Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM

Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



 Bán bn vận chuyển thẳng

+ Kế tốn bán bn vận chuyển thẳng theo phương pháp giao tay ba

Căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ kế toán ghi Nợ TK tiền mặt (111), tiền gửi

ngân hàng (112) hoặc phải thu của khách hàng (131) theo giá thanh tốn của hàng hóa

đã bao gồm cả thuế GTGT, đồng thời ghi Có TK doanh thu bán hàng (511) theo giá

chưa có thuế GTGT và ghi thuế GTGT phải nộp (3331). Căn cứ vào hóa đơn GTGT

hoặc hóa đơn bán hàng do nhà cung cấp lập, kế toán phản ánh GVHB: ghi Nợ TK giá

vốn hàng bán (632), ghi nợ TK thuế GTGT đầu vào nếu có (133), đồng thời ghi Có TK

tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112), phải trả người bán (331) theo giá mua đã có

thuế GTGT.

+ Kế tốn bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng

Khi DN mua hàng sau đó chuyển thẳng đi bán, căn cứ vào hóa đơn GTGT hoặc

hóa đơn bán hàng của nhà cung cấp, phiếu gửi hàng đi bán, kế toán ghi Nợ TK hàng

gửi bán (157) theo giá chưa có thuế GTGT, Nợ TK thuế GTGT đầu vào nếu có (133),

đồng thời ghi có TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112) hoặc phải trả người bán

(331), khi hàng gửi bán được xác định là đã tiêu thụ, kế toán ghi Nợ TK tiền mặt (111),

tiền gửi ngân hàng (112), phải thu khách hàng (131) theo giá bán đã có thuế GTGT,

đồng thời ghi Có TK doanh thu bán hàng theo giá chưa có thuế, Có TK thuế GTGT

đầu ra phải nộp (3331). Đồng thời phản ánh GVHB: ghi Nợ TK giá vốn hàng bán

(632), Có TK hàng gửi bán (157).

 Các trường hợp phát sinh trong q trình bán bn

+ Chiết khấu thanh toán: là khoản chiết khấu cho những khách hàng thanh toán

tiền hàng trước thời hạn ghi trong hợp đồng, chiết khấu thanh tốn được phản ánh vào

chi phí tài chính, kế tốn ghi Nợ TK chi phí tài chính (635) theo số chiết khấu cho

khách hàng, ghi Nợ TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112), ghi có TK phải thu

khách hàng (131) theo tổng số phải thu.

+ Chiết khấu thương mại: Khi bán bn có phát sinh khoản chiết khấu thương

mại giảm trừ cho khách hàng kế toán ghi Nợ TK chiết khấu thương mại (5211) theo số

chiết khấu cho khách hàng, ghi Nợ TK thuế GTGT phải nộp (3331) tính trên khoản

chiết khấu đồng thời ghi Có TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112) hoặc phải thu

của khách hàng (131) theo tổng số giảm trừ.

+ Giảm giá hàng bán: Khi có chứng từ xác định khoản giảm giá hàng bán cho

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



22



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



người mua về số lượng hàng đã bán kém chất lượng, phẩm chất, sai quy cách, hợp

đồng thì kế toán ghi Nợ TK giảm giá hàng bán (5213) theo giá bán chưa có thuế

GTGT, ghi Nợ TK thuế GTGT phải nộp (3331) tính trên giá trị hàng bán bị giảm giá,

ghi Có TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112), hoặc phải thu khách hàng (131)

theo giá thanh toán.

+ Hàng bán bị trả lại: Khi phát sinh hàng bán bị trả lại kế toán phản ánh doanh

thu hàng bán bị trả lại, ghi Nợ TK hàng bán bị trả lại (5212) theo giá bán hàng bị trả

lại chưa có thuế GTGT, ghi Nợ TK thuế GTGT phải nộp (3331) tính trên giá trị hàng

bị trả lại, ghi Có TK tiền mặt (111), tiền gừi ngân hàng (112), phải thu của khách hàng

(131) theo giá thanh toán của hàng bị trả lại.

Khi đơn vị chuyển hàng về nhập kho kế tốn ghi Nợ TK hàng hóa (156), TK

thành phẩm (155) theo giá vốn, ghi Có TK giá vốn (632).

Nếu đơn vị chưa chuyển hàng về nhập kho kế tốn ghi Nợ TK hàng gửi bán

(157), ghi có TK giá vốn (632) theo giá trị thực của hàng bị trả lại.

+ Kế tốn hàng thừa, thiếu trong q trình bán

Trường hợp hàng gửi đi bán phát sinh thiếu hàng hóa chưa xác định rõ ngun

nhân, kế tốn chỉ phản ánh DT theo số tiền bên mua chấp nhận thanh toán. Số hàng

thiếu chưa xác định nguyên nhân, kế toán ghi Nợ TK hàng thiếu chưa xác định nguyên

nhân (1381) theo giá trị hàng hóa thiếu, ghi Có TK hàng gửi bán (157)

Trường hợp phát sinh hàng thừa chưa rõ ngun nhân, kế tốn chỉ phản ánh

doanh thu theo hóa đơn bên mua đã chấp nhận thanh toán, phản ánh số hàng thừa kế

toán ghi Nợ TK hàng gửi bán (157) theo giá trị hàng thừa, ghi Có TK hàng thừa chưa

xác định rõ nguyên nhân (338)

 Kế toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa

Hàng ngày hoặc định kỳ khi nhận được bảng kê bán lẻ hàng hóa của nhân viên

bán hàng. Kế toán xác định giá bán chưa thuế, thuế GTGT đầu ra của hàng hóa đã tiêu

thụ. Trường hợp số tiền nhân viên bán hàng thực nộp phù hợp với doanh số bán ra thì

kế tốn tiến hành ghi sổ kế toán: ghi Nợ TK tiền mặt (111) theo tổng giá thanh tốn,

ghi Có TK doanh thu (511) theo giá bán chưa có thuế GTGT, ghi có TK thuế GTGT

phải nộp (3331) tính trên giá bán.

- Trường hợp số tiền nhân viên bán hàng thực nộp nhỏ hơn doanh số ghi trên

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



23



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



bảng kê bán lẻ hàng hóa, thì nhân viên bán hàng phải bồi thường, kế toán ghi Nợ TK tiền

mặt (111) ghi Nợ TK phải thu khác (1388) số tiền nhân viên bán hàng thiếu, ghi Có TK

doanh thu bán chưa thuế GTGT, ghi Có TK thuế GTGT phải nộp.

- Trường hợp số tiền nhân viên bán hàng thực nộp lớn hơn doanh số ghi trên bảng

kê bán lẻ hàng hóa thì khoản thừa được hạch toán vào thu nhập khác của doanh nghiệp, kế

toán ghi Nợ TK tiền mặt (111) theo tổng số tiền nhân viên bán hàng thực nộp, ghi Có TK

doanh thu bán hàng theo giá chưa có thuế GTGT, ghi Có TK thuế GTGT phải nộp, ghi Có

TK thu nhập khác (711) theo số tiền thừa.

Xác định giá vốn của số hàng bán kế toán ghi Nợ TK giá vốn (632) theo trị giá

thực tế của hàng bán, ghi Có TK hàng hóa (156), TK thành phẩm (155).

 Kế toán nghiệp vụ bán đại lý

Đối với đơn vị giao đại lý

- Khi đơn vị giao hàng cho cơ sở nhận đại lý: nếu đơn vị xuất kho hàng hóa để

giao đại lý kế tốn ghi Nợ TK hàng gửi bán (157), ghi Có TK hàng hóa(156), TK

thành phẩm (155) theo giá trị thực tế xuất kho. Nếu đơn vị mua hàng và giao thẳng cho

cơ sở nhận đại lý kế toán ghi Nợ TK hàng gửi bán (157) theo giá mua chưa thuế, Nợ

TK thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (133), ghi Có TK tiền mặt (111), tiền gừi ngân

hàng (112) hoặc phải trả người bán (331) theo tổng giá thanh toán.

-



Khi nhận được bảng thanh toán hàng bán đại lý, ký gửi do cơ sở nhận đại lý



lập và các chứng từ thanh toán, kế toán phản ánh doanh thu, hoa hồng đại lý dành cho

bên nhận bán hàng đại lý.

 Trường hợp bên nhận đại lý đã khấu trừ tiền hoa hồng, kế toán ghi Nợ TK tiền

mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112) theo số tiền thực nhận theo giá thanh toán, Nợ TK

chi phí bán hàng (6421) số tiền hoa hồng chưa có thuế GTGT, Nợ TK thuế GTGT

được khấu trừ tính trên số tiền hoa hồng (133), ghi Có TK doanh thu bán hàng theo giá

chưa thuế GTGT (511), Có TK thuế GTGT đầu ra phải nộp (3331).

 Trường hợp hoa hồng trả theo định kỳ (đơn vị nhận hàng đại lý khơng khấu

trừ ngay tiền hoa hồng), kế tốn ghi Nợ TK tiền mặt (111), tiền gừi ngân hàng (112)

hoặc khoản phải thu của khách hàng (131) theo giá bán đã có thuế của hàng hóa đã

bán, ghi Có TK doanh thu bán hàng theo giá bán chưa có thuế (511), ghi có TK thuế

GTGT đầu ra phải nộp (3331).



GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



24



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



- Khi thanh tốn tiền hoa hồng cho cơ sở đại lý, kế toán ghi Nợ TK chi phí bán

hàng (6421), Nợ TK thuế GTGT được khấu trừ tính trên tiền hoa hồng (133), ghi Có

TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112).

- Xác định giá vốn của số hàng gửi bán đã xác định tiêu thụ, kế tốn ghi Nợ TK

giá vốn (632), ghi Có TK hàng gửi bán (157) theo giá trị thực tế hàng gửi bán.

Đối với đơn vị nhận đại lý

- Khi nhận được hàng hóa do cơ sở giao đại lý chuyển đến, căn cứ vào biên bản

giao nhận kế toán ghi Nợ TK hàng hóa nhận bán hộ (003).

- Khi bán được hàng hóa căn cứ vào hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng và

các chứng từ liên quan.

 Trường hợp doanh nghiệp khấu trừ ngay tiền hoa hồng được hưởng, kế toán

ghi Nợ TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112) theo tổng số tiền thu được theo giá

thanh tốn, ghi Có TK doanh thu (5113) khoản hoa hồng được hưởng, Có TK thuế

GTGT phải nộp tính trên hoa hồng được hưởng (3331), Có TK phải trả người

bán(331) số còn phải trả cho bên giao đại lý,

 Trường hợp doanh nghiệp chưa khấu trừ hoa hồng được hưởng, kế toán ghi

Nợ TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112) số tiền theo giá thanh tốn, Có TK

phải trả cho bên giao đại lý (331).

- Khi tính và thanh toán tiền hoa hồng, kế toán ghi Nợ TK tiền mặt, tiền gửi

ngân hàng, ghi Có TK doanh thu bán hàng (5113) số tiền hoa hồng được hưởng, Có

TK thuế GTGT phải nộp tính trên khoản tiền hoa hồng được hưởng. Đồng thời ghi Có

TK hàng gửi bán (003) theo giá trị hàng hóa nhận đại lý đã xác định tiêu thụ.

- Khi thanh toán tiền cho bên giao đại lý, kế toán ghi Nợ TK phải trả người bán

(331) số tiền đã thanh tốn, ghi Có TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng (112).



 Kế toán bán hàng trả chậm, trả góp

Kế tốn phản ánh doanh thu bán hàng theo số tiền trả ngay chưa có thuế GTGT, ghi

Nợ TK phải thu khách hàng (131) theo số tiền còn phải thu, ghi Nợ TK tiền mặt (111) hoặc

tiền gửi ngân hàng (112) số tiền trả lần đầu, ghi Có TK doanh thu bán hàng (511) theo giá

bán trả tiền ngay chưa có thuế GTGT, ghi Có TK thuế GTGT phải nộp (3331), ghi Có TK

doanh thu chưa thực hiện được (3387) phần lãi trả góp.

Kế tốn xác định giá vốn hàng hóa đã bán trả góp, ghi Nợ TK giá vốn (632), ghi

Có TK hàng hóa (156), TK thành phẩm (155) theo trị giá vốn hàng xuất bán.

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



25



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



Định kỳ thu nợ khách hàng kế toán ghi Nợ TK tiền mặt (111), tiền gửi ngân hàng

(112), ghi Có TK phải thu của khách hàng (131). Đồng thời ghi nhận lãi trả góp vào

doanh thu hoạt động tài chính: ghi Nợ TK doanh thu chưa thực hiện (3387), ghi Có TK

doanh thu tài chính (515) theo số lãi từng kỳ.

1.2.2.3. Sổ kế tốn



- Mỗi đơn vị kế tốn chỉ có một hệ thống sổ kế tốn chính thức và duy nhất cho

một kỳ kế toán năm. DN phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại doanh

nghiệp và yêu câu quản lý để mở đủ các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế tốn chi tiết cân

thiết

Hình thức kế tốn Nhật ký chung: (phụ lục 01) Là hình thức ghi chép các

nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian, sau

đó căn cứ vào số liệu trên Sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế

toán phù hợp hay các sổ nhật ký đặc biệt.

- Hình thức Nhật ký chung gồm các sổ chủ yếu sau: Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật

ký đặc biệt, Sổ Cái, Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

- Theo hình thức này thì kế tốn bán hàng sử dụng các loại sổ sau:

+ Sổ nhật ký chung, sổ nhật ký bán hàng là sổ tổng hợp dùng để tập hợp các

nghiệp vụ bán hàng nhưng chưa thu tiền

+ Sổ nhật ký thu tiền ; dùng để tập hợp các nghiệp vụ thu tiền

+ Sổ cái : mở sổ cái cho các TK 511, TK 521,TK 156,…

+ Sổ chi tiết: gồm sổ chi tiết theo dõi doanh thu của từng loại, từng nhóm mặt

hàng,sổ chi tiết thanh tốn cơng nợ phải thu của khách hàng và sổ chi tiết thanh tốn

cho người mua thì phải mở chi tiết cho từng khách hàng

- Trình tự ghi sổ kế tốn theo hình thức Nhật ký chung

(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi

sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu đã

ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào sổ Cái theo các tài khoản kế toán phù hợp.

+ Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế tốn chi tiết thì đồng thời việc ghi vào sổ Nhật ký

chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán liên quan.

+ Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào các

chứng từ kế toán ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên quan. Định kỳ,

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



26



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



hoặc cuối tháng, tổng hợp từng sổ Nhật ký đặc biệt , lấy số liệu để ghi vào các tài

khoản phù hợp trên Sổ Cái, sau khi đã loại trừ sự trùng lặp.

(2) Cuối tháng, cuối kỳ, cuối năm, cộng số liệu trên Sổ Cái, lập Bảng cân đối

phát sinh. Sau khi kiểm tra đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên Sổ Cái và Bảng tổng

hợp chi tiết (được lập từ các Sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để làm Báo cáo tài

chính.

Hình thức kế toán nhật ký – sổ cái: (phụ lục 02) Là hình thức các nghiệp vụ

kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội

dung kế toán tổng hợp duy nhất là sổ nhật ký – sổ cái. Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ

Cái gồm các sổ chủ yếu sau: Nhật ký – Sổ Cái, các Sổ, thẻ kế tốn chi tiết

- Theo hình thức này thì kế tốn bán hàng sử dụng các loại sổ sau: sổ nhật ký sổ

cái, sổ chi tiết bán hàng, sổ chi tiết thanh tốn với người mua.

- Trình tự ghi sổ kế toán.

(1) Hàng ngày, kế toán căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp kế

toán chứng từ cùng loại (được lập cho những chứng từ cùng loại) đã được kiểm tra và

dùng làm căn cứ ghi sổ để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ Cái. Chứng từ kế toán và Bảng

tổng hợp kế toán chứng từ cùng loại sau khi đã ghi vào sổ Nhật ký – Sổ Cái, được

dùng để ghi vào Sổ, thẻ kế tốn chi tiết có liên quan.

(2) Cuối tháng, kế tốn tiến hành cộng toàn bộ số liệu của cột phát sinh ở phần

Nhật ký và các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần Sổ Cái để ghi vào dòng cộng

phát sinh cuối tháng, sau đó kế tốn tính tiếp ra số phát sinh lũy kế từ đầu quý đến cuối

tháng này (số phát sinh tháng này và số phát sinh các tháng trước), căn cứ vào số dư

đầu tháng, đầu quý và số phát sinh trong tháng, kế tốn tính ra số dư cuối tháng, cuối

q của từng tài khoản trên Nhật ký – Sổ Cái.

(3) Kiểm tra, đối chiếu số liệu cuối tháng trong sổ Nhật ký – Sổ Cái đảm bảo:

Tổng số tiền của cột

“phát sinh” ở phần Nhật ký



Tổng số dư Nợ các Tài khoản



=



Tổng phát sinh Nợ của

tất cả các Tài khoản

=



=



Tổng phát sinh Có của

tất cả các Tài khoản



Tổng số dư Có các Tài khoản



(4) Các sổ, thẻ kế toán chi tiết phải được khóa sổ để cộng số phát sinh và số dư

cuối tháng của từng đối tượng, căn cứ vào số liệu khóa sổ của các đối tượng lập Bảng

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



27



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



tổng hợp chi tiết cho từng tài khoản đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và

số dư cuối tháng của từng tài khoản trên Sổ Nhật ký – Sổ Cái.Số liệu trên Nhật ký – Sổ

Cái và trên Bảng tổng hợp chi tiết sau khi được khóa sổ, đối chiếu, kiểm tra, nếu khớp

đúng thì được sử dụng để lập Báo cáo tài chính.

Hình thức kế tốn chứng từ ghi sổ(phụ lục 03): Là hình thức căn cứ vào các

chứng từ ban đầu để ghi sổ kế toán tổng hợp, việc ghi sổ kế tốn tổng hợp gồm theo

trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ và ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái.

- Hình thức kế tốn chứng từ ghi sổ gồm các loại sổ kế toán chủ yếu sau: Chứng

từ ghi sổ, sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ Cái, các Sổ, thẻ kế toán chi tiết.

- Kế toán bán hàng sử dụng các sổ: sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái TK 511,

sổ cái TK 632, sổ chi tiết bán hàng, sổ chi tiết thanh tốn với người mua

- Trình tự ghi sổ

(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm tra và dùng làm

căn cứ ghi sổ kế toán lập Chứng từ ghi sổ, căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ

Đăng ký Chứng từ ghi sổ, sau đó thì ghi vào sổ Cái. Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi

vào sổ, thẻ kế tốn chi tiết có liên quan.

(2) Cuối tháng khóa sổ, kế tốn tính tổng số tiền các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, tổng số phát sinh Nợ, phát sinh Có và số dư của từng

tài khoản trên sổ Cái làm căn cứ để lập Bảng cân đối số phát sinh.

(3) Sau khi đối chiếu đúng khớp giữa sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết, làm căn

cứ để lập Báo cáo tài chính.

Hình thức kế tốn trên máy vi tính (phụ lục 04):Là hình thức mà cơng việc kế

tốn được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế tốn trên máy vi tính, phần

mềm kế tốn được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế tốn hoặc

kết hợp các hình thức kế tốn quy định trên.



GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



28



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



Chương II: THỰC TRẠNG VỀ KẾ TỐN BÁN HÀNG TẠI CƠNG TY CỔ

PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ QUỐC TẾ ABC



2.1. Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố mơi trường đến kế tốn bán

hàng

2.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế tốn bán hàng

Đối với hoạt động kinh doanh của DNTM, bán hàng giữ vai trò quyết định đến

hiệu quả kinh doanh. Đẩy mạnh bán hàng sẽ góp phần làm tăng doanh thu, qua đó làm

tăng lợi nhuận và doanh nghiệp có điều kiện tích lũy và mở rộng quy mơ sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng được thực hiện tốt còn giúp doanh

nghiệp hồn thành nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội, đồng thời cải thiện đời sống của

người lao động. Do tầm quan trọng của kế tốn bán hàng trong DNTM nên đã có rất

nhiều bài nghiên cứu khoa học, tiểu luận, khóa luận tìm hiểu về đề tài này. Sau đây em

xin trình bày những kết luận và đề xuất nhằm hồn thiện kế tốn bán hàng mà hai bài

Khóa luận tốt nghiệp sau đã đưa ra.

 Đề tài thứ nhất là Đề tài Khóa luận tốt nghiệp “Kế toán bán hàng mặt hàng

biển quảng cáo tại Công Ty TNHH Quảng cáo in ấn Mỹ Thuật TQ” do bạn Nguyễn

Thị Hạnh, khoa Kế toán – Kiểm toán, trường Đại học Thương mại thực hiện năm

2015.

Sau q trình thực tập và nghiên cứu tại Cơng ty TNHH Quảng cáo in ấn Mỹ

Thuật TQ, bạn Nguyễn Thị Hạnh đã phát hiện ra những hạn chế trong kế tốn bán

hàng tại Cơng ty TNHH Quảng cáo in ấn Mỹ Thuật TQ. Dựa trên những lý luận chung

về kế toán bán hàng trong DNSXTM, bạn Nguyễn Thị Hạnh đã đưa ra được những

giải pháp nhằm cải thiện kế toán bán mặt hàng biển quảng cáo tại Công ty TNHH

Quảng cáo in ấn Mỹ Thuật TQ. Sau đây em xin trình bày những hạn chế và giải pháp

mà bạn Nguyễn Thị Hạnh đã nêu trong Đề tài Khóa luận tốt nghiệp “Kế toán bán

hàng mặt hàng biển quảng cáo tại Công Ty TNHH Quảng cáo in ấn Mỹ Thuật TQ”

- Những hạn chế đã được nêu trong Đề tài Khóa luận tốt nghiệp “Kế toán bán

hàng mặt hàng biển quảng cáo tại Công Ty TNHH Quảng cáo in ấn Mỹ Thuật

TQ”:

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



29



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



+ Thứ nhất: Bộ máy kế tốn của cơng ty có 3 nhân viên, do ít người nên các nhân

viên kế toán này phải kiêm nhiệm khá nhiều cơng việc so với mức trung bình ở một

cơng ty có quy mơ và tính chất kinh doanh tương tự. Đặc điểm này gây một sức ép lớn

đối với cơng tác kế tốn của cơng ty.

+ Thứ hai: để thúc đẩy hoạt động bán hàng công ty áp dụng hình thức thanh tốn

trực tiếp và thanh tốn trả chậm. Hiện nay, rất nhiều thành phẩm được bán chịu, thực

tế tại công ty hay phát sinh nợ quá hạn tuy nhiên trong cơng tác kế tốn, cơng ty vẫn

chưa thực hiện trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi trong khi cơng ty đủ khả năng

để bù đắp chi phí dự phòng. Vì vậy, khi xảy ra việc mất khả năng thu hồi nợ thì việc

phản ánh doanh thu bán hàng của công ty sẽ không đảm bảo tính chính xác và hợp lý.

+ Thứ ba, về chính sách chiết khấu: Cơng ty vẫn chưa có chính sách chiết khấu

thương mại cho những hợp đồng có giá trị lớn cho khách hàng. Đây là một trong

những điều cần bổ sung vào chính sách bán hàng của cơng ty để thúc đẩy tiêu thụ.

+ Thứ tư, về tài khoản phải thu khách hàng: Công ty vẫn chưa hạch toán chi tiết

tài khoản phải thu khách hàng cho từng khách hàng nên việc quản lý công nợ chưa

được chặt chẽ.

- Các giải pháp đã được bạn Nguyễn Thị Hạnh nêu ra:

+ Giải pháp thứ nhất : Về vận dụng tài khoản kế tốn

Kế tốn Cơng ty cần mở thêm các tài khoản chi tiết cho từng mặt hàng cụ thể, để

tiện cho việc theo dõi và phản ánh doanh thu, cũng như giá vốn hàng bán và khoản

phải thu của khách hàng. Đối với nhóm hàng biển quảng cáo, có nhều loại biển khác

nhau nên cơng ty nên mở chi tiết hơn nữa TK 5112 “ Doanh thu bán thành phẩm” để

cho biết loại sản phẩm nào được ưa chuộng nhiều hơn, tiện hơn cho việc theo dõi và

quản lý.

Ví dụ: TK 5112 sẽ được mở chi tiết thành:

TK 5112.1: Doanh thu bán biển bạt

TK 5112.2: Doanh thu bán đề can, biểu tượng quảng cáo

TK 5112.3: Doanh thu bán biển mica

TK 5112.4: Doah thu bán pano quảng cáo

TK 5112.5: Doanh thu bán các loại biển khác



GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



30



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



Đồng thời, Công ty cũng nên mở thêm tài khoản chi tiết cho tài khoản 632 “ giá

vốn hàng bán” cho từng loại thành phẩm tương ứng. Vì có như vậy kế toán mới theo

dõi và phản ánh kịp thời đầy đủ nhất về DT cũng như giá vốn hàng bán và lợi nhuận

của từng mặt hàng cụ thể. Từ đó, Cơng ty có thể đưa ra được những chiến lược kinh

doanh cụ thể và có kế hoạch nhập nguyên vật liệu cho phù hợp với sản xuất.

+ Giải pháp thứ hai: Thiết lập các khoản chiết khấu thương mại.

Cơng ty nên có nhiều chính sách ưu đãi hơn với những khách hàng quen hoặc

những khách hàng lớn. Cuối quý, công ty nên tổng hợp giá trị các hợp đồng của khách

hàng để xác định xem khách hàng nào là lớn nhất để có một hình thức ưu đãi phù hợp

hoặc đối với một hợp đồng lớn có thể thưởng cho người ký hợp đồng hay người giới

thiệu hợp đồng một tỷ lệ hoa hồng nào đó tùy theo giá trị hợp đồng.

Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, việc thực

hiện những hình thức ưu đãi hợp lý, linh hoạt trong bán hàng sẽ là cơng cụ rất hữu ích

để thu hút khách hàng, tăng cường khả năng tiêu thụ hàng hóa, góp phần tăng lợi

nhuận cho doanh nghiệp.

Trường hợp chiết khấu cho khách hàng trong ngay lần mua đầu thì khoản chiết

khấu thương mại nên thể hiện ngay trên hóa đơn GTGT bán hàng. Kế toán căn cứ vào

hợp đồng kinh tế, ghi giá bán phản ánh trên hóa đơn là giá đã giảm giá ( đã trừ chiết

khấu thương mại). Do đó khoản chiết khấu thương mại này khơng cần phải hạch toán

trên TK 5211 nữa. Kế toán hạch toán nghiệp vụ bán sản phẩm như bình thường, doanh

thu bán hàng phản ảnh theo giá đã trừ chiếu khấu.

+ Giải pháp thứ ba: Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.

Trong kinh doanh việc ln chuyển vốn nhanh là rất quan trọng đối với tình hình

phát triển của doanh nghiệp. Do vậy, DN bị chiếm dụng vốn đã gây ảnh hưởng nhất

định tới kết quả kinh doanh của công ty. Chính vì vậy, cơng ty nên trích lập dự phòng

nợ phải thu khó đòi bởi lợi ích mà nó mang lại.

 Đề tài thứ hai là Đề tài Khóa luận tốt nghiệp “Kế tốn bán nhóm hàng thép

tại Cơng ty cổ phần thương mại thép Trần Long” do bạn Bùi Thị Dung, khoa Kế

toán – Kiểm toán, trường Đại học Thương mại thực hiện năm 2015.

-



Trong bài Khóa luận tốt nghiệp “Kế tốn bán nhóm hàng thép tại Cơng ty



cổ phần thương mại thép Trần Long” bạn Bùi Thị Dung đã nêu lên được những hạn

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



31



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Đại Học Thương Mại



Khóa luận tốt nghiệp



chế còn tồn tại trong kế tốn bán nhóm hàng thép tại Công ty cổ phần thương mại thép

Trần Long như sau:

+ Về phương thức bán hàng: Hiện nay công ty mới chỉ thực hiện phương thức

bán buôn qua kho và bán lẻ. Đây là hình thức bán hàng có độ tin cậy cao nhưng khơng

linh hoạt trong cơ chế thị trường hiện nay, đặc biệt là khi công ty bán hàng cho các

khách hàng ở xa (ngoại tỉnh) thi chi phí bán hàng rất lớn. Với mục tiêu không ngừng

mở rộng thị trường về cả chiều rộng và chiều sâu thì việc chỉ áp dụng phương thức

như vậy là chưa đạt hiệu quả.

+ Về kế toán các khoản giảm trừ doanh thu: Các khoản chiết khấu thương mại

và giảm giá hàng bán phát sinh tại Cơng ty thì khơng được thể hiện trên hóa đơn

GTGT. Cơng ty chỉ thực hiện việc chiết khấu và giảm giá cho khách bằng miệng, trên

hợp đồng mua bán thì giá bán chính là giá đã giảm hoặc được chiết khấu mà không thể

hiện % giảm giá hoặc chiết khấu. Chiết khấu thương mại mà khơng được thể hiện trên

hóa đơn GTGT thì không được coi là chiết khấu thương mại. Báo cáo kết quả kinh

doanh của Công ty, các khoản giảm trừ Doanh thu bằng 0, trong khi trong năm có phát

sinh các khoản giảm trừ, như vậy là phản ánh không chính xác tình hình kinh doanh

của cơng ty.

Theo Khoản 2.5 Phụ lục 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ

Tài chính quy định: “Hàng hóa, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại

dành cho khách hàng thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại

dành cho khách hàng, thuế GTGT, tổng giá thanh tốn đã có thuế GTGT. Nếu việc

chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền

chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch

vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi

kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm

bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa

đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu

ra, đầu vào”.

Nghĩa là trên Hóa đơn GTGT của hàng bán ra, có thể chỉ ghi giá hàng bán theo

giá đã giảm so với Báo giá thép hình, tấm, lá mà không thể hiện phần chiết khấu giảm

GVHD: ThS. Vũ Thị Thu Huyền



32



SVTT: Dư Thị Hải Yến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×