1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Kỹ năng diễn xuất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


133

Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo CLC, ngoài

việc đổi mới căn bản, toàn diện các vấn đề thuộc phạm vi đào tạo trong nước

thì hội nhập quốc tế là nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời.

Theo nghiên cứu của T.S Phạm Quốc Trụ, hội nhập quốc tế: “là quá trình

các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết với nhau dựa trên sự

chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật

chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế”. [99, tr. 4] Tại

HVANQGVN, nói riêng ngành TN, lãnh đạo nhà trường đã luôn coi trọng và

thúc đẩy vấn đề hội nhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu nhất định.

3.5.1. Những mặt thuận lợi trong công tác hội nhập quốc tế

Thực tiễn cho thấy, TN Việt Nam đã và đang có nhiều điều kiện thuận

lợi trong q trình hội nhập quốc tế cả ở góc độ đào tạo và biểu diễn, thể hiện

ở những khía cạnh sau:

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc cử và tạo điều kiện cho

các GV, đội ngũ cán bộ tham gia học tập, đào tạo tại nhiều Nhạc viện nổi

tiếng trên thế giới. Đây là cơ sở để có sự kế thừa, chuyển giao hoạt động đào

tạo trong nước hướng phù hợp với xu thế quốc tế hiện nay. Quan điểm của

Đảng và Nhà nước trong vấn đề hội nhập về văn hóa nói chung và lĩnh vực

âm nhạc nói riêng được đề cập nhiều trong các chính sách, đường lối, pháp

luật của nhà nước. Đề án 322 của Bộ GD&ĐT về việc cử cán bộ đi học tập tại

nước ngồi đã thể hiện tính kế thừa và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về

việc đào tạo cán bộ có năng lực tại các cơ sở ở nước ngoài bằng ngân sách

nhà nước. Gần nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

Số: 1437/QĐ-TT ngày 19 tháng 07 năm 2016 phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi

dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030 thể hiện sự

quan tâm trong lĩnh vực đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này. Việc đa dạng

hóa các mơ hình đào tạo âm nhạc, trong đó có lĩnh vực TN trong giai đoạn

mới bao gồm: Đào tạo theo mơ hình chính quy; Mơ hình khơng chính quy

(chun tu, tại chức; Đào tạo những tài năng xuất sắc; Gửi đi đào tạo ở các cơ



134

sở đào tạo nước ngoài; Liên kết với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài; Đào tạo

cán bộ âm nhạc Việt Nam giỏi về chun mơn để có thể gửi đi làm việc ở một

số nước trong khu vực trong lĩnh vực biểu diễn và đào tạo âm nhạc; Mô hình

nâng cao, bổ sung kiến thức ngắn hạn do các GV trong nước và nước ngồi

đảm trách… Có thể thấy, xu hướng các mơ hình nói trên đều hướng đến đào

tạo ra các nghệ sĩ có năng lực hội nhập quốc tế.

Thế hệ trẻ hiện nay có nhiều tiềm năng, triển vọng phát triển ở khía

cạnh năng khiếu nghệ thuật cũng như năng lực tiếp cận thông tin, điều kiện

đào tạo và phát triển tài năng của mình. So với trước đây thì nhiều nghệ sĩ cho

rằng giới trẻ hiện nay nhiều người có năng khiếu đặc biệt bởi cuộc sống hiện

nay có điều kiện phát triển, bộc lộ và phát huy tài năng của mình cũng như

các gia đình, địa phương, cơ sở đào tạo có điều kiện đào tạo năng khiếu.

Có điều kiện hoạt động giao lưu nghệ thuật về biểu diễn cũng như sư

phạm với các giáo sư, nghệ sĩ nổi tiếng thế giới.Trong Chiến lược phát triển

văn hóa Việt Nam chỉ ra thực tế là hoạt động giao lưu văn hố với nước ngồi

từng bước được mở rộng cùng với q trình đa phương hố, đa dạng hoá các

mối quan hệ quốc tế của Nhà nước ta.

“Trong những năm qua, chúng ta có nhiều cơ hội tiếp xúc rộng

rãi hơn với văn hoá thế giới và chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn

hoá nhân loại, đồng thời giới thiệu với nhân dân các nước

những giá trị tốt đẹp, độc đáo của văn hoá Việt Nam. Nhiều hoạt

động hợp tác, giao lưu văn hoá quốc tế trên quy mô lớn đã được

tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài gây được tiếng vang và tạo

được ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn về truyền thống văn

hố, nghệ thuật Việt Nam ” [9, tr. 20].

Theo đánh giá hiện nay, mơ hình đào tạo âm nhạc tại HVANQGVN khá

gần với mơ hình của các Nhạc viện nổi tiếng trên thế giới trong đào tạo những

tài năng âm nhạc đỉnh cao. Trải nghiệm qua hơn 60 năm hình thành và phát

triển đã cho thấy những thành quả đạt được ở các mặt đào tạo, biểu diễn cũng

như nghiên cứu khoa học. Về các điều kiện, có thể thấy:



135

Kể từ sau đổi mới, cơ sở đào tạo (trường, lớp, thư viện, ký túc xá,

phòng tập…) đã được đầu tư xứng đáng. Từ trang thiết bị, phương tiện phục

vụ học tập và giảng dạy đã được nâng cấp, đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học

tập âm nhạc. Những điều kiện về thư viện số, internet, website… các nguồn

tư liệu, đặc biệt là sự phát triển ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho

khoảng cách giữa Việt Nam với thế giới được kéo gần lại...

Tư liệu về TN hiện nay phong phú (tổng phổ, sách nhạc, băng đĩa

chuyên ngành…): khác với những thập kỷ trước đây, ngày nay các tư liệu

trong lĩnh vực TN rất phong phú và dễ dàng tiếp cận. Ngồi tư liệu về sách,

tạp chí, các ấn phẩm nghiên cứu thì các tư liệu vang (nghe, nghe nhìn) cũng

dễ tìm kiếm hơn ở các trung tâm đào tạo, biểu diễn, cung cấp dịch vụ tư liệu

về âm nhạc (cửa hàng băng đĩa). Ngồi ra, còn có một lượng tư liệu rất phong

phú do các GV, chuyên gia, các nghệ sĩ trong quá trình học tập, giao lưu, biểu

diễn ở ngoài nước cũng như các giáo sư, chuyên gia, nghệ sĩ ở nước ngoài

biểu diễn ở Việt Nam mang về, tặng.

Lực lượng GV được đào tạo, tốt nghiệp, tu nghiệp ở nhiều quốc gia có

nền âm nhạc phát triển như ở Châu Âu, châu Á… Lực lượng này không chỉ

tiếp thu, tiếp cận những kỹ thuật mới ở các trung tâm đào tạo tiên tiến trên thế

giới mà còn tiếp thu được phong cách âm nhạc, tác giả, tác phẩm. Chính vì

vậy, các học viên/SV đào tạo trong lĩnh vực này cũng được tiếp cận với lực

lượng đội ngũ GV có năng lực, trình độ.

HVANQGVN trong những năm qua đã cử nhiều tài năng tham gia các

cuộc thi âm nhạc thế giới đồng thời tổ chức nhiều cuộc thi âm nhạc hàn lâm

mang quy mô quốc tế thu hút được sự tham gia của nhiều nước trong khu vực

và thế giới. Hoạt động này đã giúp cho việc đào tạo và phát triển nhiều tài

năng âm nhạc cho nhà trường nói chung và đất nước nói riêng. Trong lĩnh vực

TN, đặc biệt là giọng Colorature Soprano cũng đã có những giải thưởng cao.

Có thể kể những gương mặt xuất sắc sau đây: NSND Lê Dung: Tham gia thi

concours mang tên P.Tchaikovsy gồm 4 bộ môn: piano, violon, cello và TN,

đây là cuộc thi concours lớn thế giới với ba vòng, cuộc thi đòi hỏi những vấn



136

đề về kỹ thuật TN phức tạp. Với những ưu điểm về kỹ thuật, về nhạc cảm cơ

đã lọt vào vòng II và được nhận giải thưởng người hát dân ca hay nhất... Năm

2002 ca sĩ Nguyễn Bích Thủy đoạt giải nhất cuộc thi opera quốc tế nhỏ tổ

chức tại Băng Cốc. Tháng 10 năm 2008, Bích Thủy tham gia cuộc thi

concours quốc tế (cấp độ trung bình) TN lần thứ tư tổ chức tại Ninhbo, Trung

Quốc. Chị đã xuất sắc lọt vào vòng III và đoạt giải “Người thể hiện bài Trung

Quốc xuất sắc nhất” và bằng khen của Ban tổ chức cuộc thi. Chị đã được giới

chuyên môn đánh giá cao bởi giọng hát đầy nội lực, được đào tạo bài bản và

sự nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân; Gần đây, SV trẻ Ninh Đức Hoàng

Long, là một trong những lưu học sinh Việt nam được Bộ Văn hóa thể thao và

du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học tại Hungari trong thời gian 4 năm.

Trong quá trình học tập Hồng Long đã tham gia cuộc thi TN của các ca sĩ trẻ

và đoạt giải nhất trong cuộc thi. Hiện nay, tại HVÂNQGVN và Nhạc viện

Thành phố Hồ Chí Minh đã có một số học viên cao học xuất sắc trẻ tuổi

nhưng nhiều triển vọng: HVÂNQGVN có ca sĩ Tố Loan, tốt nghiệp hệ cao

học TN, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh có ca sĩ Khánh Ngọc cũng mới

tốt nghiệp xuất sắc hệ cao học TN. Đó là những giọng hát xuất sắc, có những

cơ sở về kỹ thuật và nghệ thuật còn có thể vươn xa hơn nữa...

Thông tin trên mạng phong phú: Việt Nam là một trong những quốc gia

có hạ tầng thơng tin mạng internet phát triển nhanh nhất và người dân dễ dàng

tiếp cận với internet. Thực tế cho thấy hiện nay hồn tồn dễ dàng tìm kiếm

với bất kỳ tài liệu, bài giảng, các video, chương trình biểu diễn thơng qua

internet… giúp cho việc tiếp cận và hội nhập nhanh hơn.

Thành tựu là vậy, xong, vấn đề hội nhập quốc tế cũng còn nổi lên một

số mặt hạn chế cần được khắc phục để mang lại hiệu quả cao hơn trong thời

gian tới. Để thấy rõ điều này, phần dưới đây chúng tôi đề cập thực trạng hội

nhập quốc tế đối với ngành TN nói chung và đào tạo giọng Colorature

Soprano trong CLC tại HVANQGVN nói riêng như sau



137

3.5.2. Một số hạn chế trong hội nhập quốc tế

Như chúng tôi đã trình bày, để đáp ứng đòi hỏi cao trong đào tạo CLC

cần hội tụ nhiều yếu tố: Từ đường lối lãnh đạo tới các khâu vận hành trong

đào tạo phải được phối hợp một cách chặt chẽ, có hệ thống để mang tới mục

đích cuối cùng: SV là những người hội tụ đủ năng lực để thực hiện được các

chức năng biểu diễn các tác phẩm đỉnh cao của nghệ thuật TN; định hướng

thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt đảm bảo sự phát triển cân bằng, hài hòa,

chuẩn mực giữa các dòng nhạc (hát opera, hát thính phòng, hát ca khúc) và

hướng tới hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, hiện tại chất lượng nguồn nhân lực của ngành TN nói riêng

còn hạn chế do xu hướng xã hội chạy theo các ngành nghề mang tính thương

mại khi cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực trong nghệ thuật biểu diễn còn nhiều bất cập dẫn đến sự thiếu

hiệu quả về quản lý nhà nước trong đào tạo và phát triển nguồn lực nghệ thuật

biểu diễn. Khó khăn về ngân sách chi đào tạo ngành âm nhạc. Chưa thúc đẩy

được nhiều hợp tác quốc tế trong đào tạo, phần lớn là hợp tác đào tạo cho GV

với các lớp ngắn hạn, chưa mang tính chun sâu và tính hệ thống.

Cơng tác đào tạo TN tại HVANQGVN, một mặt mong muốn đào tạo

đáp ứng giữa yêu cầu đổi mới với năng lực đáp ứng sự đổi mới, hướng tới hội

nhập khu vực và thế giới. Trong khi thực tiễn hoạt động biểu diễn TN hiện

diễn ra tương đối phức tạp bởi xu hướng thời đại ngày nay, âm nhạc trí tuệ

bác học đã và đang bị thu hẹp dần bởi sự bùng nổ của các thể loại âm nhạc

phổ cập đại chúng. Các loại hình nghệ thuật âm nhạc đại chúng đã phát triển

rất nhanh làm cho âm nhạc cổ điển khơng còn vị thế độc tôn như những thế

kỷ trước đây. Công chúng thưởng thức âm nhạc Việt Nam cũng phát triển mở

rộng đa dạng theo các xu hướng trào lưu thế giới. “Tình trạng nghiệp dư hóa

các hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên

dẫn đến sự sa sút trong thưởng thức thẩm mỹ của công chúng [94, tr. 68].

Không nhiều nghệ sĩ, ca sĩ thực sự đủ bản lĩnh, trình độ để góp phần định



138

hướng thẩm mỹ nghệ thuật cho cơng chúng. Có thể thấy, số lượng các ca sĩ nữ

có kỹ thuật TN điêu luyện, thực hiện tốt vai trò xã hội với những tác phẩm TN

đỉnh cao mang tầm ảnh hưởng tới thị hiếu âm nhạc như ca sĩ Lan Anh, Tố

Loan, Khánh Ngọc... còn q ít, những gương mặt mới lại chưa đủ tầm ảnh

hưởng để chinh phục khán giả, dẫn đến lượng khán giả của dòng nhạc mang

tính hàn lâm còn rất hạn chế. Song song với đó, hiện tượng ca sĩ chuyên

nghiệp thử nghiệm ở dòng nhạc thị trường, giải trí, làm nảy sinh hiện tượng

nghiệp dư hóa trong biểu diễn TN chuyên nghiệp đang xuất hiện nhiều. Tình

trạng các ca sĩ, nghệ sĩ giọng Colorature Soprano chưa được đào tạo bài bản,

chuyên nghiệp trong các đoàn nghệ thuật cũng như biểu diễn tự do còn khá

phổ biến. Nhiều nghệ sĩ, ca sĩ chỉ tập chung “chạy show” mà không thường

xuyên đầu tư thời gian cho tu luyện nghề nghiệp như luyện giọng, luyện kỹ

năng biểu diễn sân khấu, vì vậy mà chuyên môn mai một dần dẫn đến chất

lượng nghệ thuật giảm sút, lý tưởng thẩm mỹ bị hạ thấp và tình trạng chạy

theo thị hiếu thấp kém gia tăng, lâu dài dẫn tới hỏng giọng.

Tư tưởng học tập nâng cao năng lực chun mơn ở trong và ngồi

nước đối với nhiều GV và SV còn chưa cao.

Thực tế trong cơng tác đào tạo TN chun nghiệp khơng ít SV chưa

thực sự mặn mà với hát opera và hát thính phòng. “Nhiều SV có tư tưởng sau

khi tốt nghiệp chỉ hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực hát ca khúc, dẫn đến

tình trạng kết quả học tập chưa cao [94, tr. 69]. Nhiều GV, SV có năng lực

tốt, được giới chun mơn đánh giá cao xong còn e ngại khi tham gia học tập

ở nước ngoài. Theo GV, Ths Lan Anh: “Mặc dù người Việt khơng có thế

mạnh về thể lực, khơng có cái nơi trong đào tạo TN cổ điển như Châu Âu

nhưng có những nhân tố xuất sắc để đạt CLC, nếu có cơ hội được đào tạo ở

nước ngồi thì đó là cách tốt nhất giúp giọng hát sẽ được phát triển toàn

diện. [Phỏng vấn GV, Ths Lan Anh, Khoa TN, HVANQGVN qua ghi âm. CD

1, Check 1]. Nhiều GV cho rằng, người Việt với thân hình nhỏ bé, để đào tạo

CLC là khó thực hiện, tuy nhiên, thực tế cũng đã chứng minh, thân hình nhỏ



139

bé không phải là yếu tố quyết định nhiều đối với chất lượng đào tạo đỉnh cao,

điển hình: Ca sĩ Lan Anh, Bích Thủy, Tố Loan, gần hơn là SV Lại Thị Hương

Ly (giải nhì cuộc thi Kyushu music Concour 2018 tại Nhật Bản, tháng 32018).... là những người có thân hình nhỏ bé nhưng giọng hát lại đầy nội lực.

Như vậy để chứng tỏ, giọng hát của người Việt hồn tồn có thể đào tạo CLC,

thậm chí có thể đào tạo đỉnh cao, chuyên nghiệp sánh với một số nước có nền

nghệ thuật thanh nhạc phát triển trong khu vực như: Hàn Quốc, Trung Quốc,

Singapo...

Ý thức giao lưu, học hỏi của GV, SV chưa cao.

Tại Khoa TN, sự liên kết, tổ chức giao lưu học tập bộ môn TN với các

trường Âm nhạc lớn trên thế giới chưa nhiều. Chẳng hạn: Học cùng chuyên

gia nước ngoài. Đây là một hoạt động được diễn ra thường niên và được thực

hiện nhiều năm, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa thực sự như mong muốn.

Thơng thường, chun gia nước ngồi tới giảng dạy tại Khoa TN là những

GV, nghệ sĩ, ca sĩ uy tín, xuất sắc tại các trường danh tiếng và uy tín trên thế

giới, mang những kiến thức sâu, rộng mà thế giới đang thực hiện để hướng

dẫn cho GV và SV tại Khoa được giao lưu học tập. Có thể khẳng định, đây là

một trong những việc làm hữu ích giúp nâng cao năng lực chun mơn cho

GV, SV. Tuy nhiên, nghịch lý là việc này chưa được đón nhận một cách đúng

đắn, thường chỉ những SV được giao trực tiếp tác phẩm học cùng chuyên gia

mới tới học, thậm chí những SV này cũng khơng chuẩn bị kỹ tác phẩm.

Những SV còn lại thường khơng hào hứng, hoặc đi học do bị ép buộc, ngay

cả GV cũng chưa mặn mà với việc học tập trên nên không phát huy được hết

hiệu quả của những buổi học đó. Đây là một trong những vấn đề cần được lưu

tâm để có những biện pháp triển khai hiệu quả hơn trong tương lai.

Chưa có chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài.

Dễ nhận thấy, những người được cử đi học thường là người có tài năng,

số lượng SV giọng Colorature đi học nước ngồi tính từ trước tới nay khơng

nhiều, mặt khác, họ sẽ là nòng cốt cho việc phát triển nền TN trong tương lai,

là lớp GV kế cận mang những ưu việt trong kỹ thuật TN trên thế giới về giảng



140

dạy cho các thế hệ SV tiếp theo. Tuy nhiên, chính sách để thu hút họ lại

khơng nhiều, thậm chí còn chưa được coi trọng, điều này dẫn tới chưa tạo

được động lực để người dạy và người học hướng tới việc đi học để nâng cao

trình độ chuyên môn...

3.5.3. Đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo

giọng Colorature Soprano trong hội nhập quốc tế

Việc mang đến kết quả cao trong đào tạo giọng Colorature Soprano

CLC tại HVANQGVN, như chúng tôi đã nêu, ngồi việc cần có sự đổi mới

một cách đồng bộ nhiều mặt, từ đổi mới chương trình, giáo trình; năng lực

của GV cần chuẩn hóa và nâng cao phương pháp dạy học cần được điều chỉnh

cho phù hợp với yêu cầu mới của quá trình đào tạo TN trong giai đoạn mới...

thì việc hội nhập quốc tế trong đào tạo là không thể tách rời. Với những thành

quả đã đạt được, những hạn chế còn tồn đọng, vậy cần thực hiện những yêu

cầu gì đề phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo khi hội nhập quốc tế?

Theo chúng tôi, nên triển khai những phương án cụ thể sau.

Nên xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng năm và giai đoạn để thực hiện

hiệu quả các nguồn lực ngân sách nhà nước cũng như các mơ hình đào tạo.

Thực tập và tham gia các cuộc thi, biểu diễn quốc tế được đề cập trong đề án

“Đào tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2016 - 2025,

tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng chính phủ thông qua ngày

08/07/2016 (Quyết định 1341/QĐ-TTg). Chuẩn bị cử các thí sinh đi dự thi các

cuộc thi hát chuyên nghiệp thế giới là kế hoạch phức tạp và lâu dài, không thể

tùy hứng, phải nghiên cứu kỹ từng cuộc thi với những yêu cầu về nội dung cụ

thể để kịp thời cử các thí sinh đi dự thi. Thời gian chuẩn bị cho từng cuộc thi

phải có từ hai năm trở lên mới mang lại kết quả tốt.Trong kế hoạch đó, Khoa

TN và nhà trường cần khảo sát kỹ, trao nhiệm vụ chuẩn bị và hướng dẫn thi

cho những GV có kinh nghiệm, có tâm huyết. Chú ý ưu tiên các giọng

Colorature Soprano vì những đặc thù và điều kiện thuận lợi mà loại giọng này

mang lại so với các loại giọng hát khác. Bản thân các GV cũng nên quan tâm



141

tới các cuộc thi trong và ngoài nước để tạo điều kiện tham gia, qua đó nâng

cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ.

Cử SV giọng Colorature Soprano tài năng xuất sắc đi học tập hoặc tu

nghiệp ở các trung tâm đào tạo âm nhạc phát triển trên thế giới. Hoạt động

này đã giúp cho việc đào tạo và phát triển nhiều tài năng âm nhạc cho nhà

trường nói chung và đất nước nói riêng, đã có những giải thưởng cao như

chúng tôi đã đề cập, tuy nhiên, cần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài nhiều hơn

giúp gia tăng số lượng những SV có trình độ chun mơn cao.

Xây dựng mơ hình liên kết đào tạo với các quốc gia, trung tâm đào tạo

quốc tế trong lĩnh vực TN như cách tác giả Trần Thu Hà đã đề xuất trong đề

tài cấp Bộ (2011), “Đào tạo tài năng biểu diễn âm nhạc đỉnh cao ở Việt

Nam”, tác giả đã đưa ra hai mơ hình đào tạo âm nhạc gắn với hội nhập quốc

tế. Thứ nhất: Lấy chuẩn Việt Nam, từng bước bổ sung các chuẩn nước ngoài.

Ưu điểm mơ hình này là kế thừa truyền thống rồi từng bước đổi mới, ít bị xáo

trộn mạnh. Thứ hai: Nhập cơng nghệ mới trong q trình xây dựng mơ hình,

một số quốc gia trong khu vực như Singapo, Thái Lan… Cũng theo tác giả:

“Mặc dù không nhập nguyên công nghệ mới của các nước nhưng

trong lịch sử phát triển mơ hình đào tạo có những giai đoạn đã

ảnh hưởng và kế thừa các mơ hình đào tạo của Pháp trước

(1956), của Liên Xô, Trung Quốc, Đông Âu (từ 1956 đến 1986),

thêm của Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Úc… (từ sau 1986 đến

nay)” [24, tr. 60].

Cả hai mơ hình đều có những ưu điểm, nhược điểm nhưng có chung một đặc

điểm là gắn quá trình đào tạo âm nhạc của Việt Nam hướng đến hội nhập quốc

tế, tiếp thu những tinh hoa của các nền giáo dục đào tạo âm nhạc tiên tiến trên

thế giới.

Tăng cường giao lưu sư phạm và biểu diễn nghệ thuật TN với các

chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài. Việc học tập và giao lưu với chuyên gia nước

ngoài là rất quan trọng, xong thời lượng làm việc với GV, SV còn ít, chưa đủ



142

để người học thực sự lĩnh hội kiến thức nên cần có sự tăng cường hơn nữa về

số lượng buổi học ở mỗi năm học để đảm bảo hơn về chất lượng.

Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế. Để tạo

thêm cơ hội trao đổi, giao lưu học thuật, chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực

đào tạo, biểu diễn và nghiên cứu khoa học đối với giọng Colorature Soprano.

Nâng cao chất lượng sáng tác các tác phẩm TN, sử dụng các tác phẩm có

chất lượng nghệ thuật cao là những chủ trương của ngành văn hóa, các cơ sở đào

tạo âm nhạc nhằm đưa công tác này ngày càng quy củ, phù hợp với các chuẩn

mực khu vực và quốc tế.

Tựu chung lại: Để nền TN Việt Nam thực sự hội nhập quốc tế, thì trước

hết đòi hỏi các cơ sở đào tạo TN, trong đó có HVANQGVN cần phải xây

dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ GV, có kế hoạch tìm kiếm, bồi

dưỡng và cử các tài năng tham gia các cuộc thi quốc tế, bồi dưỡng các kỹ

năng TN và ngoại ngữ chuyên ngành cho người học… cũng như có biện pháp

khắc phục những hạn chế, điểm yếu của người học nhằm đào tạo, bồi dưỡng

đội ngũ các nghệ sĩ, ca sĩ phát triển theo hướng chuyên nghiệp, tự tin hội nhập

quốc tế.

Như vậy, chương 3 chúng tôi đã nêu bật những giải pháp cụ thể trong

đào tạo giọng Colorature Soprano CLC. Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm

dựa trên những giải pháp đưa ra và bước đầu đạt được một số thành quả nhất

định [Xem thực nghiệm triển khai tại phụ lục 4]. Những biện pháp này sẽ

được chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trong những bước đi sắp tới

nhằm đạt được mục tiêu đào tạo CLC đối với loại giọng tiềm năng của Việt

Nam, giọng Colorature Soprano, tiến tới hoàn thành những mục tiêu trong đề

đề án “Đào tạo tài năng biểu diễn âm nhạc đỉnh cao” của HVANQGVN đã đề

ra trong thời gian tới.

Tiểu kết chương 3

Ở chương 3, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp trong đào tạo giọng

Colorature Soprano CLC, cụ thể:



143

Nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Chúng tôi đề cao năng lực người thầy

trong đào tạo CLC, người thầy cần đạt các năng lực cao về chuyên môn TN,

năng lực sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học. Nêu những yêu cầu của

năng lực SV, học viên trong đào tạo giọng Colorature CLC. Bởi khơng có

những năng lực cần thiết thì khơng thể hướng tới đào tạo CLC. Đối với SV,

học viên quan trọng nhất là tiêu chí về giọng hát, ngoài ra người học cần nâng

cao các năng lực như: Tự học, xử lý tác phẩm, các môn bổ trợ... Về chương

trình, giáo trình, chúng tơi đã đề xuất xây dựng chương trình, giáo trình, lựa

chọn tác phẩm dành cho đào tạo giọng Colorature Soprano CLC. Nghiên cứu

đưa ra tiêu chí đánh giá loại giọng này trong đào tạo CLC.

Song song với các giải pháp trên, chúng tôi đưa ra vấn đề hội nhập

quốc tế: Nêu bật những mặt tích cực, hạn chế và những định hướng hội nhập

trong tương lai. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy sự

phát triển của đào tạo CLC đối với giọng Colorature Soprano, các cơ hội như

sự giao lưu học hỏi, sự hỗ trợ của các tổ chức đào tạo, các quốc gia có nền TN

phát triển trong nghiên cứu và biểu diễn.

Cuối cùng, để thấy tính khả thi trong những biện pháp đưa ra chúng tôi

đã tiến hành thực nghiệm triển khai đối với hai SV giọng Colorature Soprano

đạt các tiêu chí trong đào tạo CLC.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×