Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Công tác định hướng học tập

Công tác định hướng học tập

Tải bản đầy đủ - 0trang

84



bước chân vào một trường đại học, chắc chắn rằng học sinh sẽ khá bỡ ngỡ với một

phương pháp học mới, khơng giống như học phổ thơng. Bên cạnh đó, khi bắt đầu

vào đại học, điều đầu tiên mà sinh viên mong muốn đó là được tiếp cận với một

mơi trường học tập mới, tự do hơn, khoa học hơn và có cơ hội tìm hiểu sâu hơn

một mơn khoa học mà họ u thích. Do đó, các Khoa tại trường Văn Lang đã tổ

chức các buổi gặp mặt tân sinh viên hướng dẫn sinh viên các phương pháp học tập,

tự nghiên cứu, kinh nghiệm học tập, giới thiệu mục tiêu đào tạo, chương trình học

rõ ràng. Thơng qua các buổi hướng dẫn đó, sinh viên sẽ được giải đáp các thắc mắc

ban đầu như “Ngành đó sẽ học ra sao?, Người làm nghề đó cần tố chất gì? Trong 4

đến 5 năm đại học mình sẽ được học gì? Cơ hội việc làm khi tốt nghiệp?”. Qua đó,

giúp sinh viên giúp sinh viên định hướng cách học, tiếp thu các vấn đề khoa học

một cách logic, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Trong nhân tố này vấn đề

“tổ chức các buổi tư vấn về phương pháp học tập giúp sinh viên định hướng rõ

ngành học” là vấn đề mà sinh viên đánh giá thấp nhất. Điều này cũng có thể cho

thấy tuy nhà trường và Khoa có tổ chức các buổi gặp mặt như thế nhưng vẫn còn ít

và chủ yếu diễn ra vào đầu năm học, nhiều sinh viên lại không tham gia nên khi vào

học khơng tránh khỏi bỡ ngỡ và cảm thấy khó khăn trong việc thích nghi với cách

học mới ở bậc đại học.

Bên cạnh việc định hướng về ngành học cho các em, nhà trường còn chủ

động tổ chức các buổi hội thảo hướng nghiệp, việc làm được tổ chức từ cấp Khoa

tới cấp trường. Tại đây, sinh viên được gặp gỡ nhà tuyển dụng, học hỏi kinh nghiệm

về các kỹ năng xin việc và hình dung được cơng việc của nghề mà mình đã chọn.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay các trường đại học chưa chú trọng đến đào

tạo các kỹ năng mềm cho người học và Văn Lang cũng khơng nằm ngồi ngoại lệ

đó. Cụ thể là các buổi tổ chức còn hạn hẹp ở các Khoa, chưa có sự phối hợp với

Đồn – Hội.



85



Để nắm được tình hình việc làm của sinh viên, và cũng để biết được nhu cầu

việc làm trên thị trường lao động. Hằng năm, các Khoa đều tổ chức khảo sát việc

làm sinh viên sau một năm tốt nghiệp, cụ thể vào năm 2012 một số Khoa đã khảo

sát số sinh viên có việc làm phù hợp với chuyên ngành, lĩnh vực được đào tạo như

sau:



86



Bảng 4.24 Thống kê sinh viên có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào

tạo (tại một số Khoa)

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11



Khoa

Tỷ lệ (%)

Ghi chú

Công nghệ Thông tin

97.5

Công nghệ và Quản lý Môi trường

60.2

Du lịch

67.6

Kỹ thuật Nhiệt Lạnh

100

Mỹ thuật Công nghiệp

82

Ngoại ngữ

70

Quan hệ Công chúng và Truyền thông

71.3

Quản trị Kinh doanh

76.5

Kế tốn Kiểm tốn

84.8

Tài chính Ngân hàng

68.5

Thương mại

59

(Nguồn: Ban kiểm định chất lượng đào tạo trường ĐHDL Văn Lang)



Mặc dù tỷ lệ việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo còn do sinh viên

chủ động chọn trái ngành mà mình thích, hoặc do gia đình có người làm trong

ngành hoặc do cơ hội việc làm có thu nhập cao nhưng nhà trường cũng nên xem

xét đến sự phù hợp của chương trình đào tạo đáp ứng với yêu cầu và nhu cầu lao

động ngày càng cao của xã hội.

Ngoài việc đảm bảo cung cấp chất lượng đào tạo cho người học nhà trường

còn có các chính sách hỗ trợ cho người học theo quy định của Bộ giáo dục đào tạo

và theo quy định riêng của trường, cụ thể sinh hoạt và hướng dẫn người học thực

hiện các Chính sách miễn giảm học phí, chính sách vay vốn ngân hàng, kêu gọi sinh

viên mua Bảo hiểm y tế (bắt buộc) đề phòng trường hợp rủi ro trong cuộc sống…

Ngồi ra, trường còn gây quỹ “Gia Đình Văn Lang” để hỗ trợ các hồn cảnh khó

khăn. Vào những đợt bão lụt trong năm, trường đã chủ động rà soát các đối tượng

sinh viên có gia đình khó khăn nằm trong vùng thiên tai để hỗ trợ nhằm giúp đỡ

phần nào khó khăn cho các em, giúp các em yên tâm học hành. Tuy nhiên, để tránh

tình trạng bỏ sót các trường hợp cần hỗ trợ, nhà trường cần giành nhiều thời gian

cho các Khoa trong qua trình rà sốt đúng đối tượng hỗ trợ.



87



Qua phân tích trên, ta thấy việc định hướng học tập cho sinh viên ngay từ

đầu là việc làm cần thiết, và điều đó cũng hình thành cho sinh viên ý thức học tập

trong quãng đời sinh viên.

4.7.5 Nhân tố Mức độ tin cậy

Bảng 4.25 Giá trị trung bình các biến của nhân tố Mức độ tin cậy

Các phát biểu

REL1_ Trường luôn thực hiện theo đúng kế hoạch giảng dạy (chương

trình đào tạo, thời khóa biểu, lịch thi…).

REL2_ Các thơng báo của trường (Đồn, Hội và hoạt động ngoại

khóa…) ln chính xác, kịp thời và đáng tin cậy.

REL3 _Nhà trường thực hiện đúng các cam kết với sinh viên (chính

sách học phí, chất lượng đào tạo…)

REL7 _Giảng viên thực hiện theo đúng kế hoạch đào tạo (đề cương,

thời khóa biểu).

RES1_ Các tiêu chí đánh giá về kết quả học tập, kết quả rèn luyện

luôn được hướng dẫn cụ thể cho sinh viên đầu năm học.

Trung bình



Giá trị trung

bình

4.19

3.68

4.29

3.79

4.05

4.0000



Nhân tố Mức độ tin cậy được hình thành từ 5 biến quan sát là (1) Trường

luôn thực hiên theo đúng kế hoạch giảng dạy, (2) Các thông báo của trường ln

chính xác, kịp thời và đáng tin cậy, (3) Nhà trường thực hiện đúng các cam kết với

sinh viên, (4) Giảng viên thực hiện theo đúng kế hoạch đào tạo, (5) Các tiêu chí

đánh giá về kết quả học tập, kết quả rèn luyện luôn được hướng dẫn cụ thể cho

sinh viên đầu năm học.

Đây là nhân tố được sinh viên đánh giá cao nhất (trung bình = 4.0000).

Trong đó,việc “Nhà trường thực hiện đúng các cam kết với sinh viên” được sinh

viên hài lòng ở mức độ rất cao. Điều này khẳng định rằng trường luôn thực hiệc

đúng cam kết đã nêu ra với sinh viên. Cụ thể, chính sách học phí được cơng bố một



88



lần từ đầu khóa học, và khơng tăng trong suốt khóa học. Ngồi học phí ra, sinh viên

khơng phải đóng thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Chính sách học phí minh bạch

và ổn định này giúp phụ huynh, sinh viên yên tâm và chủ động lập kế hoạch tài

chính cho những năm học tại trường.

Các thông tin về đào tạo: kế hoạch đào tạo, điều kiện dự thi, điều kiện tốt

nghiệp … (được sinh viên đánh giá cao) đều được Khoa thông báo trong tuần đầu

tiên của mỗi học kỳ. Các tiêu chí về đánh giá kết quả học tập, rèn luyện đều được

giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn hướng dẫn cụ thể. Bên cạnh đó, các bạn

sinh viên còn được phát Cẩm nang sinh viên đầu mỗi năm học để sinh viên có thể

tra cứu những thơng tin cơ bản về trường, về những hướng dẫn học tập, rèn luyện

để đạt kết quả tốt nhất khi theo học tại trường. Với những kế hoạch cụ thể và ổn

định, sinh viên có thể chủ động sắp xếp thời gian học tập theo kế hoạch và có thể

sắp xếp thời gian làm thêm. Tuy nhiên, các thơng báo về Đồn-Hội, hoạt động

ngoại khóa lại chưa được sinh viên hài lòng ở mức cao so với các yếu tố khác. Đó là

do chưa có sự phối hợp giữa Ban chấp hành Đồn Khoa với cán bộ công tác sinh

viên, giữa Ban chấp hành Đoàn Khoa với BCH chi đoàn các lớp làm cho các thơng

báo trở nên chậm trễ. Vì thế nên có sự liên kết trong các hoạt động của Đồn

trường với Khoa.

Sinh viên khá hài lòng với việc thực hiện kế hoạch đào tạo của giảng viên,

tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng một số giáo viên đến lớp còn trễ, điểu này dễ gây

ra việc mất hứng thú ở buổi học đó và dễ làm cho sinh viên tâm lý chán nản.

Nhìn chung, sinh viên đánh giá cao ở mức độ tổng thể về phía nhà trường,

nhưng chưa cao nếu đi vào chi tiết các tiêu chí cụ thể.

4.8 Tóm tắt chương 4

Chương 4 trình bày về kết quả kiểm định thang đo, giả thuyết nghiên cứu.

Thông qua kiểm định Cronbach Alpha, 2 biến RES10 và TAN 10 bị loại do tương

quan biến tổng < 0.3. Kết quả EFA cho thấy thang đo chất lượng dịch vụ tại trường



89



Đại học Văn Lang có 7 thành phần: (1) Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính, (2) Cơ

sở vật chất của nhà trường, (3) Môi trường học tập, (4) Công tác định hướng học

tập, (5) Mức độ tin cậy, (6) Công tác hỗ trợ học tập, (7) Công tác phục vụ học

đường; thang đo sự hài lòng của sinh viên gồm 5 biến quan sát.

Kết qua phân tích hồi quy cho thấy chỉ còn 5 nhân tố là (1) Mức độ đáp ứng

cơng tác hành chính, (2) Cơ sở vật chất của nhà trường, (3) Môi trường học tập, (4)

Công tác định hướng học tập, (5) Mức độ tin cậy. Trong các yếu tố tác động đến sự

hài lòng của sinh viên, yếu tố Mức độ tin cậy có tác động mạnh nhất đến sự hài

lòng của sinh viên (Beta = 0.229). Tiếp theo là hai yếu tố Môi trường học tập và

Cơng tác định hướng học tập có tác động gần như nhau (Beta = 0.214 và Beta =

0.211). Kế đến là yếu tố Cơ sở vật chất của nhà trường (Beta = 0.131) và tác động

kém nhất là yếu tố Mức độ đáp ứng công tác hành chính (Beta = 0.102). Bên cạnh

đó, tác giả cũng thảo luận các kết quả nghiên cứu về 5 nhân tố trên.

Ngồi ra, Chương 4 cũng trình bày các kết quả kiểm định ANOVA để xem xét

ảnh hưởng của các biến định tính (giới tính, năm học, Khoa đào tạo) đối với sự hài

lòng. Kết quả cho thấy khơng có sự khác biệt về mức độ hài lòng đối với chất lượng

dịch vụ đào tạo theo giới tính và theo năm học, tuy nhiên có sự khác biệt về mức

độ hài lòng đối với chất lượng dịch vụ đào tạo theo Khoa đào tạo.

Tiếp theo, trong chương 5 tác giả sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao

chất lượng dịch vụ đào tạo tại trường Đại học Văn Lang. Bên cạnh đó, tác giả cũng

nêu những hạn chế của đề tài.



90



CHƯƠNG 5

KẾT LUẬN VÀ NHỮNG HÀM Ý CHO NHÀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI

HỌC VĂN LANG

5.1 Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được bắt đầu từ mục tiêu đã trình bày ở phần mở đầu và với

việc nghiên cứu các lý thuyết về chất lượng dịch vụ, thang đo chất lượng dịch vụ,

các nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ đào tạo tác động đến sự hài lòng

của sinh viên. Tác giả đã sử dụng thang đo SERVPERF với 5 thành phần gồm: mức

độ tin cậy, mức độ đáp ứng, năng lực phục vụ, mức độ cảm thông, phương tiện

hữu hình để đo lường cảm nhận của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo tại

trường Đại học Văn Lang.

Qua kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, từ 47

biến quan sát ban đầu, thang đo chất lượng dịch vụ đào tạo còn 32 biến quan sát

với 7 thành phần: (1) Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính, (2) Cơ sở vật chất của

nhà trường, (3) Môi trường học tập, (4) Công tác định hướng học tập, (5) Mức độ

tin cậy, (6) Công tác hỗ trợ học tập, (7) Công tác phục vụ học đường. Thang đo sự

hài lòng của sinh viên vẫn giữ ngun 5 biến.

Qua phân tích hồi quy, chỉ còn 5 thành phần và đây cũng chính là 5 nhân tố

tác động đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo tại trường Đại

học dân lập Văn Lang. Mức độ tác động của 5 nhân tố được sắp xếp theo thứ tự

giảm dần từ mạnh nhất đến yếu nhất: Mức độ tin cậy (β= 0.229), Môi trường học

tập (β= 0.214), Công tác định hướng học tập (β= 0.211), Cơ sở vật chất của nhà

trường (β= 0.131), Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính (β= 0.102).

Để kiểm định khác biệt về sự hài lòng theo đặc điểm cá nhân, tác giả đã sử

dụng phương pháp kiểm định One way ANOVA. Kết quả phân tích cho thấy có sự



91



khác biệt trong cảm nhận về sự hài lòng của sinh viên theo từng Khoa nhưng khơng

có sự khác biệt về sự hài lòng của sinh viên theo giới tính và năm học.

5.2 Những hàm ý cho nhà quản trị trường ĐH Văn Lang

Kết quả phân tích cho thấy có những nhân tố tác động khá tốt đến sự hài

lòng của sinh viên chính quy trường Đại học dân lập Văn Lang. Đạt được những

thành tựu nhất định làm sinh viên hài lòng là một việc làm khó khăn và lâu dài của

trường Văn Lang từ những ngày đầu thành lập trường cho đến nay. Tuy nhiên để

bảo vệ được những thành tựu đó lại là một việc làm khó khăn hơn gấp bội, nó đòi

hỏi khơng chỉ Ban lãnh đạo trường, Ban chủ nhiệm Khoa, mà còn đòi hỏi tất cả cán

bộ nhân viên, giảng viên của trường cùng nỗ lực đóng góp cơng sức vào hoạt động

nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo của nhà trường.

Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những hạn chế cần được khắc

phục, điều chỉnh để cho hoạt động đào tạo của nhà trường ngày càng hoàn thiện

hơn, đáp ứng được nhu cầu của sinh viên ở mức độ cao nhất. Từ những kết quả

nghiên cứu, những quan điểm cá nhân, tác giả mạnh dạn đưa ra một số đề xuất

theo thứ tự ưu tiên như sau:

5.2.1 Về tăng cường cơ sở vật chất

Mục tiêu:

Tăng cường trang thiết bị phục vụ học tập chuyên ngành và nghiên cứu cho

sinh viên. Ngoài ra, tăng cường các thiết bị nghe nhìn phục vụ cơng tác dạy và học.

Phòng học đảm bảo độ thơng thống với số lượng bàn học cần thiết, hệ

thống âm thanh, ánh sáng phục vụ chuyên nghiệp.

Nội dung:

Nâng cấp phòng học tại cơ sở 1 để giúp phòng học trở nên thơng thống

hơn, từ đó cải thiện điều kiện phòng học bằng cách trang bị hệ thống máy lạnh,

giảm số lượng bàn ghế trong mỗi phòng học, hiện nay do phòng học nhỏ mà số

lượng sinh viên đơng nên bàn ghế được bố trí sát nhau làm cho việc di chuyển của



92



sinh viên và giảng viên trở nên khó khăn. Trang bị hệ thống micro khơng dây cho

mỗi phòng học tạo thuận tiện cho giáo viên trong việc giảng bài và sinh viên trao

đổi ý kiến với giáo viên. Trang bị hệ thống âm thanh phù hợp với các giảng đường,

cụ thể giảng đường C001, C007 tại cơ sở 2 của trường.

Cần đầu tư xây dựng mới khu nhà B và E của cơ sở 2, đây là 2 khu nhà đã có

từ lúc trường xây khu nhà C. Hai khu nhà này cũng đã cũ và ln trong tình trạng

phải sữa chữa. Việc xây mới 2 khu nhà này sẽ giúp cho các phòng học tại đây trở

nên thống và sáng hơn, đồng thời cũng có thể mở thêm phòng đọc cho thư viện

tại đây và có thể xây thêm tầng hầm giữ xe để giải quyết tình trạng thiếu chỗ để xe

hiện nay.

Đối với các phòng học thực hành (máy tính, may, mơi trường, sinh học...):

cần rà soát lại các thiết bị phục vụ chuyên ngành, để có thể đầu tư mua mới các

trang thiết bị phù hợp với nhu cầu thực hành ngày càng cao và đáp ứng được nhu

cầu xã hội, phù hợp với tính ứng dụng cao của thị trường lao động.

Thuê sân bãi để phục vụ cho việc học giáo dục thể chất, sinh hoạt thể thao

như sân bóng đá, bóng chuyền để sinh viên có sân chơi giải trí lành mạnh.

Bên cạnh việc đầu tư mua mới, bổ sung và nâng cấp nhà trường nên thường

xuyên định kỳ lấy ý kiến phản hồi và đóng góp từ phía giảng viên và sinh viên về cơ

sở vật chất của trường để kịp thời đưa ra giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu

quả của công tác dạy và học.

Trong tương lai, khi xây dựng cơ sở 3 của trường tại Gò Vấp thì trường nên

xây thêm tầng hầm để xe và một tòa nhà dành làm thư viện để phục vụ nhu cầu

học tập và nghiên cứu của sinh viên.

Trường Đại học Văn Lang là một trường ngồi cơng lập nên nguồn thu ngập

chủ yếu dựa vào nguồn học phí của sinh viên, do đó kinh phí đầu tư xây dựng

trường cũng có hạn. Tuy nhiên, Lãnh đạo trường nên chủ động tìm kiếm nguồn

đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, huy động vốn từ cán bộ, giảng



93



viên, nhân viên của trường, từ cổ đơng...để hồn thiện hơn về cơ sở vật chất đáp

ứng nhu cầu học tập của sinh viên.

Hiệu quả:

Nếu trang bị được các thiết bị hiện đại, xây mới, nâng cấp các phòng học

phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu của giảng viên cũng như sinh viên sẽ giúp

cho sinh viên yên tâm học tập, phát huy được tinh thần học tập của sinh viên, nâng

cao được chất lượng bài giảng của giảng viên. Từ đó, chất lượng dịch vụ đào tạo sẽ

nâng cao hơn và mức độ hài lòng của sinh viên cũng sẽ tốt hơn.

Cơ sở vật chất được đầu tư tốt, khang trang, hiện đại sẽ giúp cho sinh viên

khi ra trường có thể làm chủ cơng nghệ tại nơi làm việc, ngồi ra nó cũng sẽ nâng

cao thương hiệu của nhà trường.

5.2.2 Về tăng cường mức độ đáp ứng cơng tác hành chính

Mục tiêu

Quy trình về các thủ tục hành chính rõ ràng, dễ hiểu. Bộ máy hoạt động của

trường được phối hợp nhịp nhàng, uyển chuyển và linh hoạt khi nhân viên hiểu rõ

cơng việc của mình, có trình độ chun mơn sâu trong lĩnh vực cơng tác đồng thời

có thể phối hợp với các bộ phận khác khi cần.

Nội dung

Hằng năm, trường nên tổng kết và xem xét lại cơng tác quản lý tiến trình

cung cấp dịch vụ từ đó xây dựng một hệ thống các quy định, thủ tục hành chính về

các hướng dẫn bằng văn bản, giấy tờ một cách rõ ràng và rành mạch. Qua đó, có

thể cải tiến được quy trình về các thủ tục hành chính. Ngồi ra, trường nên đưa ra

quy trình hướng dẫn cấp các loại giấy tờ cho sinh viên bằng các mơ hình, từ mơ

hình đó sinh viên có thể biết mình sẽ gặp ai, bộ phận nào để làm các thủ tục hành

chính. Và quy trình bằng mơ hình này cũng nên đưa vào quyển “Cẩm nang sinh

viên”, giúp sinh viên tra cứu một cách dễ dàng.



94



Định kỳ nên tổ chức đánh giá chất lượng phục vụ các dịch vụ trong nhà

trường, có thể thơng qua ý kiến đánh giá của sinh viên. Cứ mỗi cuối học kỳ, trường

đều tổ chức cho sinh viên đánh giá kết quả giảng dạy của giảng viên thông qua

‟phiếu 19”. Tuy nhiên, về đánh giá chất lượng phục vụ của nhân viên thì lại khơng

có một đánh giá cụ thể nào.

Phân công công công việc hợp lý, đúng người, đúng việc cho nhân viên tại

các bộ phận, tránh việc một nhân viên phải đảm nhận quá nhiều việc. Thực hiện

tăng cường đội ngũ nhân sự cho các Khoa, phòng, ban, tránh tình trạng phòng

thiếu nhân viên thì áp lực cơng việc nhiều, dễ cáu gắt với sinh viên, phòng thì thừa

nhân viên gây lãng phí. Đặc biệt chú ý nhất là bộ phận giáo vụ và quản lý sinh viên

tại các Khoa, hai bộ phân này thường xuyên tiếp xúc với sinh viên nên tỏ ra thân

thiện, vui vẻ tiếp đón và sẵn giải quyết các nhu cầu chính đáng cho sinh viên.

Ban chủ nhiệm Khoa, kết hợp với lãnh đạo nhà trường tăng cường định kỳ

tiếp xúc với sinh viên để lắng nghe ý kiến từ phía sinh viên. Qua đó, hiểu được tâm

tư nguyện vọng của sinh viên và có các điều chỉnh bổ sung kịp thời đáp ứng tốt nhu

cầu của sinh viên.

Tổ chức cho nhân viên đi học tập các khóa đào tạo ngắn hạn về chuyên môn,

định kỳ hàng năm, mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ chun mơn, mời chun gia

nói chuyện chun đề về giao tiếp, văn hóa ứng xử... nhằm giúp nhân viên học tập

và hoàn thiện phong cách làm việc.

Hiệu quả

Khi ứng dụng giải pháp này thì một phần giúp cho nhân viên các bộ phận

giảm bớt áp lực khi tiếp xúc sinh viên, không mất nhiều thời gian giải thích, hướng

dẫn cho sinh viên, một phần giúp cho sinh viên định hướng được các bước tiến

hành khi cần một loại giấy tờ cần thiết nào đó.

Nhân viên được học tập nâng cao năng lực chuyện môn, hiệu quả công việc

được nâng cao, thái độ phục vụ cũng trở nên chuyên nghiệp hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Công tác định hướng học tập

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×