1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Ví dụ 52: Trích Die Nachtigall của Alabieff [PL13, tr.362].

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


90

Trích đoạn trên xử lý sắc thái khơng q khó bởi nó đễn ra ở hai ơ nhịp và ít

có sự phức tạp trong giai điệu, có thể dùng để luyện kỹ thuật này ở giai đoạn

đầu. Tuy nhiên, rất nhiều tác phẩm đòi hỏi xử lý sắc thái phức tạp, xử lý sắc

thái to, nhỏ ngay trong 1 ô nhịp và liên tục trong cả câu hát.

Ví dụ 53: Trích Ave Maria của Caccini (ơ nhịp 18 - 24)



Ngay ô nhịp đầu tiên đòi hỏi xử lý sắc thái từ nhỏ tới to dần rồi lại trở

về êm dịu, kết hợp đồng thời với kỹ thuật hát liền giọng. Để thể hiện được

những biểu cảm như vậy người hát phải kết hợp chắc chắn các yêu cầu về kỹ

thuật từ hơi thở sâu, chắc, khẩu hình mở linh hoạt, vị trí âm thanh mỏng phía

chân răng cùng sự bng lỏng cơ thể... những yếu tố trên đóng vai trò làm nền

móng vững chắc, người hát chỉ tập chung tới tính chất âm nhạc, tới sự diễn tả

cảm xúc để đạt đúng yêu cầu mà tác phẩm hướng tới. Như vậy, để phát triển

kỹ thuật hát sắc thái biểu cảm đối với giọng Colorature Soprano nói riêng,

trước tiên phải nắm được những yêu cầu cơ bản là yếu tố nền, sau mới chuyển

sang luyện để phát triển đầy đủ hơn khả năng kiểm soát cường độ và độ vang

rền giọng hát.



91

Trên đây chúng tôi đã đưa ra một số kỹ thuật TN căn bản, phù hợp hơn cả

đối với sự phát triển của giọng Colorature Soprano trong đào tạo CLC. Những

kỹ thuật này cần được người học nắm vững và ứng dụng linh hoạt bởi trong một

tác phẩm không chỉ đơn thuần một kỹ thuật mà đòi hỏi người học phải thực hiện

nhiều kỹ thuật luân phiên, phức tạp hơn, các kỹ thuật này được thể hiện đồng

thời trong một đoạn nhạc, câu nhạc. Có thể thấy ở một số ví dụ sau:

Ví dụ 53: Trích Thema und Variatine của Heinrich Proch (Variatine III, ơ

nhịp 14 - 28)



Đây là trích đoạn rất phức tạp, gồm sự luân phiên nhiều kỹ thuật hát khác nhau ở

âm vực rất cao và rộng. Người hát phải thể hiện các kỹ thuật staccato lên tới âm

Es6 cùng nhảy quãng xa đồng thời thể hiện kỹ thuật nhấn nhá. Tiếp theo đó là kỹ

thuật trillo, mặc dù chỉ trillo trong nốt As5 nhưng khi phải thực hiện đồng thời

xử lý sắc thái (từ nhỏ tới “f” rồi ngay lập tức xử lý nhỏ xuống “ppp”) với tốc độ

nhanh và nhảy quãng thì thực sự rất khó thực hiện. Chỉ những giọng Colorature

Soprano trong lựa chọn đào tạo CLC, khi đã có những kiến thức vững chắc về

hơi thở, vị trí âm thanh và sự linh hoạt của khẩu hình và cơ thể, có sự khỏe tốt,

cùng đó là sự tập luyện một cách nghiêm túc với sự hướng dẫn của người thầy

giỏi và kinh nghiệm mới mong đạt được những yêu cầu mà tác phẩm hướng tới.

Tương tự như vậy với ví dụ dưới đây.



92

Ví dụ 54: Trích Fruhlingsstimmen - Walzer của Johann Strauss ( từ ơ nhịp

240- 246)



Để thực hiện trích đoạn trên, người hát phải đạt được sự điêu luyện trong

kỹ thuật và giọng hát lúc này đóng vai trò như một nhạc cụ sống, có khả năng

hát một cách uyển chuyển với giai điệu. Từ kỹ thuật chạy passage linh hoạt,

nhảy quãng kết hợp trillo, thay đổi sắc thái biểu cảm... Nếu khơng có nền tảng kỹ

thuật vững chắc thì khơng thể thực hiện được những kỹ thuật ở mức độ phức tạp

như trên.

Ngồi ra, còn rất nhiều tác phẩm khó và phức tạp khác phù hợp với đặc

điểm giọng Colorature Soprano. Phù hợp là một lợi thế, tuy nhiên, chỉ khi loại

giọng này được đào tạo với một lộ trình phát triển đặc biệt mới có khả năng hát

được những kỹ thuật mà những tác phẩm này hướng tới. Với những lộ trình

nghiên cứu sự phát triển của giọng Colorature Soprano trong đào tạo CLC chúng

tôi nhận thấy nhiều sự khác biệt so với đào tạo những giọng nữ khác ở chương

trình đào tạo đại trà hiện hành. Cụ thể như bảng so sánh sau.



93

Bảng 2: So sánh một số kỹ thuật đặc trưng của giọng Colorature Soprano

trong đào tạo đại trà và đào tạo CLC

Kỹ thuật

Cantinela



Đào tạo đại trà

Đào tạo CLC

Đạt tiêu chí liền hơi, liền từ, Đạt tiêu chí liền hơi, liền từ, âm

âm thanh tuôn trào ở mức độ thanh tuôn trào với mức độ tinh

cơ bản. Ứng dụng vào tác xảo cao. Ứng dụng vào những

phẩm có độ khó trung bình, tác phẩm khó và phức tạp.



Passage



hoặc trên trung bình.

Đạt tiêu chí liền hơi, chạy nốt Đạt độ tinh xảo khi chạy nốt với

linh hoạt, thống nhất âm thanh tốc độ nhanh, rất nhanh mà

ở một vị trí từ thấp lên cao, từ khơng bị dính nốt, mất nốt ở

cao xuống thấp với tốc độ vừa quãng rộng, có thể rất rộng (A3

phải ở quãng rộng cơ bản (A3 -E6 hoặc cao hơn). Hơi thở chắc

- A5). Ứng dụng vào những chắn, linh hoạt với cơ thể thả

tác phẩm ở độ khó trung bình. lỏng. Ứng dụng vào các tác



Staccato



phẩm khó, rất khó.

Đạt tiêu chí bật được cơ bụng Đạt tiêu chí bật cơ bụng dưới,

dưới, hơi thở linh hoạt. Âm âm thanh sắc, nét, nảy, làm chủ

thanh vang, nảy ở âm vực cơ tốc độ với hơi thở linh hoạt,

bản (từ A3 đến A5). Ứng dụng được hát trên quãng rộng (từ A3

vào các tác phẩm có độ khó đến E6, hoặc cao hơn). Ứng

vừa phải, ít nhảy quãng xa.



dụng vào các tác phẩm khó, rất

khó, có khả năng hát staccato ở



những quãng nhảy xa.

Qua bảng so sánh trên chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa yêu cầu về

các kỹ thuật trong đào tạo đại trà và đào tạo giọng Colorature Soprano CLC. Đặc

tính của giọng Colorature Soprano giống như một nhạc cụ, từ cao độ, trường

độ, cường độ, và âm sắc, những yếu tố này cần khai thác, phát triển và ứng

dụng vào trong các tác phẩm TN một cách hết sức tinh tế, nhạy bén và uyển

chuyển, diễn đạt những giai điệu hết sức phong phú, làm nổi bật lên những



94

đặc trưng của giọng hát này, đặc biệt trong yêu cầu đào tạo CLC. Các kỹ

thuật: Cantilena, staccato, hát trillo, hát sắc thái to nhỏ... là phương tiện thiết

yếu để biểu hiện những hình thức, nội dung của các tác phẩm và biểu đạt

những cảm xúc. Luyện tập những yêu cầu kỹ thuật này đồng thời cũng là

luyện tập phát triển giọng hát để thực hiện được mọi yêu cầu của nghệ thuật

ca hát một cách chủ động và vững vàng, thực hiện tác phẩm ở yêu cầu đào tạo

CLC. Chúng tôi trích một phỏng vấn nhỏ của GV giàu kinh nghiệm trong đào

tạo TN tại HVANQGVN, GV Nguyễn Thu Lan như sau:

Tố chất của một giọng Colorature Soprano khi nghe ta thấy sự

nhẹ nhàng,bay bổng, linh hoạt, nghe đã thấy sự thuận lợi cho

hát passage (lướt chạy). Nhưng có tố chất là một chuyện,việc

học kỹ thuật để sử dụng cho cách hát đúng, đạt cả về chất lượng

kỹ thuật lẫn tâm hồn mới là điều quan trọng (PV trực tiếp GV

Nguyễn Thu Lan - Khoa TN, HVANQGVN, tháng 7 năm 2018).

Có thể thấy, cho dù Colorature Soprano là giọng hát thuận lợi, xong để đạt

mục tiêu đó cần phải có một quá trình rèn luyện bài bản, nghiêm túc và hết sức

thận trọng, vậy mới giúp ích cho sự phát triển của một giọng hát trong những

bước đi đầu tiên cũng như trong cả quá trình làm nghệ sĩ biểu diễn ca hát chuyên

nghiệp. Đào tạo tất cả các giọng hát đều phải quan tâm tới việc rèn luyện kỹ

thuật và đào tạo đối với giọng Colorature Soprano để đạt yêu cầu CLC cần được

quan tâm nhiều hơn.



95

Tiểu kết chương 2

Xuyên suốt chương hai chúng tôi nghiên cứu những kỹ thuật thanh

nhạc dành cho đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, là một trong những

nội dung trọng tâm quyết định tới chất lượng đào tạo. Chúng tôi nghiên cứu

nội dung này làm hai phần.

Phần 1: Những yêu cầu khi thực hiện các kỹ thuật của giọng

Colorature Soprano CLC: Bao gồm hơi thở, khẩu hình, vị trí âm thanh cộng

minh, là ba yếu tố nền móng cho mọi loại ca hát. Chúng tơi đã nghiên cứu,

lựa chọn những bài tập phù hợp với lộ trình phát triển của giọng Colorature

Soprano CLC như: Tập chung phát triển sự linh hoạt của giọng hát, lựa

chọn nhiều mẫu âm nhảy quãng xa, những bài tập kết hợp cùng lúc nhiều

kỹ thuật TN khác nhau... nhằm phát triển những yêu cầu này ở mức độ cao,

phù hợp với đòi hỏi trong đào tạo giọng Colorature Soprano CLC.

Phần 2: Do tính chất đặc trưng của loại giọng Colorature Soprano là

bay, vang xa và có âm vực cao nhất trong tất cả các loại giọng, phù hợp

nhất với sự linh hoạt. Chúng tôi đã lựa chọn các kỹ thuật: Cantilena,

Staccato, Passage, Trillo, Crescendo - Diminuendo để phát triển loại giọng

Colorature Soprano trong đào tạo CLC. Mỗi kỹ thuật, chúng tôi nghiên

cứu, lựa chọn những mẫu luyện thanh, những bài vocalise, ứng với đó là

những minh họa bằng một số trích đoạn cụ thể trong tác phẩm phù hợp

dành cho loại giọng Coloratue Soprano trong đào tạo CLC.



96

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP TRONG ĐÀO TẠO GIỌNG COLORATURE

SOPRANO CHẤT LƯỢNG CAO TẠI VIỆT NAM

Dựa theo các tiêu chí tại Thơng tư số 24/2014/TT-BGDĐT “Về Đào

tạo Chất lượng cao trình độ đại học quy định về chương trình đào tạo, giảng

viên, sinh viên, cơ sở vật chất, hợp tác quốc tế...

Theo Quyết định 1341/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày

08/07/2016 về việc phê duyệt đề án “Đào tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa

nghệ thuật giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu cụ

thể: Phát hiện, đào tạo SV, học viên có năng khiếu vượt trội để trở thành

những nghệ sĩ tài năng trong biểu diễn, sáng tác, giảng dạy; tham gia biểu

diễn, dự thi các chương trình, cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp trong nước

và quốc tế; phát triển tài năng trẻ văn hóa nghệ thuật có trình độ chun mơn

sâu, có đức, có tài, có khả năng sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa nghệ thuật

CLC mang tầm quốc gia và quốc tế; trở thành lực lượng văn nghệ sĩ nòng cốt,

chủ đạo trong hoạt động văn hóa nghệ thuật của đất nước.

Với những chủ trương nêu trên, trong công tác đào tạo CLC đối với

giọng Colorature Soprano chúng tôi xác định rõ chương trình, giáo trình cần

xây dựng như thế nào? Năng lực của người GV dạy thanh nhạc cần chuẩn hóa

và bồi dưỡng ra sao? Phương pháp dạy và học cần phải điều chỉnh như thế

nào? và định hướng hội nhập quốc tế trong đào tạo giọng Colorature Soprano

CLC?... Những câu hỏi này chúng tơi nghiên cứu tìm câu trả lời cụ thể ở phần

nghiên cứu dưới đây.

3.1. Chất lượng đội ngũ giảng viên trong đào tạo giọng Colorature

Soprano chất lượng cao

Để đào tạo SV, học viên chất lượng cao, người thầy chun ngành đóng

vai trò rất quan trọng mang tính quyết định kết quả của quá trình đào tạo.

Đội ngũ GV dạy TN tại Khoa TN HVANQGVN đa số có trình độ

chun mơn vững, đáp ứng mục đích, u cầu dạy học chung của nhà trường.

Tuy nhiên, với những đòi hỏi khắt khe hơn trong đào tạo nguồn nhân lực đạt



97

CLC thì khơng phải GV nào cũng có thể đáp ứng. Theo GS.TS.NSND Trần

Thu Hà.

“Người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự thành

công trong đào tạo tài năng biểu diễn âm nhạc (chiếm đến 50%).

Đây là ngành đặc thù, những giờ học chuyên môn thường là một

thầy một trò. Thời gian người thầy làm việc với học trò thường

kéo dài trong một q trình. Trong q trình đó, người thầy

khơng chỉ truyền nghề mà còn phải có nhiệm vụ truyền cả kiến

thức, kinh nghiệm” [25, tr 50].

Điều đó cho thấy, để đạt được hiệu quả cao trong đào tạo thì việc bồi

dưỡng nâng cao năng lực của GV là việc làm quan trọng. Qua quá trình tìm

hiểu chúng tôi nhận thấy, để nâng cao năng lực của GV dạy TN đáp ứng đòi

hỏi trong đào tạo giọng Colorature Soprano CLC cần chú trọng những yếu tố

sau đây.

3.1.1. Năng lực chun mơn

Ngồi những kiến thức cơ bản về kỹ thuật TN đáp ứng yêu cầu đào tạo

ca sĩ với mục tiêu chung đặt ra trong chương trình đào tạo thanh nhạc hiện

nay, với SV, học viên đào tạo CLC người thầy phải có kiến thức chun mơn

giỏi, có thành tích trong đào tạo, là những GV dạy lâu năm, am hiểu sâu và

tường tận hơn những kỹ thuật ở mức độ cao nhằm hướng dẫn người học giải

quyết được những vấn đề phức tạp trong các tác phẩm dành cho giọng

Colorature Soprano như: những đoạn chạy passage xuất hiện liên tục trong tác

phẩm, những đoạn staccato phức tạp, những câu hát đòi hỏi một hơi thở dài,

đầy đặn, hoặc sự luân phiên nhiều kỹ thuật phức tạp trong một tác phẩm... Để

hướng dẫn SV, học viên thực hiện tốt những bài tập đó, ngồi phương pháp

dùng lời, cách tốt nhất để học sinh dễ cảm nhận là người dạy thực hiện mẫu

cho SV. GV phải là người giàu kinh nghiệm giảng dạy, có kiến thức và hiểu

biết sâu rộng, có tai nghe âm nhạc tinh tường để phân biệt người học đang hát

sai ở khâu nào và cần khắc phục ra sao. Những GV như vậy hiện nay khá

hiếm, thường là những người có tầm ảnh hưởng lớn tới sự phát triển TN nước



98

nhà. Như vậy, muốn đạt được chuyên môn sâu, đáp ứng yêu cầu cao như phân

tích trên đây thì GV, đặc biệt ở những người trẻ cần khơng ngừng học tập, rèn

luyện, có thể bằng một số cách sau.

Tham gia lớp học ngắn hạn, giao lưu học tập chuyên gia nước ngoài.

Hàng năm, nhà trường có những kế hoạch học tập nâng cao trình độ

chun mơn tại nhiều nước trên thế giới, những GV có trình độ cao nên dành

thời gian để tham gia theo học vừa nâng cao về chun mơn, vừa có thể du

nhập những phương pháp dạy học tiên tiến của nước ngồi ứng dụng trong

đào tạo TN nói chung, đào tạo giọng Clorature Soprano nói riêng tại

HVANQGVN.

Mặt khác, GV có thể giao lưu, học tập cùng chuyên gia nước ngoài.

Mỗi năm khoa TN đều có những chun gia nước ngồi tới hướng dẫn, bồi

dưỡng chuyên môn, nhiều người là chuyên gia trong đào tạo giọng Colorature

Soprano, bởi vậy đây là cơ hội tốt để các GV tham gia học tập và trau dồi

kinh nghiệm biểu diễn cũng như giảng dạy. Ngoài dự giờ, các GV nên cùng

nghiên cứu tác phẩm, trực tiếp tham gia thực hành để nhanh chóng nắm bắt

các kiến thức.

Nghe, học, nghiên cứu nhiều tác phẩm kinh điển dành cho giọng

Soprano Colorature

Chúng tôi cho rằng, việc nghe nhiều tác phẩm TN CLC, có chọn lọc

của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới sẽ có tác động lớn đối với việc nâng cao

năng lực chuyên môn của GV. Trong q trình nghe nhiều, người GV sẽ phân

tích được lý do tại sao người hát có thể thực hiện được những khúc đoạn hay

tác phẩm như vậy, sẽ đặt câu hỏi rằng các nghệ sĩ đó đã sử dụng những kỹ

thuật gì? như thế nào? để đạt được chất lượng âm thanh như vậy... Q trình

phân tích đó sẽ giúp GV tự trau dồi và nâng cao kiến thức chuyên môn, để khi

ứng dụng vào dạy học cho SV, người thầy sẽ dễ dàng biết được SV hát sai tại

đâu và cần thêm bớt những kỹ thuật gì khi hát tác phẩm đó. Người GV nếu có

thể hát được thêm nhiều tác phẩm dành cho giọng Colorature Soprano là điều



99

rất tốt, bởi khi trực tiếp hát những tác phẩm như vậy GV sẽ hiểu rõ nhất

những khó khăn nằm ở đâu và hướng khắc phục như thế nào, từ đó giúp

người học dễ tiếp nhận kiến thức hơn.

Nghiên cứu sách chun ngành

Chúng tơi có thể khẳng định, việc đọc, tìm hiểu những cuốn sách về sư

phạm TN, đặc biệt là đào tạo cho giọng Colorature Soprano CLC sẽ giúp

người học có một lượng kiến thức lý luận sâu sắc và chặt chẽ. Đó là những

đúc kết kinh nghiệm giảng dạy quý báu của những nhà sư phạm đầy tâm

huyết đi trước, khi đọc và nghiên cứu sách người dạy sẽ biết mình đang còn

hổng kiến thức ở khâu nào, cần bồi dưỡng thêm những lượng kiến thức ra sao,

từ đây làm giàu thêm kiến thức chuyên môn giảng dạy. Tuy nhiên cũng nên

lưu ý, có nhiều sách có hướng nghiên cứu giống nhau như cách giải quyết

cùng một vấn đề lại cho ra những kết quả không nhất quán, mang đậm tính

chủ quan. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về phương pháp mở khẩu hình hát, có

sách cho rằng TN nên mở khẩu hình ngáp, có sách lại viết chỉ nên mở khẩu

hình ngáp trước khi hát bởi việc ln mở như ngáp sẽ ảnh hưởng tới chất

lượng âm thanh. Thực chất, mỗi cách thức đều gắn với một giai đoạn lịch sử

bởi những trường phái TN khác nhau... do vậy, người GV khi nghiên cứu sách

cần xác định rõ cách thức giảng dạy TN hiện hữu đang dựa trên cơ sở nào,

trường phái TN nào, từ đó có sự so sánh, đánh giá và lựa chọn những kiến

thức xác thực hơn cả nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong giảng dạy...

3.1.2. Các năng lực bổ trợ

Đào tạo SV đỉnh cao đồng nghĩa với việc người dạy luôn không ngừng

học tập, trau dồi kiến thức để nâng cao trình độ. Như đã nêu trong thực trạng,

hiện nhiều GV còn bộc lộ một số hạn chế ở các môn bổ trợ như: Ngoại ngữ

chuyên ngành, năng lực sử dụng đàn piano cũng như hiểu biết về kiến thức

âm nhạc... bản thân tôi cũng mắc phải những lỗi nêu trên và đã gặp khơng ít

khó khăn trong q trình giảng dạy. Bởi vậy, chúng tôi hiểu tầm quan trọng



100

của việc học tập, nâng cao các năng lực này nếu muốn nâng cao chất lượng

đào tạo chuyên môn.

Về ngoại ngữ trong chuyên ngành

Để phục vụ công việc giảng dạy TN đạt hiệu quả cao thì việc cần thiết

đối với mỗi GV đó là nghiên cứu để hiểu về cách phát âm một số ngoại ngữ.

Có thể thấy, phần lớn các tác phẩm TN nước ngồi hiện nay đang sử dụng

ngơn ngữ của các nước như: Ý, Đức, Pháp, Nga... (những nước có tầm ảnh

hưởng lớn tới lịch sử và sự phát triển của TN). Nếu GV không nắm được

nguyên tắc phát âm của những ngơn ngữ này thì khơng thể hướng dẫn cho

người học phát âm chuẩn xác khi hát.

Hiện tại, HVANQGVN chưa tổ chức các lớp học ngoại ngữ chuyên

ngành, nhận thức tầm quan trọng, Khoa TN đã tổ chức được lớp học tiếng Ý

tuy nhiên rất ít người đăng ký theo học. Theo chúng tôi, vấn đề này nên được

quan tâm hơn nữa ở cả phía nhà trường và GV, thậm chí khuyến khích SV

cùng tham gia lớp học. Khơng chỉ tiếng Ý mà nên mở rộng học các ngôn ngữ

khác như: Đức, Nga, Pháp... có vậy mới phù hợp với xu thế phát triển chung

hiện nay.

Về kiến thức âm nhạc tổng hợp

Trong TN, rất nhiều tác phẩm biểu hiện giai điệu, tiết tấu và ký hiệu âm

nhạc phức tạp, thể hiện sự tổng hợp kiến thức âm nhạc trong đó. Chẳng hạn:

Tác phẩm Cavatine der Semiramis trích “Semiramis” của G.Rossini [PL11, tr.

244], đây là tác phẩm viết cho giọng Colorature Soprano, giai điệu sử dụng

nhiều luyến láy, nhảy quãng, thăng giáng bất thường; tiết tấu âm nhạc phức

tạp nhiều đảo phách, nghịch phách, tiết tấu nhanh, chậm, thay đổi liên tục, đặc

biệt có nhiều ký hiệu âm nhạc... Gặp những tác phẩm như vậy, GV cần biết

phân tích để hiểu về tác giả, tác phẩm, biết xác định những khúc đoạn khó cần

chú ý, phải biết xướng âm một cách chuẩn xác cao độ, trường độ, biết xử lý

từng ký hiệu âm nhạc mà tác phẩm yêu cầu, cần có hiểu biết sâu, rộng về lịch



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×