1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Ví dụ 44: [PL 9, tr.7]

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


85

Ví dụ 45: Trích Rigoletta “Gualtier Malde...” - “Caro nom che il mio

cor” của Verdi [PL12, tr. 160].



Ví dụ 46 : Aria Les filles de Cadix của A. De Musset và L. Delibes (từ ơ

nhịp 94 - 98).



Nhìn vào ví dụ trên cho thấy, âm láy rền thường xuất hiện ở quãng 2

thứ hoặc quãng 2 trưởng. Trong trích đoạn trên, tác giả sử dụng liên tục trong

câu các âm láy rền tại các nốt C5, E5, D5, với yêu cầu thực hiện ln phiên

nên có phần phức tạp, đòi hỏi người hát cần có kỹ thuật vững, thả lỏng cơ thể

và hát một cách chủ động để có thể thực hiện được tốt nhất yêu cầu đặt ra.

Kỹ thuật Trillo còn xuất hiện chỉ trong 1 nốt nhạc nhưng yêu cầu phải

có hơi thở sâu, đầy đặn để có thể xử lý được rung láy trong một nốt kéo dài.



86

Ví dụ 47: Trích Rigoletta “Gualtier Malde...” - “Caro nom che il mio

cor” của Verdi [PL12, tr. 163].



Nốt E5 kéo dài 10 phách và yêu cầu rung láy liên tục trong cả 10 phách đó.

Mặc dù chỉ có một nốt nhưng bản thân rung láy tạo ra nhiều nốt liền bậc xung

quanh nốt đó, bởi vậy, trường hợp này, thanh quản nên chủ động dao động

trong cả quá trình láy rền sao cho âm thanh vừa đạt độ rung được hình thành

qua cộng hưởng âm thanh vừa đạt độ rung láy nhanh có chủ đích. Khi mới thử

nghiệm âm láy rền ở thời gian đầu có thể SV khó kiểm soát được sự giao

động của thanh quản, bởi vậy khi tập luyện cần hết sức lưu ý vấn đề thả lỏng

của các cơ, (cơ hàm, ngực...). Giữa một âm láy rền và âm rung là cao độ được

nâng lên trong âm láy rền, nhưng khơng có ở âm rung. Trong khi láy rền cần

nỗ lực để biến đổi giữa nốt cuối và nốt cao hơn (hoặc nửa âm cao hoặc toàn

bộ nốt được nâng lên) mà độ rung vẫn duy trì trên cùng một nốt. Có thể

hướng dẫn người học luyện âm láy rền bằng cách láy một điệu huýt sáo ngân

tại một cao độ sau đó ngay lập tức hát cùng một nốt bằng chuyển động thanh

quản và điều chỉnh hơi thở, tạo ra nốt ở mức với dao động thanh quản trong

từng vận động.



87

Ví dụ 48: Trích Lucia di lammermoor “Regnava nel silenzio” “Quando rapito in estasi” của Donnizetti [PL12, tr. 209].



Trích đoạn này yêu cầu rung láy nhảy quãng, liên tục. Khi đã quen với cách

hát rung láy thì với trích đoạn trên người học khơng cần lo lắng về quãng

nhảy này bởi với âm nảy ở nốt dưới F4 giúp dễ tạo độ bật âm thanh hơn khi

láy rung ở nốt D5, tương tự vậy với các âm còn lại. Tuy nhiên, đáng chú ý là

các quãng được mô tiến cromatic đi lên cùng những yêu cầu xử lý âm nhạc

trong đoạn đòi hỏi người học cần có sự tập trung và thận trọng hơn bởi sẽ dễ

bị phô chênh hoặc điều tiết hơi thở bị thơ kệch, cần tránh tạo ra âm láy rền

q mức.

Tóm lại, khi tập những tác phẩm TN có yêu cầu kỹ thuật rung láy, điều

nên thực hiện là tập tách từng phần nhỏ, lặp đi lặp lại nhiều lần, khi đã ổn mới

ghép vào giai điệu cả câu hát. Cần luyện tập ở mức độ thường xun để ln

duy trì được cách hát này.

2.2.5. Hát sắc thái to nhỏ

Đây là kỹ thuật rất cần thiết đối với đào tạo TN nói chung, đào tạo

giọng Sprano Colorature nói riêng. Trong bài hát, tình cảm một phần được thể

hiện bằng sắc thái, trong đó có sự thay đổi to, nhỏ, mạnh, yếu của một nốt

nhạc hoặc cả câu nhạc. Những sắc thái to nhỏ này được ghi bằng những ký

hiệu chữ viết tắt, thí dụ: mạnh, to (forte), yếu, nhỏ (piano), từ to tới nhỏ - nhỏ

dần (diminuendo), từ nhỏ tới to, to dần (crescendo)... Yêu cầu khi hát nhỏ đi



88

hoặc to dần trên một nốt nhạc một cách đều đặn, liên tục, không bị gẫy âm

thanh, không ngắt quãng, không thay đổi vị trí cộng minh của âm thanh.

Phải khẳng định, luyện tập hát to dần, nhỏ dần là một kỹ thuật khó. Với

một người chưa nắm vững cơ bản mà cố gắng thể hiện sắc thái nhỏ, to, mạnh,

nhẹ sẽ rất nguy hiểm cho giọng hát bởi rất dễ khiến âm thanh bị khơ, gằn cổ,

khơng mượt mà, thanh thốt, thậm chí âm thanh thường bị mờ, yếu ớt và gãy.

Bởi vậy, cần có sự tập luyện một cách nghiêm túc kỹ thuật này trước khi ứng

dụng vào những tác phẩm có sức biểu cảm mạnh mẽ về tính chất và cường độ

âm nhạc.

Ví dụ 49: [35, tr.253].



Ví dụ 50 [35, tr.253].



Ở hai ví dụ trên, yêu cầu xử lý sắc thái từ to xuống nhỏ dần, đoạn đầu yêu cầu

hát to và những âm cuối hát nhỏ. Khi hát những âm như vậy cần chuẩn bị

luồng hơi tốt, không tống hết hơi ở nốt ngân tự do và dành hơi để ém nhỏ dần

âm thanh sao cho không bị đứt cụt hơi ở cuối câu. Khẩu hình vẫn mở ổn định

với hàm dưới buông lỏng, luyện tập kết hợp với các nguyên âm, phụ âm như:

Ma, mô, na, nô, la hoặc đọc note.

Sau khi biết cách xử lý những yêu cầu cơ bản khi hát kỹ thuật này, khi

người học kiểm soát được âm thanh với hơi thở chắc chắn và đạt được sự ổn

định của âm thanh cộng minh thì tiếp đến là thời điểm để luyện tập các bài tập

khó hơn để kiểm sốt cường độ của giọng hát. Tất nhiên, không phải với hầu

hết các giọng hát đến thời điểm này chỉ đạt một mức về sắc thái hay độ rung

cộng minh, điều chúng tôi muốn nói tới là quy trình rèn luyện với mục đích trì

hỗn sự phát triển cường độ cho đến khi kỹ thuật TN cơ bản của người học



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×