1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


97

CLC thì khơng phải GV nào cũng có thể đáp ứng. Theo GS.TS.NSND Trần

Thu Hà.

“Người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự thành

công trong đào tạo tài năng biểu diễn âm nhạc (chiếm đến 50%).

Đây là ngành đặc thù, những giờ học chuyên môn thường là một

thầy một trò. Thời gian người thầy làm việc với học trò thường

kéo dài trong một q trình. Trong q trình đó, người thầy

khơng chỉ truyền nghề mà còn phải có nhiệm vụ truyền cả kiến

thức, kinh nghiệm” [25, tr 50].

Điều đó cho thấy, để đạt được hiệu quả cao trong đào tạo thì việc bồi

dưỡng nâng cao năng lực của GV là việc làm quan trọng. Qua quá trình tìm

hiểu chúng tơi nhận thấy, để nâng cao năng lực của GV dạy TN đáp ứng đòi

hỏi trong đào tạo giọng Colorature Soprano CLC cần chú trọng những yếu tố

sau đây.

3.1.1. Năng lực chun mơn

Ngồi những kiến thức cơ bản về kỹ thuật TN đáp ứng yêu cầu đào tạo

ca sĩ với mục tiêu chung đặt ra trong chương trình đào tạo thanh nhạc hiện

nay, với SV, học viên đào tạo CLC người thầy phải có kiến thức chun mơn

giỏi, có thành tích trong đào tạo, là những GV dạy lâu năm, am hiểu sâu và

tường tận hơn những kỹ thuật ở mức độ cao nhằm hướng dẫn người học giải

quyết được những vấn đề phức tạp trong các tác phẩm dành cho giọng

Colorature Soprano như: những đoạn chạy passage xuất hiện liên tục trong tác

phẩm, những đoạn staccato phức tạp, những câu hát đòi hỏi một hơi thở dài,

đầy đặn, hoặc sự luân phiên nhiều kỹ thuật phức tạp trong một tác phẩm... Để

hướng dẫn SV, học viên thực hiện tốt những bài tập đó, ngồi phương pháp

dùng lời, cách tốt nhất để học sinh dễ cảm nhận là người dạy thực hiện mẫu

cho SV. GV phải là người giàu kinh nghiệm giảng dạy, có kiến thức và hiểu

biết sâu rộng, có tai nghe âm nhạc tinh tường để phân biệt người học đang hát

sai ở khâu nào và cần khắc phục ra sao. Những GV như vậy hiện nay khá

hiếm, thường là những người có tầm ảnh hưởng lớn tới sự phát triển TN nước



98

nhà. Như vậy, muốn đạt được chuyên môn sâu, đáp ứng yêu cầu cao như phân

tích trên đây thì GV, đặc biệt ở những người trẻ cần khơng ngừng học tập, rèn

luyện, có thể bằng một số cách sau.

Tham gia lớp học ngắn hạn, giao lưu học tập chuyên gia nước ngoài.

Hàng năm, nhà trường có những kế hoạch học tập nâng cao trình độ

chuyên môn tại nhiều nước trên thế giới, những GV có trình độ cao nên dành

thời gian để tham gia theo học vừa nâng cao về chun mơn, vừa có thể du

nhập những phương pháp dạy học tiên tiến của nước ngồi ứng dụng trong

đào tạo TN nói chung, đào tạo giọng Clorature Soprano nói riêng tại

HVANQGVN.

Mặt khác, GV có thể giao lưu, học tập cùng chuyên gia nước ngoài.

Mỗi năm khoa TN đều có những chun gia nước ngồi tới hướng dẫn, bồi

dưỡng chuyên môn, nhiều người là chuyên gia trong đào tạo giọng Colorature

Soprano, bởi vậy đây là cơ hội tốt để các GV tham gia học tập và trau dồi

kinh nghiệm biểu diễn cũng như giảng dạy. Ngoài dự giờ, các GV nên cùng

nghiên cứu tác phẩm, trực tiếp tham gia thực hành để nhanh chóng nắm bắt

các kiến thức.

Nghe, học, nghiên cứu nhiều tác phẩm kinh điển dành cho giọng

Soprano Colorature

Chúng tôi cho rằng, việc nghe nhiều tác phẩm TN CLC, có chọn lọc

của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới sẽ có tác động lớn đối với việc nâng cao

năng lực chuyên môn của GV. Trong q trình nghe nhiều, người GV sẽ phân

tích được lý do tại sao người hát có thể thực hiện được những khúc đoạn hay

tác phẩm như vậy, sẽ đặt câu hỏi rằng các nghệ sĩ đó đã sử dụng những kỹ

thuật gì? như thế nào? để đạt được chất lượng âm thanh như vậy... Q trình

phân tích đó sẽ giúp GV tự trau dồi và nâng cao kiến thức chuyên môn, để khi

ứng dụng vào dạy học cho SV, người thầy sẽ dễ dàng biết được SV hát sai tại

đâu và cần thêm bớt những kỹ thuật gì khi hát tác phẩm đó. Người GV nếu có

thể hát được thêm nhiều tác phẩm dành cho giọng Colorature Soprano là điều



99

rất tốt, bởi khi trực tiếp hát những tác phẩm như vậy GV sẽ hiểu rõ nhất

những khó khăn nằm ở đâu và hướng khắc phục như thế nào, từ đó giúp

người học dễ tiếp nhận kiến thức hơn.

Nghiên cứu sách chun ngành

Chúng tơi có thể khẳng định, việc đọc, tìm hiểu những cuốn sách về sư

phạm TN, đặc biệt là đào tạo cho giọng Colorature Soprano CLC sẽ giúp

người học có một lượng kiến thức lý luận sâu sắc và chặt chẽ. Đó là những

đúc kết kinh nghiệm giảng dạy quý báu của những nhà sư phạm đầy tâm

huyết đi trước, khi đọc và nghiên cứu sách người dạy sẽ biết mình đang còn

hổng kiến thức ở khâu nào, cần bồi dưỡng thêm những lượng kiến thức ra sao,

từ đây làm giàu thêm kiến thức chuyên môn giảng dạy. Tuy nhiên cũng nên

lưu ý, có nhiều sách có hướng nghiên cứu giống nhau như cách giải quyết

cùng một vấn đề lại cho ra những kết quả không nhất quán, mang đậm tính

chủ quan. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về phương pháp mở khẩu hình hát, có

sách cho rằng TN nên mở khẩu hình ngáp, có sách lại viết chỉ nên mở khẩu

hình ngáp trước khi hát bởi việc ln mở như ngáp sẽ ảnh hưởng tới chất

lượng âm thanh. Thực chất, mỗi cách thức đều gắn với một giai đoạn lịch sử

bởi những trường phái TN khác nhau... do vậy, người GV khi nghiên cứu sách

cần xác định rõ cách thức giảng dạy TN hiện hữu đang dựa trên cơ sở nào,

trường phái TN nào, từ đó có sự so sánh, đánh giá và lựa chọn những kiến

thức xác thực hơn cả nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong giảng dạy...

3.1.2. Các năng lực bổ trợ

Đào tạo SV đỉnh cao đồng nghĩa với việc người dạy luôn không ngừng

học tập, trau dồi kiến thức để nâng cao trình độ. Như đã nêu trong thực trạng,

hiện nhiều GV còn bộc lộ một số hạn chế ở các môn bổ trợ như: Ngoại ngữ

chuyên ngành, năng lực sử dụng đàn piano cũng như hiểu biết về kiến thức

âm nhạc... bản thân tôi cũng mắc phải những lỗi nêu trên và đã gặp khơng ít

khó khăn trong q trình giảng dạy. Bởi vậy, chúng tôi hiểu tầm quan trọng



100

của việc học tập, nâng cao các năng lực này nếu muốn nâng cao chất lượng

đào tạo chuyên môn.

Về ngoại ngữ trong chuyên ngành

Để phục vụ công việc giảng dạy TN đạt hiệu quả cao thì việc cần thiết

đối với mỗi GV đó là nghiên cứu để hiểu về cách phát âm một số ngoại ngữ.

Có thể thấy, phần lớn các tác phẩm TN nước ngồi hiện nay đang sử dụng

ngơn ngữ của các nước như: Ý, Đức, Pháp, Nga... (những nước có tầm ảnh

hưởng lớn tới lịch sử và sự phát triển của TN). Nếu GV không nắm được

nguyên tắc phát âm của những ngơn ngữ này thì khơng thể hướng dẫn cho

người học phát âm chuẩn xác khi hát.

Hiện tại, HVANQGVN chưa tổ chức các lớp học ngoại ngữ chuyên

ngành, nhận thức tầm quan trọng, Khoa TN đã tổ chức được lớp học tiếng Ý

tuy nhiên rất ít người đăng ký theo học. Theo chúng tôi, vấn đề này nên được

quan tâm hơn nữa ở cả phía nhà trường và GV, thậm chí khuyến khích SV

cùng tham gia lớp học. Khơng chỉ tiếng Ý mà nên mở rộng học các ngôn ngữ

khác như: Đức, Nga, Pháp... có vậy mới phù hợp với xu thế phát triển chung

hiện nay.

Về kiến thức âm nhạc tổng hợp

Trong TN, rất nhiều tác phẩm biểu hiện giai điệu, tiết tấu và ký hiệu âm

nhạc phức tạp, thể hiện sự tổng hợp kiến thức âm nhạc trong đó. Chẳng hạn:

Tác phẩm Cavatine der Semiramis trích “Semiramis” của G.Rossini [PL11, tr.

244], đây là tác phẩm viết cho giọng Colorature Soprano, giai điệu sử dụng

nhiều luyến láy, nhảy quãng, thăng giáng bất thường; tiết tấu âm nhạc phức

tạp nhiều đảo phách, nghịch phách, tiết tấu nhanh, chậm, thay đổi liên tục, đặc

biệt có nhiều ký hiệu âm nhạc... Gặp những tác phẩm như vậy, GV cần biết

phân tích để hiểu về tác giả, tác phẩm, biết xác định những khúc đoạn khó cần

chú ý, phải biết xướng âm một cách chuẩn xác cao độ, trường độ, biết xử lý

từng ký hiệu âm nhạc mà tác phẩm yêu cầu, cần có hiểu biết sâu, rộng về lịch



101

sử âm nhạc cũng như kiến thức về nghệ thuật opera... Chỉ khi hiểu người GV

mới giúp SV chiếm lĩnh tri thức một cách hiệu quả nhất.

Về trình độ đàn Piano

Nhạc cụ giảng dạy chính của GV là đàn piano, trong các giờ lên lớp

người dạy sử dụng đàn để luyện thanh, tập tác phẩm, đệm cho người học thể

hiện tác phẩm ở mức độ sơ giản. Nếu các bài tập, các tác phẩm ở trình độ đơn

giản thì hầu hết GV trong khoa khơng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong

đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, khi đòi hỏi GV luyện nhiều mẫu âm

phức tạp đặc biệt các mẫu âm passage ở tốc độ nhanh hoặc gặp các tác phẩm

khó thì trình độ đàn của các GV bộc lộ nhiều hạn chế. Vì vậy, nên thường

xuyên luyện kỹ thuật đàn để nâng cao trình độ, từ đó góp phần tăng hiệu quả

trong giảng dạy TN.

Như vậy, có nhiều con đường và cách thức giúp người học chiếm lĩnh,

nâng cao năng lực chuyên môn, người GV cần không ngừng cố gắng học tập

mọi lúc, mọi nơi, kết hợp nhiều cách thức khác nhau để ngày càng nâng cao

năng lực chuyên môn sâu, đáp ứng yêu cầu cao trong đào tạo.

3.1.3. Năng lực sư phạm

Đây là năng lực rất quan trọng đối với người GV nói chung và GV đào

tạo giọng Colorature Soprano CLC nói riêng. Hiểu biết sâu sắc về sư phạm

thanh nhạc, phong cách của các tác giả nổi tiếng trong giáo trình. Nắm vững

ưu điểm, nhược điểm của SV, học viên giọng Coloratre Soprano và chủ động

vạch ra hướng phát triển đúng đắn, chuẩn mực của nghệ thuật TN ở các cấp

độ khác nhau. Có chun mơn sâu nhưng khơng có cách thức truyền đạt tốt

thì đó là một khiếm khuyết rất lớn của người thầy. Chúng tôi cho rằng, người

dạy cần thiết lập rõ cơng cuộc dạy học của mình đó là: dạy ai? dạy cái gì? dạy

làm gì? và dạy như thế nào? Tất cả những yếu tố này thuộc về phạm trù năng

lực sư phạm của người dạy. Để đưa ra giải pháp nâng cao năng lực sư phạm

đối với GV đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, chúng tôi sẽ phân tích

dựa trên bốn yếu tố nêu trên.

Năng lực xác định giọng hát của SV.



102

Trong đào tạo CLC, SV được xem là nòng cốt của sự phát triển TN

nước nhà, là những người có khả năng thi đấu trên đấu trường quốc tế, họ sẽ

xuất hiện ở những chương trình chun nghiệp và quy mơ, là những hạt nhân

đầu ngành cho các đơn vị đào tạo và biểu diễn TN trong cả nước... Muốn vậy,

người dạy cần có sự nhìn nhận, phát hiện kỹ lưỡng khả năng của người học

trước khi hướng tới đào tạo đỉnh cao, đây là yếu tố nền tảng rất quan trọng

nhằm giúp người học có thể phát triển giọng hát. Ngay thời điểm đầu tiên,

người dạy cần đánh giá đúng chất giọng, năng lực của SV để có kế hoạch

giảng dạy, định hướng, chọn bài và phát triển giọng hát. Lựa chọn sai dẫn tới

đào tạo rẽ theo một hướng khác, người học sẽ không thể phát huy được hết

năng lực của bản thân, trường hợp xấu còn dẫn tới hỏng giọng, gây tâm lý

chán nản trong học tập. Nói chung, GV cần có quy chuẩn cụ thể trong sự chọn

hạt giống đào tạo đối với giọng Colorature Soprano CLC: Có chất giọng

khỏe, vang, màu sắc giọng trong sáng, nhẹ nhàng, linh hoạt, âm thanh “bay”,

vang xa...; Có tai nghe âm nhạc tốt và sớm bộc lộ khả năng thể hiện cảm

xúc... và quan trọng những yếu tố đó phải thể hiện tố chất và năng khiếu nổi

trội. Chẳng hạn, với những SV giọng Colorature Soprano bình thường, những

năm đầu tiên thường được GV luyện thanh tới nốt G5 là vừa sức tiếp nhận,

tuy nhiên SV giọng Colorature Soprano nổi trội có thể luyện thanh lên tới nốt

A5 đến B5 ngay ở những năm đầu, thậm chí còn sớm thể hiện được những

xúc cảm mà tác phẩm yêu cầu cũng như biểu hiện được tính nghệ sĩ khi hát...

mặc dù những yếu tố đó còn được biểu hiện mờ nhạt, âm thanh chưa đạt tới

yêu cầu của đào tạo chuẩn mực xong với bản năng đó của SV có thể là dấu

hiệu để GV sớm lựa chọn và định hướng đào tạo đỉnh cao.

Năng lực lựa chọn nội dung dạy học.

Người GV trong chương trình đào tạo CLC bắt buộc phải biết lựa chọn

chính xác nội dung giảng dạy sao cho người học được phát triển tốt nhất.

Tưởng chừng đơn giản nhưng năng lực này đòi hỏi người GV phải khơng

ngừng nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo bởi “sai một li đi một dặm”. Việc sử dụng



103

các tiết mục quá sức cho SV có thể dẫn đến những hậu quả không tốt: Thứ

nhất là làm hỏng chất giọng nếu như lạm dụng quá mức các tiết mục đòi hỏi

âm lượng quá lớn, quá cao hoặc quá thấp; thứ hai, làm cho SV chán nản vì

các tai nạn do khơng sáng tạo thành cơng trong những bước đầu tiên của q

trình đào tạo vì khơng vượt qua được những khó khăn trong các tác phẩm quá

sức, làm hỏng chất giọng dẫn đến bệnh về cơ quan phát âm. Cũng không nên

dừng lại quá lâu ở các tiết mục dễ bởi vì như thế sẽ khơng thể phát triển, thậm

chí có thể dập tắt hi vọng và hứng thú đối với các bài tập chuyên môn, làm

mất thời gian của quá trình đào tạo. Cần phân tích và lựa chọn kỹ từ mẫu âm

luyện thanh tới tác phẩm, mục đích khi luyện mẫu âm đó là gì? Ứng dụng vào

trường hợp cụ thể nào, mang lại tác dụng gì?... Sao cho tác phẩm phải vừa

mang nội dung phong phú, giàu tính nghệ thuật, giàu ý tưởng và đặc biệt phù

hợp với tố chất riêng, chất giọng đặc trưng riêng trong đào tạo loại giọng này.

Ứng dụng phương pháp dạy học tích cực phát huy tính chủ động, tư duy

sáng tạo của người học.

Phương pháp dạy học hiện hữu thường là các phương pháp truyền thống

như: thị phạm (thầy hát mẫu, SV hình dung và làm theo); diễn giải (giải thích

cho SV con đường để đạt được các vấn đề cần lĩnh hội); thực hành (SV thực

hành những vấn đề được học)… có thể khẳng định, những cách thức này rất

quan trọng trong dạy học TN nói riêng cũng như những môn thực hành âm

nhạc khác. Song, việc chỉ áp dụng những phương pháp dạy học trên sẽ bộc lộ

một số hạn chế. Chẳng hạn: SV học xong phần của mình là xong, có thể ra về

và tới lượt người khác học, sự lặp đi lặp lại hàng ngày, hàng tuần kéo dài

trong nhiều năm học như vậy sẽ không tránh khỏi sự đơn điệu, thiếu hấp dẫn

của cả người dạy và người học. Mặt khác, nếu chỉ sử dụng các phương pháp

truyền thống cũng chưa thể phát huy được hết hiệu quả học tập. Theo chúng

tôi đối với chương trình đào tạo CLC giọng Colorature Soprano ngoài các

phương pháp dạy học trên các GV nên kết hợp một số phương pháp dạy học

phát huy tính chủ động sáng tạo của người học như: Phương pháp dạy học



104

nhóm; phương pháp dạy học nêu vấn đề; nghiên cứu trường hợp điển hình ...

Khi kết hợp các phương pháp này với nhau sẽ giúp cho SV học tập lẫn nhau,

mang tới tinh thần học tập hiệu quả hơn và hiệu quả học tập cũng theo đó đạt

kết quả cao hơn. Tuy nhiên, người dạy cần chắt lọc những nội dung nào phù

hợp với phương pháp nào để mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy. Trong

phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra hai phương pháp dạy học điển hình

sau đây.

+ Phương pháp thảo luận nhóm.

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường “Dạy học nhóm là một hình thức xã

hội của dạy học, trong đó học sinh của lớp học được chia thành các nhóm

nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hồn thành các nhiệm

vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của

nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước tồn lớp.” [6, tr.76]

Có một số nội dung dạy và học nếu sử dụng phương pháp học nhóm sẽ

mang lại hiệu quả cùng với các phương pháp khác. Chẳng hạn: Phần luyện

thanh đầu giờ, thông thường mỗi SV được luyện thanh khoảng 5 mẫu âm theo

hình thức cá nhân. Tuy nhiên, khi đã nhận biết loại giọng, trình độ của người

học, GV có thể phân nhóm và luyện thanh theo nhiều hình thức khác nhau.

Nhóm những SV giọng Soprano sẽ luyện chung những mẫu âm đơn giản với

mục đích khởi động giọng, chỉ tới mẫu âm phức tạp, cần phát triển theo

hướng sâu hơn GV lại tách nhóm luyện theo hình thức cá nhân, với giọng

Colorature Soprano sẽ cần luyện nhiều âm chạy passage, staccato và mở rộng

tối đa âm vực giọng hát của người học, GV nghe, sửa kỹ những cố tật thường

gặp của giọng hát. Cách làm này sẽ rút gắn thời gian luyện thanh đầu giờ và

người dạy có nhiều thời gian giảng dạy những nội dung khác…

Phương pháp học nhóm phát huy hiệu quả cao khi GV dạy một vấn đề

cụ thể, một kỹ thuật khó hay một nội dung đơn thuần về lý thuyết. Chẳng hạn,

cùng bàn về tầm quan trọng của hơi thở khi hát; mối quan hệ giữa vị trí âm

thanh và hơi thở trong thanh nhạc; cùng tìm hiểu và bàn về về nội dung trong



105

các vở aria mà SV đang được học; cùng góp ý về cách xử lý tác phẩm cũng

như phong cách biểu diễn tác phẩm đó sao cho phù hợp... Nếu phát huy tốt

năng lực học nhóm cả GV và SV sẽ thấy buổi học thêm thú vị, sẽ nhớ và hiểu

sâu hơn, tạo điều kiện tối đa để phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo, tăng

sự tự tin; phát triển năng lực cùng tham gia làm việc và quan trọng hơn cả là

SV có thể học hỏi qua nhau.

Ví dụ: GV yêu cầu SV cùng thảo luận về cách hát kỹ thuật hát passage.

Cách thảo luận nhóm được tiến hành như sau:

Bước 1. Cả nhóm cùng tìm hiểu các vấn đề chung về kỹ thuật hát

passage: từ cách sử dụng hơi thở, đặt vị trí âm thanh, khẩu hình, và tốc độ hát

thế nào... sau đó ứng dụng vào một trích đoạn cụ thể.

Bước 2. Mỗi SV tìm hiểu sâu một vấn đề cụ thể.

Bước 3. Trình bày và báo cáo kết quả. Từng SV sẽ lên trình bày nội dung

đã chuẩn bị trước lớp, những người còn lại ngồi nghe và cùng đánh giá vấn đề

đúng hay sai, mâu thuẫn có thể sẽ xảy ra khi có những em làm đúng và những

em làm chưa đúng. Lúc này GV sẽ là người giải thích lý do tại sao lại cho ra

kết quả khác nhau như vậy...

Chúng tôi cho rằng, với phương pháp dạy học này thực sự mang lại hiệu

quả tích cực cho người học, các SV hồn tồn có thể đóng vai người dạy để

giải thích cho các bạn hiểu vấn đề bằng kinh nghiệm từng trải của bản thân,

điều này giúp họ bước đầu lĩnh hội được phương pháp sư phạm TN, thêm tự

tin để thể hiện năng lực bản thân, tạo động lực để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn

trong chuyên môn. Mặt khác, phương pháp này còn giúp cải thiện tình trạng

học hết giờ cá nhân SV sẽ ra về thì nay họ sẽ được học trong khoảng thời gian

dài hơn khi cùng được học nhóm. Trên thế giới, phương pháp dạy học này đã

được sử dụng rất phổ biến bởi tính hiểu quả của nó. Trong cuốn Phương pháp

Sư phạm TN của tác giả Nguyễn Trung Kiên [35] đã đưa dẫn chứng rất sinh

động về cách dạy và học của các SV TN ở Nhạc viện Mi Lan của Ý. Khi tổng

thời gian lên lớp của GV với SV từng lớp TN khoảng 12 giờ trên tuần, mỗi



106

GV dạy từ 10 đến 12 SV, như vậy mỗi SV được học khoảng một giờ trong

tuần. Do nhà trường bố trí được các ngày dành cho môn học chuyên môn, nên

các giờ học TN SV phải có mặt tất cả để học từ đầu giờ đến cuối giờ. Thầy cô

giáo sẽ tiến hành lên lớp với tất cả SV cùng một lúc” Theo tác giả Nguyễn

Trung Kiên: “Đây không phải là cách dạy học tập thể, mà là tận dụng thời

gian. Để cá nhân và tập thể cùng phối hợp. Khi GV nói điều gì đó với một SV,

thì cả lớp phải lắng nghe để cố gắng hiểu được, như thế sẽ không phải nhắc

lại những vấn đề đã nói”[35, tr.196]. Cách làm việc này đòi hỏi kiến thức sâu

rộng và chi tiết của GV, cách dự giờ học hết sức tập trung nghiêm túc của SV.

Do vậy, phương pháp dạy học này không thể thiếu trong đào tạo chất lượng

cao nói chung và giọng Colorature chất lượng cao nói riêng.

+ Phương pháp giải quyết vấn đề.

Đây là phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy sáng tạo và năng lực

giải quyết vấn đề. Phương pháp này sẽ đặt người học vào tình huống có vấn

đề, thơng qua việc giải quyết vấn đề đó giúp người học lĩnh hội tri thức. Theo

chúng tôi đây là phương pháp rất phù hợp ứng dụng trong đào tạo CLC.

Để hiểu rõ về việc sử dụng phương pháp này, chúng tôi ứng dụng trong

tác phẩm sau đây.

V. Bellini, La sonnambula, “Ah! non credea miarti” [Phụ lục 10, tr.170].

Bước 1. Nhận biết vấn đề.

Đây là một tác phẩm khó, có sự thay đổi tốc độ trong bài, là sự tổng hợp

của nhiều kỹ thuật hát khác nhau như: legato, staccato, passage... Tác phẩm

dành cho giọng Colorature Soprano với âm vực rộng lên tới nốt “mi giáng”

thuộc quãng tám thứ 3, rất có lợi cho sự phát triển giọng hát. Vì tác phẩm

tương đối phức tạp bởi vậy GV nên phân tích cụ thể những vấn đề cần lưu ý

trong tác phẩm trước khi hướng dẫn SV hát. Chẳng hạn, đoạn nào cần hát với

hơi thở dài, đoạn yêu cầu kỹ thuật staccato, passage cần lưu ý điều gì... Theo

kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi, khi hát tác phẩm này người học thường

mắc các vấn đề như: hơi thở nông, lấy hơi vụn, đoạn hát passage thường bị



107

mất nốt, lên nốt cao âm thanh còn thiếu độ vang, rền, thậm chí nghe bị chói

tai hoặc mờ do vị trí âm thanh đặt chưa chuẩn...

Bước 2. Tìm phương án giải quyết.

Những vấn đề trên được đưa ra trước lớp, các SV giọng Colorature

soprano trong lớp cùng cùng suy nghĩ và tìm phương án giải quyết tình

huống. Khi một SV lên thực hiện vấn đề, những SV còn lại ngồi nghe, đoạn

nào bị vướng mắc GV sẽ hướng dẫn hướng dẫn cách giải quyết. Chẳng hạn,

kỹ thuật để hát đoạn passage dưới đây người hát cần có hơi hơi thở sâu, nén

chặt hơi, thả lỏng cơ thể, đặt vị trí âm thanh và hát khơng bỏ nốt.

Ví dụ 55: Trích Aria Ah! non credea mirarti trích “La sonnambula” của V.

Bellini.



Do câu hát dài, nhanh và cao vì vậy người hát cần có ý thức hát tiết kiệm

hơi thở, đặc biệt ở nốt cao nhất, người hát cần nén hơi, mở khẩu hình ngáp,

cười và đặt vị trí cao tạo âm thanh sáng. có thể hát mẫu và chỉ cách SV thực

hành. Những SV khác nên thực hành câu hát, tự cảm nhận âm thanh hát đúng

hoặc chưa đúng. Người dạy đưa nhận xét kết quả của mỗi người như thế nào.

Bước 3. Quyết định phương án đúng

Sau khi nghe SV hát, GV đánh giá kết quả, phân tích điểm đúng, sai mà

mỗi người vướng mắc và đưa ra phương án chuẩn xác nhất khí hát trích đoạn

trên.

Có thể thấy, phương pháp dạy học này rất hữu hiệu khi ứng dụng dạy

người học giải quyết những vấn đề khó trong tác phẩm đồng thời phát huy tối

đa khả năng tư duy và giúp người học biết cách vận dụng vào những trường

hợp cụ thể tương tự khác.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×