1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Ví dụ 56 : Trích Caro mio ben của G.Giordani (từ ô nhip 4 - 8).

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.61 MB, 187 trang )


123

Ví dụ 57: Trích aria “Danza, danza, faciulla gentile” của Durante, (ơ

nhịp 4 - 14).



Với trích đoạn trên, u cầu đối với người học bắt đầu tập bật hơi thở

linh hoạt, bước đầu làm quen với kỹ thuật chạy passage (kỹ thuật passage

trong trích đoạn này chưa phải q khó).

A.Scarlati (1660-1725): Aria “Amor preparani” Trích opera “Pompea”

(1683), Gia il sol de Gange (mặt trời trên sông Gange), Con solati e spera

trích opera “Ifigenia in tauris (1713), Le Violette (hoa tím).

L.Vinci (1690-1730) Teco, trích opera “La caduta dei Decemviri”

(1727)

Durante (1684-1775) “Danza, danza, faciulla gentile” (hãy nhẩy múa

hỡi cô gái xinh đẹp)

G.Bononcini (1670-1747) : L’esperto nocchiero - trích opera “Astarto”

(1715); Un’ombra di pace trích opera “Cafurnia” (1724),



124

A.Vivaldi (1678-1741): La rondinella amante (con chim nhạn yêu

thương) trích opera “Griselda” (1735), Lo son quell gelsomino (Tơi chính là

bơng hoa nhài) trích opera “Arsilda Regina di ponto”.

Dành cho năm thứ ba

A. Campra (1660-1774) : Chan son du Papillon (Bài ca con bướm)

trích opera - Balett, “Fetes Venitiennes” (ngày hội thành Vienice).

G.B.Pergolesi: “Stizzoso, mio stizzoso” trích opera “người hầu thành

quý bà” (1733), Aria Serpina trích opera “Người hầu thành quý bà”.

G.F. Handel: Aria lascia ch’io pianga trích opera “Rinaldo”, Aria

Atalanta “Un cenno leggiadretto” trích opera “Serse”, Aria Morgana

“Tornami a Vagheggiar” trích opera “Alcina”, Aria Achsa “O hatt ich jubals

Harf” trích opera “Joma” “Giulis Cesare”, Aria Cleopatra “Piangero” trích

opera “Giulio Lesare”.

Có thể thấy những tác phẩm trên đây đã đòi hỏi những kỹ thuật phức

tạp hơn nhiều. Người học cần phải đạt được những vấn đề về hơi thở, khẩu

hình và vị trí âm thanh cộng minh ở cấp độ cao hơn để thực hiện được những

câu nhảy quãng xa, kết hợp với chạy nốt tốc độ cao.



125

Ví dụ 58. Trích Aria Ah! non credea mirarti trích “La sonnambula” của V.

Bellini (ơ nhịp 183- 192).



Khi hát trích đoạn trên, người học cần chuẩn bị hơi thở dài, chắc. Hát

các âm chạy không được bỏ nốt đồng thời thể hiện sự liền tiếng, tuôn trào và

ổn định trên vị trí âm thanh cộng minh ở tất cả các quãng giọng.

Dành cho năm thứ tư

Aria Zerlina “Vedrai, carino trích opera “Don Giovanni”, Ave Verum

Corpus, Aria Zerlina “Batti, batti, o bel Masetto” trích opera “Don Giovanni”,

Aria Despina “Una donna” trích opera “cosi fan tutte”, Aria Blonde “Durch

Zartlichkeit…” trích opera “Eutfuhrung”, Aria Ilia “Zerffiretti” trích opera

Idomeno”, Aria “L’amero dein bin ich” trích opera “Ơng vua chăn gia súc”,

Liên khúc TN “Exsultate, Tuvirrginum, Alleluja”, Aria Despina “In nomini, in

soldati” trích opera “Cosi fan tutte”, Aria Servillia “S’altro che lacrime” trích

opera “La clemenza di tito”, Aria “L’amero dein bin ich” trích liên khúc “Il re

pastore” KV208, Aria Nữ hoàng đêm tối “O zittre nicht mein liber Sohn” trích

opera “Cây sáo thần”, Aria Nữ hoàng đêm tối “Der Holle Rache” của Mozart

[PL11. tr 230]



126

V.Bellini: Reitative và Aria Amina "Gran Dio, non mira" trích Op.

"Sonnambula" (Người mộng du).

M. Glinka: Aria Ludmila "Tơi buồn" trích Op. "Ruslan và Lundmila"

Năm thứ 4 bao gồm nhiều kỹ thuật phức tạp trong cùng một tác phẩm,

đòi hỏi người học phải đạt được tiêu chí như một nghệ sĩ biểu diễn thực thụ,

biết kết hợp kỹ thuật và nghệ thuật (cảm xúc, xử lý và biểu diễn tác phẩm).

Ví dụ 59: Trích aria Mein Herr Marquis (Con Dơi) của Johann Strauss (từ ơ

nhịp 75-87).



Ở ví dụ trên, người hát cần thực hiện kỹ thuật Trillo kết hợp nhảy

quãng xa đồng thời chạy passage. Đây là sự kết hợp nhiều kỹ thuật khó, yêu

cầu người học phải làm chủ hơi thở, giữ cột hơi ổn định để nhảy quãng không

bị thay đổi vị trí âm thanh mà vẫn đạt chất lượng của âm thanh những nốt cao

theo yêu cầu.

Những tác phẩm âm nhạc lãng mạn

Tương tự như cách chúng tôi lựa chọn các tác phẩm tiền cổ điển và cổ

điển. Ở phần này chúng tôi phân chia tác phẩm cho các năm như sau:



127

Dành cho năm thứ nhất

G. Rossini (1792-1868) có Cavatina Semiramis “Bel raggio lusinghier”

trích opera “Semiranies”, Aria Ninetle “Di piacer mibalza il cor” trích opera

“Gazza ladra”.

C. Gounod : Serenade, Hãy đến những bãi cỏ đang xanh

E. Grieg : Bài hát Solvejg, Giấc mơ (Ein Traum)

F. Schubert : Em là nguồn yên tĩnh của tôi (Du bist die Ruhn), Ave

Maria, Cô gái chèo thuyền (Auf dem Wasser zu singen).

G.Verdi (1813-1901): Khúc hát Osca “Sape voreste” trích opera “Vũ

hội giả trang” khúc hát osca “Nolta la terrea” trích opera “Vũ hội giả trang,

Aria Gilda “Tutte le feste” trích opera “Rigeletto”

J.Ofenbach (1819-1881) : Doll song “Les oiseaux dans charmille” trích

opera “Les contes D’hoffmann”.

Dành cho năm thứ hai

A. ALiabiev: Họa mi

L. Arditi: Parla –Valse

E. Del-Acua: Chim én

L. Delibes: Bài hát Tây Nan Nha

G.Fauré: Sau giấc mơ

Dành cho năm thứ ba

V.Bellini (1801-1835): Aria Norma trích opera “Norma”, Aria Amine

“Ah’non credea mirarti” trích opera “Sonnambula”, Aria Elvira “Son vergin

Vezzosa” trích opera “I Puritani”, Aria Elvira “Qui la voce sua soave” trích

opera “I Puritani”.

G.Verdi (1813-1901): Aria Gilda “Caro Nome che il mio cor” trích

opera “Rigoletto”, Aria Violetta “Ah, fors e lui che lamina” phần andantino

trích opera “La traviata” (bài khó).

Dành cho năm thứ tư

G.Donizetti (1797-1848): Cavatina lucia “Regnava nel silenzio” trích

opera “Lucia Lammermoor”, Romance Lucrezia “Com’e bello” trích opera

“Lucrezia Borgia”, Scene và cavatina Norina “Quel guard oil cavaliere” trích

opera “Don Pasquale”, Cavatina Linda’O luce di quest’anima” trích opera



128

“Linda di Chamounix”, Aria Maria “Havvi un dio che in sua clemenza” trích

opera “Maria di rohan”, La zingara’la zingara.

G.Weyerbeer (1791-1864): Cavatina Pagen trích opera “Hugenotten”

J. Strauss (1825 - 1899): Khúc hát Adele “Mein Herr Marquis” trích

opera “Con dơi” (Die Fledermaus), Khúc hát Adele “Spiel’ich die Unschuld

vom lande” trích opera “Con dơi”, Điệu valse mùa xuân (bài khó).

Trên đây là gợi ý những tác phẩm của các tác giả các thời kỳ âm nhạc

từ tiền cổ điển, cổ điển, lãng mạn, hậu lãng mạn, đó là những aria trích từ các

opera. Ngoài ra, nên quan tâm tới các tác phẩm romance của các tác giả thời

kỳ cổ điển như: Mozart, thời kỳ lãng mạng như: Rossini, Belllini, Donizetti,

Schubert, Schumann, Bizet, Grieg, Duparc, Faure, Gounod, Glinka,

Tchaikovsky... Tham khảo thêm các tác phẩm trong Giáo trình chuyên ngành

TN (bậc đại học) dành cho giọng Soprano của tác giả Nguyễn Trung Kiên

(2007).

Những tác phẩm romance là những phần rất quan trọng trong giáo trình

các cấp học đặc biệt bậc đại học. Học tập những tác phẩm romance sẽ tạo ra

cho giọng hát những quan niệm đẹp về âm sắc, về một số kỹ thuật hát, biểu

hiện những cảm xúc và cả những phong cách về âm nhạc của các tác giả, về

lời thơ…

Những tác phẩm Việt Nam

Cũng giống như việc đề xuất đưa các tác phẩm kinh điển trên thế giới vào

chương trình đào tạo. Đối với các tác phẩm Việt Nam chúng tôi cũng xem xét bổ

sung bộ phận lớn là ca khúc cách mạng và ca khúc đương đại. Các tác phẩm này

cũng được phân phối theo chương trình học tập (năm thứ nhất đến năm thứ

tư) và độ khó tăng dần theo từng năm.

Dành cho năm thứ nhất

“Hạ Long biển nhớ” (Đỗ Hòa An)

“Trăng sáng đơi miền” (An Chung)

“Gặp nhau giữa rừng mơ” (Bảo Chung)

“Đường tôi đi dài theo đất nước” (Vũ Trọng Hối)

“Qua bến đò quan”, “Rặng trâm bầu”, “Khi Thành phố lên đèn”

(Thái Cơ)



129

“Nổi lửa lên em”, “Hoa mộc Miên” (Huy Du)

“Thơ Tình cuối mùa thu” (Phan Huỳnh Điểu)

“Đất nước tình u” (Lệ Giang)

“Đừng ví em là biển” (Trần Thanh Tùng)

Dành cho năm thứ hai:

“Bóng cây cơ nia” (Phan Huỳnh Điểu)

“Bài Ca Thống Nhất” (Võ Văn Di)

“Nhớ về q mẹ” (Vân Đơng)

“Vỗ bến lam chiều” (Trần Hồn)

“Xn chiến khu” (Xuân Hồng)

“Nghệ Tĩnh mình đây” (Tân Huyền)

“Trở về” của tác giả Lê Tự Minh (Nhạc: Tuấn Phương)

“Rừng xanh vang tiếng ta lư” (Phương Nam)

“Đàn Tranh mạ” của (Tuấn Phương)

“Hà Tĩnh quê mình” (Ngọc Thịnh)

“Nghe câu quan họ trên cao nguyên” (Vũ Thiết)

“Cô Gái Pa cô” (Huy Thục)

“Võ Thị Sáu” (Nguyễn Đức Toàn)

“Đường tàu mùa xuân” (Phạm Minh Tuấn)

“Hà Nội Huế sài gòn” (Hồng Vân)

“Cơ gái Sài Gòn đi tải đạn” (Lưu Nhất Vũ)

“Bác Hồ một tình yêu bao la” (Thuận Yến)...

Dành cho năm thứ ba

“Bài Ca hi vọng” (Văn Ký)

“Tiếng hò trên đất Nghệ An” (Tân Huyền)

“Người Châu Yên bắn máy bay” (Trọng Loan)

“Cô dân quân làng đỏ” (Nguyên Nhung)

“Tiếng Đàn Ta Lư” (Huy Thục)

“Người Con Gái Sông La” (Dỗn Nho)

“Sơng ơi đừng chảy” (Nguyễn Vĩnh Tiến)

“Mẹ u con” (Nguyễn Văn Tý)

Dành cho năm thứ tư

“Cơ gái vót chơng” (Hoàng Hiệp)

“Giấc mơ mùa lá”, “Ơi mẹ làng sen”, “Quê mẹ” (Trần Mạnh Hùng)

Hai aria “Cô Sao” của Đỗ Nhuận

“Tiếng chim rừng”; “Cánh chim báo tin vui” (Đàm Thanh)

“Bài Ca Hà Nội” (Vũ Thanh)

“Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi)

“Hoạ mi hót trong mưa” (Dương Thụ)

“Ở Rừng nhớ anh” (An Thuyên)

“Cảm ơn mẹ”, “Miền xa thẳm” (Đức Trịnh)



130

“Xa khơi” (Nguyễn Tài Tuệ)

Một số tác phẩm khác chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét và đề xuất vào

chương trình đào tạo để đảm bảo sự phù hợp.

Để đưa các ca khúc nói trên vào chương trình một cách hiệu quả chúng

tơi đã nghiên cứu, đánh giá nhằm sắp xếp theo thứ tự đảm bảo tính khoa học

và phù hợp với đặc điểm của người học. Chẳng hạn, nên bắt đầu đào tạo ca sĩ

bằng các tiết mục với âm điệu du dương, được trình diễn với nhịp điệu chậm.

Các tác phẩm được viết với nhịp điệu nhanh hơn cũng cần được học dần một

cách điềm tĩnh và không vội vã. Sự lạm dụng khả năng lên cao của giọng đặc

biệt ở giai đoạn đầu sẽ làm hỏng giọng của ca sĩ, dẫn đến tổn thương cơ quan

phát âm. Còn nếu khơng có kỹ năng và không luyện tập các kỹ thuật thường

xuyên sẽ cản trở sự phát triển một cách tự nhiên âm sắc đẹp của giọng hát,

làm mất đi sự rõ ràng trong phát âm lời bài hát, SV bắt đầu làm hỏng, nuốt từ

và bài hát mất đi nội dung và sự truyền cảm.

3.4. Tiêu chí kiểm tra đánh giá trong đào tạo giọng Colorature Soprano

chất lượng cao

Như chúng tôi đã trình bày, những SV giọng Colorature Soprano khi

được chọn lựa trong đào tạo chất lượng cao đã phải đạt một số tiêu chí căn

bản về giọng hát, kỹ thuật hát, cảm xúc... phải là những SV đạt loại xuất sắc

với điểm số từ 9,5 trở lên. Dựa trên những yếu tố này chúng tôi sẽ đánh giá

sinh viên giọng Colorature Soprano trên các tiêu chí sau:

Kỹ thuật hát: Với những yêu cầu về kỹ thuật thanh nhạc như Cantilena,

Staccato, Passage, Trillo, Crescendo, Diminuendo chúng tơi đã trình bày tại

phần 2.1.2 chương 2. Khi ứng dụng vào các tác phẩm thanh nhạc cụ thể SV

phải thể hiện được những yêu cầu đặt ra. Chẳng hạn, làm chủ hơi thở, khẩu

hình, vị trí âm thanh cộng minh khi hát. Hát kỹ thuật passage không bị mất

nốt, cả tác phẩm cần thể hiện âm thanh đều đặn đặc biệt khi hát luân phiên

nhiều kỹ thuật với nhau...



131

Sự chính xác trong tác phẩm. Bao gồm giai điệu, tiếu tấu, chỗ ngắt

nghỉ, phát âm nhả chữ... những vấn đề này ngoài thể hiện sự hiểu biết của SV

ở các môn học bổ trợ GV còn đánh giá được ý thức học tập của họ. Khi học

nghiêm túc, tự vỡ tác phẩm kỹ người học sẽ ít khi mắc phải những lỗi sai về

phát âm nhả chữ, giai điệu hay tiết tấu. Nếu học một cách đại khái, SV chỉ

nghe tác phẩm rồi học thuộc rất dễ dẫn tới sự thiếu chính xác. Đây là việc cần

tránh tuyệt đối với SV đào tạo chất lượng cao nói chung, giọng Colorature

Soprano nói riêng.

Khả năng biểu hiện cảm xúc: Những tác phẩm dành cho giọng

Colorature Soprano CLC thường là những tác phẩm rất khó, khơng chỉ ở giai

điệu, tiết tấu mà còn thể hiện ở cảm xúc. Người hát muốn thể hiện cảm xúc

thì phải hiểu nội dung tác phẩm đó là gì? Vui hay buồn, hiền hay dữ? Không

phải tác phẩm nhanh sẽ là vui và chậm là buồn... tất cả phải được biểu hiện

bằng cảm xúc khi hát aria đó. Tránh nhiều trường hợp, người hát thể hiện

gương mặt rất tươi nhưng thật chất nội dung tác phẩm phải là sự buồn sầu...

Bởi vậy, thể hiện đúng biểu cảm là điều rất quan trọng trong tiêu chí đánh giá

giọng Colorature CLC.

Khả năng diễn xuất: Trong đào tạo giọng Colorature Soprano CLC, SV

được học nhiều thể loại khác nhau như chương trình chúng tơi đã đề xuất.

Trong số đó, thể loại đòi hỏi phải có diễn diễn xuất đó là aria. Là những tác

phẩm thể hiện nhân vật cụ thể trong các vở nhạc kịch, Người hát ngồi cần

thể hiện giọng hát còn cần phải diễn được đúng tính cách của nhân vật. Chẳng

hạn, hát aria “Der Holle Rache” (Nữ hồng đêm tối) trích opera “Cây sáo

thần” của Mozart người hát phải thể hiện được sự tức giận của nhân vật,

không thể chỉ đơn thuần đứng và hát sao cho thật đúng kỹ thuật và giọng to

khỏe... như vậy khơng thể đạt tiêu chí của SV Colorature CLC.

Từ phân tích trên đây chúng tơi đã đưa ra tiêu chí đánh giá đối với

giọng Colorature Soprano như sau.



132

Bảng 3: Bảng đánh giá năng lực học tập SV

Kỹ thuật



Độ chính



hát



xác



4



Kỹ năng xử lý sắc thái,



4



Kỹ năng diễn



biểu cảm

1



xuất

1



Nhìn bảng trên cho thấy, chúng tôi đánh giá kỹ thuật hát và độ chính

xác trong tác phẩm là như nhau. Có kỹ thuật điêu luyện mà khơng có sự học

tập nghiêm túc, kiên trì thì khơng thể hướng tới tài năng đỉnh cao. Bởi vậy,

theo chúng tôi, ngay cả khi đã được lựa chọn trong đào tạo CLC nhưng quá

trình học SV khơng đạt được những tiêu chí đề ra thì sẽ bị loại khỏi chương

trình đào tạo này. Tiếp đó chúng tơi đề cao việc xử lý tác phẩm và kỹ năng

diễn xuất. Hai tiêu chí này đạt 2 điểm trong tổng 10 điểm đưa ra. Do vậy SV

cần đạt sự toàn diện cả về mặt cảm xúc, phong cách biểu diễn và đặc biệt phải

có ý trí phấn đấu và vươn lên trong học tập.

3.5. Hội nhập quốc tế trong đào tạo giọng Colorature Soprano chất lượng cao

Mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến 2020 của

Chính phủ đặt ra là: “Giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo

của mọi người, phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ; đào

tạo tài năng văn hoá, nghệ thuật; tạo cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất để

có nhiều sản phẩm văn hố, nghệ thuật CLC xứng tầm với dân tộc và thời

đại” [6. tr 15].

Nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc

tế về lĩnh vực TN trong thời gian tới. Chủ động hợp tác với các nước để đào

tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn âm nhạc đỉnh cao, đào tạo cán bộ chun

mơn trình độ cao để đào tạo và đào tạo lại. Chú trọng và đầu tư thoả đáng cho

việc đào tạo tài năng nghệ thuật biểu diễn cả ở trong và ngoài nước.



133

Như vậy, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo CLC, ngoài

việc đổi mới căn bản, toàn diện các vấn đề thuộc phạm vi đào tạo trong nước

thì hội nhập quốc tế là nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời.

Theo nghiên cứu của T.S Phạm Quốc Trụ, hội nhập quốc tế: “là quá trình

các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết với nhau dựa trên sự

chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật

chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế”. [99, tr. 4] Tại

HVANQGVN, nói riêng ngành TN, lãnh đạo nhà trường đã luôn coi trọng và

thúc đẩy vấn đề hội nhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu nhất định.

3.5.1. Những mặt thuận lợi trong công tác hội nhập quốc tế

Thực tiễn cho thấy, TN Việt Nam đã và đang có nhiều điều kiện thuận

lợi trong q trình hội nhập quốc tế cả ở góc độ đào tạo và biểu diễn, thể hiện

ở những khía cạnh sau:

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc cử và tạo điều kiện cho

các GV, đội ngũ cán bộ tham gia học tập, đào tạo tại nhiều Nhạc viện nổi

tiếng trên thế giới. Đây là cơ sở để có sự kế thừa, chuyển giao hoạt động đào

tạo trong nước hướng phù hợp với xu thế quốc tế hiện nay. Quan điểm của

Đảng và Nhà nước trong vấn đề hội nhập về văn hóa nói chung và lĩnh vực

âm nhạc nói riêng được đề cập nhiều trong các chính sách, đường lối, pháp

luật của nhà nước. Đề án 322 của Bộ GD&ĐT về việc cử cán bộ đi học tập tại

nước ngồi đã thể hiện tính kế thừa và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về

việc đào tạo cán bộ có năng lực tại các cơ sở ở nước ngồi bằng ngân sách

nhà nước. Gần nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

Số: 1437/QĐ-TT ngày 19 tháng 07 năm 2016 phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi

dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngồi đến năm 2030 thể hiện sự

quan tâm trong lĩnh vực đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này. Việc đa dạng

hóa các mơ hình đào tạo âm nhạc, trong đó có lĩnh vực TN trong giai đoạn

mới bao gồm: Đào tạo theo mơ hình chính quy; Mơ hình khơng chính quy

(chun tu, tại chức; Đào tạo những tài năng xuất sắc; Gửi đi đào tạo ở các cơ



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

×