1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Những tác phẩm Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


129

“Nổi lửa lên em”, “Hoa mộc Miên” (Huy Du)

“Thơ Tình cuối mùa thu” (Phan Huỳnh Điểu)

“Đất nước tình yêu” (Lệ Giang)

“Đừng ví em là biển” (Trần Thanh Tùng)

Dành cho năm thứ hai:

“Bóng cây cơ nia” (Phan Huỳnh Điểu)

“Bài Ca Thống Nhất” (Võ Văn Di)

“Nhớ về quê mẹ” (Vân Đông)

“Vỗ bến lam chiều” (Trần Hồn)

“Xn chiến khu” (Xn Hồng)

“Nghệ Tĩnh mình đây” (Tân Huyền)

“Trở về” của tác giả Lê Tự Minh (Nhạc: Tuấn Phương)

“Rừng xanh vang tiếng ta lư” (Phương Nam)

“Đàn Tranh mạ” của (Tuấn Phương)

“Hà Tĩnh quê mình” (Ngọc Thịnh)

“Nghe câu quan họ trên cao nguyên” (Vũ Thiết)

“Cô Gái Pa cơ” (Huy Thục)

“Võ Thị Sáu” (Nguyễn Đức Tồn)

“Đường tàu mùa xn” (Phạm Minh Tuấn)

“Hà Nội Huế sài gòn” (Hồng Vân)

“Cơ gái Sài Gòn đi tải đạn” (Lưu Nhất Vũ)

“Bác Hồ một tình yêu bao la” (Thuận Yến)...

Dành cho năm thứ ba

“Bài Ca hi vọng” (Văn Ký)

“Tiếng hò trên đất Nghệ An” (Tân Huyền)

“Người Châu Yên bắn máy bay” (Trọng Loan)

“Cô dân quân làng đỏ” (Nguyên Nhung)

“Tiếng Đàn Ta Lư” (Huy Thục)

“Người Con Gái Sơng La” (Dỗn Nho)

“Sơng ơi đừng chảy” (Nguyễn Vĩnh Tiến)

“Mẹ Yêu con” (Nguyễn Văn Tý)

Dành cho năm thứ tư

“Cơ gái vót chơng” (Hồng Hiệp)

“Giấc mơ mùa lá”, “Ơi mẹ làng sen”, “Quê mẹ” (Trần Mạnh Hùng)

Hai aria “Cô Sao” của Đỗ Nhuận

“Tiếng chim rừng”; “Cánh chim báo tin vui” (Đàm Thanh)

“Bài Ca Hà Nội” (Vũ Thanh)

“Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi)

“Hoạ mi hót trong mưa” (Dương Thụ)

“Ở Rừng nhớ anh” (An Thuyên)

“Cảm ơn mẹ”, “Miền xa thẳm” (Đức Trịnh)



130

“Xa khơi” (Nguyễn Tài Tuệ)

Một số tác phẩm khác chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét và đề xuất vào

chương trình đào tạo để đảm bảo sự phù hợp.

Để đưa các ca khúc nói trên vào chương trình một cách hiệu quả chúng

tôi đã nghiên cứu, đánh giá nhằm sắp xếp theo thứ tự đảm bảo tính khoa học

và phù hợp với đặc điểm của người học. Chẳng hạn, nên bắt đầu đào tạo ca sĩ

bằng các tiết mục với âm điệu du dương, được trình diễn với nhịp điệu chậm.

Các tác phẩm được viết với nhịp điệu nhanh hơn cũng cần được học dần một

cách điềm tĩnh và không vội vã. Sự lạm dụng khả năng lên cao của giọng đặc

biệt ở giai đoạn đầu sẽ làm hỏng giọng của ca sĩ, dẫn đến tổn thương cơ quan

phát âm. Còn nếu khơng có kỹ năng và khơng luyện tập các kỹ thuật thường

xuyên sẽ cản trở sự phát triển một cách tự nhiên âm sắc đẹp của giọng hát,

làm mất đi sự rõ ràng trong phát âm lời bài hát, SV bắt đầu làm hỏng, nuốt từ

và bài hát mất đi nội dung và sự truyền cảm.

3.4. Tiêu chí kiểm tra đánh giá trong đào tạo giọng Colorature Soprano

chất lượng cao

Như chúng tơi đã trình bày, những SV giọng Colorature Soprano khi

được chọn lựa trong đào tạo chất lượng cao đã phải đạt một số tiêu chí căn

bản về giọng hát, kỹ thuật hát, cảm xúc... phải là những SV đạt loại xuất sắc

với điểm số từ 9,5 trở lên. Dựa trên những yếu tố này chúng tôi sẽ đánh giá

sinh viên giọng Colorature Soprano trên các tiêu chí sau:

Kỹ thuật hát: Với những yêu cầu về kỹ thuật thanh nhạc như Cantilena,

Staccato, Passage, Trillo, Crescendo, Diminuendo chúng tơi đã trình bày tại

phần 2.1.2 chương 2. Khi ứng dụng vào các tác phẩm thanh nhạc cụ thể SV

phải thể hiện được những yêu cầu đặt ra. Chẳng hạn, làm chủ hơi thở, khẩu

hình, vị trí âm thanh cộng minh khi hát. Hát kỹ thuật passage không bị mất

nốt, cả tác phẩm cần thể hiện âm thanh đều đặn đặc biệt khi hát luân phiên

nhiều kỹ thuật với nhau...



131

Sự chính xác trong tác phẩm. Bao gồm giai điệu, tiếu tấu, chỗ ngắt

nghỉ, phát âm nhả chữ... những vấn đề này ngoài thể hiện sự hiểu biết của SV

ở các mơn học bổ trợ GV còn đánh giá được ý thức học tập của họ. Khi học

nghiêm túc, tự vỡ tác phẩm kỹ người học sẽ ít khi mắc phải những lỗi sai về

phát âm nhả chữ, giai điệu hay tiết tấu. Nếu học một cách đại khái, SV chỉ

nghe tác phẩm rồi học thuộc rất dễ dẫn tới sự thiếu chính xác. Đây là việc cần

tránh tuyệt đối với SV đào tạo chất lượng cao nói chung, giọng Colorature

Soprano nói riêng.

Khả năng biểu hiện cảm xúc: Những tác phẩm dành cho giọng

Colorature Soprano CLC thường là những tác phẩm rất khó, khơng chỉ ở giai

điệu, tiết tấu mà còn thể hiện ở cảm xúc. Người hát muốn thể hiện cảm xúc

thì phải hiểu nội dung tác phẩm đó là gì? Vui hay buồn, hiền hay dữ? Khơng

phải tác phẩm nhanh sẽ là vui và chậm là buồn... tất cả phải được biểu hiện

bằng cảm xúc khi hát aria đó. Tránh nhiều trường hợp, người hát thể hiện

gương mặt rất tươi nhưng thật chất nội dung tác phẩm phải là sự buồn sầu...

Bởi vậy, thể hiện đúng biểu cảm là điều rất quan trọng trong tiêu chí đánh giá

giọng Colorature CLC.

Khả năng diễn xuất: Trong đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, SV

được học nhiều thể loại khác nhau như chương trình chúng tơi đã đề xuất.

Trong số đó, thể loại đòi hỏi phải có diễn diễn xuất đó là aria. Là những tác

phẩm thể hiện nhân vật cụ thể trong các vở nhạc kịch, Người hát ngoài cần

thể hiện giọng hát còn cần phải diễn được đúng tính cách của nhân vật. Chẳng

hạn, hát aria “Der Holle Rache” (Nữ hoàng đêm tối) trích opera “Cây sáo

thần” của Mozart người hát phải thể hiện được sự tức giận của nhân vật,

không thể chỉ đơn thuần đứng và hát sao cho thật đúng kỹ thuật và giọng to

khỏe... như vậy không thể đạt tiêu chí của SV Colorature CLC.

Từ phân tích trên đây chúng tơi đã đưa ra tiêu chí đánh giá đối với

giọng Colorature Soprano như sau.



132

Bảng 3: Bảng đánh giá năng lực học tập SV

Kỹ thuật



Độ chính



hát



xác



4



Kỹ năng xử lý sắc thái,



4



Kỹ năng diễn



biểu cảm

1



xuất

1



Nhìn bảng trên cho thấy, chúng tơi đánh giá kỹ thuật hát và độ chính

xác trong tác phẩm là như nhau. Có kỹ thuật điêu luyện mà khơng có sự học

tập nghiêm túc, kiên trì thì không thể hướng tới tài năng đỉnh cao. Bởi vậy,

theo chúng tôi, ngay cả khi đã được lựa chọn trong đào tạo CLC nhưng q

trình học SV khơng đạt được những tiêu chí đề ra thì sẽ bị loại khỏi chương

trình đào tạo này. Tiếp đó chúng tơi đề cao việc xử lý tác phẩm và kỹ năng

diễn xuất. Hai tiêu chí này đạt 2 điểm trong tổng 10 điểm đưa ra. Do vậy SV

cần đạt sự toàn diện cả về mặt cảm xúc, phong cách biểu diễn và đặc biệt phải

có ý trí phấn đấu và vươn lên trong học tập.

3.5. Hội nhập quốc tế trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao

Mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến 2020 của

Chính phủ đặt ra là: “Giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo

của mọi người, phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ; đào

tạo tài năng văn hố, nghệ thuật; tạo cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất để

có nhiều sản phẩm văn hoá, nghệ thuật CLC xứng tầm với dân tộc và thời

đại” [6. tr 15].

Nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc

tế về lĩnh vực TN trong thời gian tới. Chủ động hợp tác với các nước để đào

tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn âm nhạc đỉnh cao, đào tạo cán bộ chun

mơn trình độ cao để đào tạo và đào tạo lại. Chú trọng và đầu tư thoả đáng cho

việc đào tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn cả ở trong và ngoài nước.



133

Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo CLC, ngoài

việc đổi mới căn bản, toàn diện các vấn đề thuộc phạm vi đào tạo trong nước

thì hội nhập quốc tế là nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời.

Theo nghiên cứu của T.S Phạm Quốc Trụ, hội nhập quốc tế: “là quá trình

các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết với nhau dựa trên sự

chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật

chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế”. [99, tr. 4] Tại

HVANQGVN, nói riêng ngành TN, lãnh đạo nhà trường đã luôn coi trọng và

thúc đẩy vấn đề hội nhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu nhất định.

3.5.1. Những mặt thuận lợi trong công tác hội nhập quốc tế

Thực tiễn cho thấy, TN Việt Nam đã và đang có nhiều điều kiện thuận

lợi trong quá trình hội nhập quốc tế cả ở góc độ đào tạo và biểu diễn, thể hiện

ở những khía cạnh sau:

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc cử và tạo điều kiện cho

các GV, đội ngũ cán bộ tham gia học tập, đào tạo tại nhiều Nhạc viện nổi

tiếng trên thế giới. Đây là cơ sở để có sự kế thừa, chuyển giao hoạt động đào

tạo trong nước hướng phù hợp với xu thế quốc tế hiện nay. Quan điểm của

Đảng và Nhà nước trong vấn đề hội nhập về văn hóa nói chung và lĩnh vực

âm nhạc nói riêng được đề cập nhiều trong các chính sách, đường lối, pháp

luật của nhà nước. Đề án 322 của Bộ GD&ĐT về việc cử cán bộ đi học tập tại

nước ngồi đã thể hiện tính kế thừa và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về

việc đào tạo cán bộ có năng lực tại các cơ sở ở nước ngoài bằng ngân sách

nhà nước. Gần nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

Số: 1437/QĐ-TT ngày 19 tháng 07 năm 2016 phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi

dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030 thể hiện sự

quan tâm trong lĩnh vực đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này. Việc đa dạng

hóa các mơ hình đào tạo âm nhạc, trong đó có lĩnh vực TN trong giai đoạn

mới bao gồm: Đào tạo theo mơ hình chính quy; Mơ hình khơng chính quy

(chun tu, tại chức; Đào tạo những tài năng xuất sắc; Gửi đi đào tạo ở các cơ



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×