao độ

chuẩn xác, ngân đều và nhẹ nhàng” [45, tr.141]. Trong những tác phẩm tiền

cổ điển, cổ điển viết cho các giọng Soprano thường xuyên có những chỉ định

trillo làm cho câu hát sinh động và thêm màu sắc. Giọng Colorature Soprano

phải rèn luyện kỹ thuật hát này, hiện nay kỹ thuật trillo chưa được quan tâm

đúng mức, thầy cô giáo còn ít cho SV giọng Soprano luyện tập.



84

Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số bài tập luyện thanh phát triển kỹ

thuật rung láy.

Ví dụ 43 [45, tr.160].



Yêu cầu khi hát các nốt phải lướt nhanh và nhẹ, nhấn vào nốt chính và

gọn tiếng. Trong luyện thanh, khơng nhất thiết phải luyện bằng mẫu âm có

các nốt hoa mĩ một cách trực tiếp mà có thể dùng trường độ móc kép để

người học dễ dàng thực hiện. Nên luyện mẫu âm đơn giản rồi tăng cường độ

khó theo tốc độ từ chậm rồi nhanh dần. Người học kết hợp luyện với âm: Mi,

ma hoặc đọc note với mẫu âm trên.

Ví dụ 44: [PL 9, tr.7]



Với những mẫu âm khó hơn, yêu cầu tăng cường về tốc độ và mở rộng

âm vực theo năng lực tiếp nhận của người học, thơng thường có thể bắt đầu

luyện từ khoảng trung là âm G4, A4 và lên cao dần tới nốt A5 hoặc cao hơn.

Tuy nhiên, âm thanh phải đạt yêu cầu vang, xốp, sáng, nhẹ, không bỏ nốt,

giữa các âm phải tạo được sự mềm mại, uyển chuyển. Muốn vậy, hơi thở phải

chắc, khẩu hình mở và thả lỏng cơ hàm, cơ thể không căng cứng. Luyện tập

giai điệu trên với các âm: Mi, ma, nô, na...

Các tác phẩm yêu cầu kỹ thuật hát Trillo...



Tác phẩm Rigoletta



“Gualtier Malde...” - “Caro nom che il mio cor” của Verdi [PL12, tr. 160];

Lucia di lammermoor “Regnava nel silenzio” - “Quando rapito in estasi” của

Donizetti [PL12, tr. 209]; “Fruhlingsstimmen - Walzer” Die Lerche in blaue

Hob của Strauss [PL13, tr. 367]...



85

Ví dụ 45: Trích Rigoletta “Gualtier Malde...” - “Caro nom che il mio

cor” của Verdi [PL12, tr. 160].



Ví dụ 46 : Aria Les filles de Cadix của A. De Musset và L. Delibes (từ ô

nhịp 94 - 98).



Nhìn vào ví dụ trên cho thấy, âm láy rền thường xuất hiện ở quãng 2

thứ hoặc quãng 2 trưởng. Trong trích đoạn trên, tác giả sử dụng liên tục trong

câu các âm láy rền tại các nốt C5, E5, D5, với yêu cầu thực hiện luân phiên

nên có phần phức tạp, đòi hỏi người hát cần có kỹ thuật vững, thả lỏng cơ thể

và hát một cách chủ động để có thể thực hiện được tốt nhất yêu cầu đặt ra.

Kỹ thuật Trillo còn xuất hiện chỉ trong 1 nốt nhạc nhưng yêu cầu phải

có hơi thở sâu, đầy đặn để có thể xử lý được rung láy trong một nốt kéo dài.



86

Ví dụ 47: Trích Rigoletta “Gualtier Malde...” - “Caro nom che il mio

cor” của Verdi [PL12, tr. 163].



Nốt E5 kéo dài 10 phách và yêu cầu rung láy liên tục trong cả 10 phách đó.

Mặc dù chỉ có một nốt nhưng bản thân rung láy tạo ra nhiều nốt liền bậc xung

quanh nốt đó, bởi vậy, trường hợp này, thanh quản nên chủ động dao động

trong cả quá trình láy rền sao cho âm thanh vừa đạt độ rung được hình thành

qua cộng hưởng âm thanh vừa đạt độ rung láy nhanh có chủ đích. Khi mới thử

nghiệm âm láy rền ở thời gian đầu có thể SV khó kiểm sốt được sự giao

động của thanh quản, bởi vậy khi tập luyện cần hết sức lưu ý vấn đề thả lỏng

của các cơ, (cơ hàm, ngực...). Giữa một âm láy rền và âm rung là cao độ được

nâng lên trong âm láy rền, nhưng khơng có ở âm rung. Trong khi láy rền cần

nỗ lực để biến đổi giữa nốt cuối và nốt cao hơn (hoặc nửa âm cao hoặc toàn

bộ nốt được nâng lên) mà độ rung vẫn duy trì trên cùng một nốt. Có thể

hướng dẫn người học luyện âm láy rền bằng cách láy một điệu huýt sáo ngân

tại một cao độ sau đó ngay lập tức hát cùng một nốt bằng chuyển động thanh

quản và điều chỉnh hơi thở, tạo ra nốt ở mức với dao động thanh quản trong

từng vận động.



87

Ví dụ 48: Trích Lucia di lammermoor “Regnava nel silenzio” “Quando rapito in estasi” của Donnizetti [PL12, tr. 209].



Trích đoạn này yêu cầu rung láy nhảy quãng, liên tục. Khi đã quen với cách

hát rung láy thì với trích đoạn trên người học không cần lo lắng về quãng

nhảy này bởi với âm nảy ở nốt dưới F4 giúp dễ tạo độ bật âm thanh hơn khi

láy rung ở nốt D5, tương tự vậy với các âm còn lại. Tuy nhiên, đáng chú ý là

các quãng được mô tiến cromatic đi lên cùng những yêu cầu xử lý âm nhạc

trong đoạn đòi hỏi người học cần có sự tập trung và thận trọng hơn bởi sẽ dễ

bị phô chênh hoặc điều tiết hơi thở bị thô kệch, cần tránh tạo ra âm láy rền

quá mức.

Tóm lại, khi tập những tác phẩm TN có yêu cầu kỹ thuật rung láy, điều

nên thực hiện là tập tách từng phần nhỏ, lặp đi lặp lại nhiều lần, khi đã ổn mới

ghép vào giai điệu cả câu hát. Cần luyện tập ở mức độ thường xun để ln

duy trì được cách hát này.

2.2.5. Hát sắc thái to nhỏ

Đây là kỹ thuật rất cần thiết đối với đào tạo TN nói chung, đào tạo

giọng Sprano Colorature nói riêng. Trong bài hát, tình cảm một phần được thể

hiện bằng sắc thái, trong đó có sự thay đổi to, nhỏ, mạnh, yếu của một nốt

nhạc hoặc cả câu nhạc. Những sắc thái to nhỏ này được ghi bằng những ký

hiệu chữ viết tắt, thí dụ: mạnh, to (forte), yếu, nhỏ (piano), từ to tới nhỏ - nhỏ

dần (diminuendo), từ nhỏ tới to, to dần (crescendo)... Yêu cầu khi hát nhỏ đi



88

hoặc to dần trên một nốt nhạc một cách đều đặn, liên tục, không bị gẫy âm

thanh, không ngắt qng, khơng thay đổi vị trí cộng minh của âm thanh.

Phải khẳng định, luyện tập hát to dần, nhỏ dần là một kỹ thuật khó. Với

một người chưa nắm vững cơ bản mà cố gắng thể hiện sắc thái nhỏ, to, mạnh,

nhẹ sẽ rất nguy hiểm cho giọng hát bởi rất dễ khiến âm thanh bị khô, gằn cổ,

không mượt mà, thanh thốt, thậm chí âm thanh thường bị mờ, yếu ớt và gãy.

Bởi vậy, cần có sự tập luyện một cách nghiêm túc kỹ thuật này trước khi ứng

dụng vào những tác phẩm có sức biểu cảm mạnh mẽ về tính chất và cường độ

âm nhạc.

Ví dụ 49: [35, tr.253].



Ví dụ 50 [35, tr.253].



Ở hai ví dụ trên, yêu cầu xử lý sắc thái từ to xuống nhỏ dần, đoạn đầu yêu cầu

hát to và những âm cuối hát nhỏ. Khi hát những âm như vậy cần chuẩn bị

luồng hơi tốt, không tống hết hơi ở nốt ngân tự do và dành hơi để ém nhỏ dần

âm thanh sao cho không bị đứt cụt hơi ở cuối câu. Khẩu hình vẫn mở ổn định

với hàm dưới bng lỏng, luyện tập kết hợp với các nguyên âm, phụ âm như:

Ma, mô, na, nô, la hoặc đọc note.

Sau khi biết cách xử lý những yêu cầu cơ bản khi hát kỹ thuật này, khi

người học kiểm soát được âm thanh với hơi thở chắc chắn và đạt được sự ổn

định của âm thanh cộng minh thì tiếp đến là thời điểm để luyện tập các bài tập

khó hơn để kiểm sốt cường độ của giọng hát. Tất nhiên, khơng phải với hầu

hết các giọng hát đến thời điểm này chỉ đạt một mức về sắc thái hay độ rung

cộng minh, điều chúng tơi muốn nói tới là quy trình rèn luyện với mục đích trì

hỗn sự phát triển cường độ cho đến khi kỹ thuật TN cơ bản của người học



89

thực sự đã ổn định và chúng tôi chắc chắn có thể bắt đầu luyện tập sâu kỹ

thuật kiểm sốt cường độ. Với cách thức bắt đầu ở mức êm dịu hoặc rất êm

dịu, mạnh dần tới mức rất mạnh hoặc cực kỳ mạnh, và sau đó quay trở lại êm

dịu như vậy sẽ làm hạn chế sự nguy hại gây tổn thương đến âm sắc giọng ca

như đã phân tích ở trên. Từ đây làm cơ sở để người học tiếp tục luyện tập

những yêu cầu cao, khắt khe hơn đối với kỹ thuật hát này.

Ví dụ 51 [35, tr. 264].



Với bài tập trên, thay đổi sắc thái liên tục khi to, khi nhỏ luân phiên,

đây là kỹ thuật khó, người học phải đạt ở mức độ tinh xảo mới dễ dàng đạt

được. Cần đặc biệt lưu ý, hơi thở sâu, đẩy hơi đều đặn, âm nọ liền với âm kia,

vị trí âm thanh nơng, gọn. Những âm thấp hát như nói, dành hơi thở cho

những âm cao. Khẩu hình phải mở rộng bằng cách nhấc hàm ếch mềm, hàm

dưới buông lỏng, khi hát nhỏ dần miệng không nên khép lại, mà vẫn giữ độ

mở cần thiết đặc biệt nhấc phần lưỡi gà phía trong để âm thanh khi vuốt nhỏ

đi không bị nghẹt, không bị gẫy, kéo dài được liên tục, nhỏ dần dần âm thanh.

Ứng dụng cách xử lý âm thanh như trên vào tác phẩm TN, chẳng hạn:

Ví dụ 52: Trích Die Nachtigall của Alabieff [PL13, tr.362].



90

Trích đoạn trên xử lý sắc thái khơng q khó bởi nó đễn ra ở hai ơ nhịp và ít

có sự phức tạp trong giai điệu, có thể dùng để luyện kỹ thuật này ở giai đoạn

đầu. Tuy nhiên, rất nhiều tác phẩm đòi hỏi xử lý sắc thái phức tạp, xử lý sắc

thái to, nhỏ ngay trong 1 ô nhịp và liên tục trong cả câu hát.

Ví dụ 53: Trích Ave Maria của Caccini (ơ nhịp 18 - 24)



Ngay ô nhịp đầu tiên đòi hỏi xử lý sắc thái từ nhỏ tới to dần rồi lại trở

về êm dịu, kết hợp đồng thời với kỹ thuật hát liền giọng. Để thể hiện được

những biểu cảm như vậy người hát phải kết hợp chắc chắn các yêu cầu về kỹ

thuật từ hơi thở sâu, chắc, khẩu hình mở linh hoạt, vị trí âm thanh mỏng phía

chân răng cùng sự bng lỏng cơ thể... những yếu tố trên đóng vai trò làm nền

móng vững chắc, người hát chỉ tập chung tới tính chất âm nhạc, tới sự diễn tả

cảm xúc để đạt đúng yêu cầu mà tác phẩm hướng tới. Như vậy, để phát triển

kỹ thuật hát sắc thái biểu cảm đối với giọng Colorature Soprano nói riêng,

trước tiên phải nắm được những yêu cầu cơ bản là yếu tố nền, sau mới chuyển

sang luyện để phát triển đầy đủ hơn khả năng kiểm soát cường độ và độ vang

rền giọng hát.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×