Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Dành dành Việt Nam (Rothmannia vietnamensis Tirveng, 1998.)

Dành dành Việt Nam (Rothmannia vietnamensis Tirveng, 1998.)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong nước: Hồ Bình (Lạc Sơn, Đà Bắc), Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình

(Cúc Phương), Thanh Hóa (Bến En).

Thế giới: Lào.

50.4. Giá trị:

Lồi có khu vực phân bố hẹp, nơi cư trú rải rác và chia cắt, lại chỉ sống ở

khu vực có rừng trên núi đá vơi hoặc gần núi đá vơi.

Chi và lồi đặc hữu của Việt Nam, nguồn gen độc đáo, là chi rất gần với

chi Dành dành (Gardenia), hoa quả to đẹp, có thể thuần hố tạo thành cây trồng

làm cảnh.

50.5. Phân hạng:

Thuộc nhóm VU A1c, B1+2c, Sách đỏ Việt Nam – 2007.

50.6. Tình trạng bảo tồn:

Lồi có khu vực phân bố hẹp, nơi cư trú rải rác và chia cắt, lại chỉ sống ở

khu vực có rừng trên núi đá vơi hoặc gần núi đá vôi. Rừng trên núi đá vôi luôn

bị chặt phá nên số lượng giảm, có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Lồi cây bản địa quý cần được giữ gìn bảo vệ. Nên khoanh một diện tích

cần thiết có lồi này, tạo điều kiện để chúng sinh trưởng phát triển. Hoặc đưa về

trồng ở các công viên vừa làm cảnh vừa bảo vệ nguồn gen. Cần bảo vệ ở Vườn

quốc gia Ba Vì, Cúc Phương và Bến En.

51. Xương cá (Canthium dicoccum Tinn. et Binn.)

Tên địa phương: Căng hai hột, Găng vàng hai hột

Bộ: Long đởm (Gentiniales)

Họ: Cà phê (Rubiaceae)



51.1. Đặc điểm nhận dạng:

Xương cá, là cây bụi, cao 10 - 15 m, khơng có lơng, khơng gai; cành non

có dạng 4 cạnh, sau thành hình trụ, vỏ nâu đen.

Lá mọc đối, hình thuôn mũi mác dài 4 - 10 cm, rộng 1,5 - 4 cm, mầu xanh

lục, 2 mặt nhẵn bóng; gân bên 3 - 5 đơi nhìn rõ trên 2 mặt; cuống lá dài 8 - 15

mm; viền mép nguyên; lá kèm dài 3 - 5 mm, gốc rộng, đỉnh nhọn.

Cụm hoa dạng tán ở nách lá, cuống ngắn, phủ lông mềm thưa. Hoa nhỏ,

không cuống; đài dạng ống, nhỏ, dài 1 - 1,2 mm; tràng hoa màu xanh nhạt hoặc



10



vàng nhạt, phía dưới là ống dài 3 mm, họng của ống có lơng nhung, đỉnh xẻ 4 - 5

thuỳ uốn ra phía ngồi; vòi nhuỵ vươn ra ngồi, đầu ngun.

Quả hạch hình trứng ngược, hơi dẹt dài 8 - 10 mm, đường kính 6 - 8 mm;

có 2 ơ, mỗi ô chứa 1 hạt, vỏ hạt có vân nhăn nheo.

Xương cá (Canthium dicoccum Tinn. et Binn.)

2



1



51.2. Sinh học và sinh thái:

Ra hoa tháng 1 - 8, có quả tháng 4 - 10.

Tái sinh bằng hạt. Mọc trong các rừng thưa và rừng thứ sinh có độ tàn che

thấp, khơng chịu được khí hậu lạnh, thích nghi với rừng gần ven biển, ở độ cao

tới 500 m.

51.3. Phân bố:

Trong nước: Thanh Hóa (Bến En), Đà Nẵng (Bán đảo Sơn Trà), Khánh

Hồ (Cam Ranh), Bà Rịa - Vũng Tàu (Xuyên Mộc).

Thế giới: Srilanka, Trung Quốc (Hải Nam).

51.4. Giá trị:

Gỗ mầu đỏ thẫm, cứng, nặng, thớ mịn, khơng bị mối mọt, thích hợp cho

điêu khắc, đồ mỹ nghệ và gỗ công nghiệp.

Người dân dùng vỏ làm thuốc hạ sốt. Lá xanh quanh năm khơng rụng lá

theo mùa. Nguồn gen độc đáo có thể phục hồi phát triển rừng ven biển.

51.5. Phân hạng:

Thuộc nhóm VU A1c, B1+2c, Sách đỏ Việt Nam – 2007.

51.6. Tình trạng bảo tồn:



11



Phân bố rải rác và bị chia cắt, thường bị khai thác lấy gỗ làm đồ mỹ nghệ,

làm đũa, vỏ làm thuốc. Rừng ở các điểm phân bố kể trên cũng thường xuyên bị

tàn phá, làm thu hẹp mơi trường sống..

52. Ba kích lơng (Morinda officinalis F.C.How)

Tên địa phương: Ruột gà, ba kích thiên, nhàu thuốc

Bộ: Long đởm (Gentiniales)

Họ: Cà phê (Rubiaceae)



52.1. Đặc điểm nhận dạng:

Ba kích lơng là loại cây bụi trườn hoặc dây leo gỗ nhỏ. Lá thuôn, nhẵn. Lá

kèm thành bẹ ôm lấy thân. Cụm hoa đầu, gồm 8 - 10 hoa. Hoa mẫu 4 (4 lá đài, 4

cánh hoa, 4 nhị). Lá đài hình tam giác đều. Tràng màu trắng. Nhị đính ở đáy của

sống tràng. Bầu nhẵn, vòi chẻ đơi ở đỉnh.

Quả chìn màu đỏ. Rễ cây cong queo, nhiều đoạn thắt nghẹt như ruột gà.

52.2. Sinh học, sinh thái:

Mùa hoa tháng 5 - 6, mùa quả chín tháng 11 - 12. Cây tái sinh bằng hạt

hoặc chồi.

Cây mọc hoang trong các trảng cây bụi và rừng thưa, ở ven rừng rậm, ưa

sáng và ẩm.

Ba kích lơng (Morinda officinalis F.C.How)

1



2



52.3. Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa), Quảng Ninh (Hải Ninh, Cẩm Phả: Quang

Hanh), Bắc Từ (Đại Từ), Vĩnh Phúc (Thanh Sơn), Hà Tây (BaVì: Ba Trại),

Thanh Hóa (Bến En), Kontum (Đắc Giây).

Thế giới: Trung Quốc.

12



52.4. Giá trị:

Ba kích là một thảo dược có công dụng bổ thận tráng dương, di tinh,

mộng tinh, mạnh gân cốt, hóa đờm, bổ trợ chức lăng sinh lý.., trừ phong thấp.

Chủ trị các chứng liệt dương, vô sinh (do bào cung lạnh), chứng tý do phong hàn

thấp, sưng tấy và một số bệnh khác.

52.5. Phân hạng:

Thuộc nhóm EN A1c,d, B1+2a,b,c, Sách đỏ Việt Nam – 2007.

52.6. Tình trạng bảo tồn:

Lồi có số lượng cá thể bị giảm sút mạnh do bị khai thác lấy rễ (củ) làm

thuốc dùng trong nước và xuất khẩu.

Bảo vệ một số quần chủng tự nhiên và đẩy mạnh trồng trọt để tạo nguồn

nguyên liệu dồi dào và ổn định.

53. Hồng cành a pơ tơ (Xanthophytum attopeuensis (Pit.) H.C.Lo)

Tên địa phương: Nhĩ đài

Bộ: Long đởm (Gentiniales)

Họ: Cà phê (Rubiaceae)



53.1. Đặc điểm nhận dạng:

Hoàng cành a pô tơ là cây nửa bụi nhỏ, cao 0,4 - 0,6 m. Thân non, cuống

lá, mặt dưới lá, lá kèm, trục cụm hoa và đài phủ đầy lông màu hung đỏ.

Lá có phiến hình thn hẹp hay mác ngược hẹp, thót dài, nhọn ở gốc và ở

đầu, dài 13 - 18 cm, rộng 3 - 5 cm, mỏng như giấy và có 2 - 30 đơi gân bậc hai;

cuống lá dài 2 - 3 cm.

Cụm hoa mọc đơn độc ở nách lá, hình đầu, đường kính 1 - 2 cm. Cuống

dài 1,5 - 2 cm, rủ xuống.

Quả gần hình cầu, đường kính khoảng 2 mm, vỏ quả ngồi rất mỏng và vỏ

quả trong hóa gỗ thành 2 hạch dài hơn 1 mm. Hạt nhỏ, dài 0,3 mm, có góc cạnh.

Hồng cành a pơ tơ (Xanthophytum attopeuensis (Pit.) H.C.Lo)



13



53.2. Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 1, ra quả tháng 2.

Tái sinh bằng hạt. Mọc rải rác dưới tán rừng rậm thường xanh mưa mùa

ẩm ở sườn núi đất, ở độ cao tới 400 m, trên đất xốp có tầng dày và ẩm.

53.3. Phân bố:

Trong nước: Hòa Bình (Lương Sơn: Lâm Sơn và Mai Châu: Hang Kia, Pà

Cò), Hà Nội (Ba Vì), Thanh Hóa (Bến En).

Thế giới: Trung Quốc (Hải Nam), Lào.

53.4. Giá trị:

Lồi hiếm, phân bố rất hẹp, có nguy cơ bị tuyệt chủng do việc chặt phá

rừng làm mất môi trường sinh thái.

Nguồn gen quý hiếm và độc đáo. Có thể trồng làm cảnh.

53.5. Phân hạng:

Thuộc nhóm VU A1c,d+D2, Sách đỏ Việt Nam – 2007.

53.6. Tình trạng bảo tồn:

Lồi hiếm, phân bố rất hẹp, có nguy cơ bị tuyệt chủng do việc chặt phá

rừng làm mất môi trường sinh thái.



14



Đề nghị khoanh ni bảo vệ ở Hòa Bình (Lâm Sơn và Khu bảo tồn Thiên

nhiên Pà Cò - Hang Kia), tìm cách nhân giống để bảo vệ nguồn gen quý này tại

các vườn quốc gia.

54. Màn đất (Lindernia antipoda (L.) Alston)

Tên địa phương: rau choi, Cỏ é

Bộ: Hoa mõm sói (Scrophulariales)

Họ: Hoa mõm sói (Scrophulariaceae)



54.1. Đặc điểm nhận dạng:

Màn đất là cây cỏ cao cỡ 5-30cm, thân bò rồi đứng, khơng lơng, có rễ ở

mắt. Lá có cuống ngắn, phiến bầu dục, dài 2-4cm, rộng 5-12mm, mép có răng

gân phụ 4-5 cặp.

Màn đất (Lindernia antipoda (L.) Alston)

1



2



Chùm hoa ở nách lá; đứng mang hoa mọc đối, cuống hoa dài; lá đài dính

nhau ở gốc, cao 4mm, tràng màu tía nhạt, có ống mang mơi dưới to; nhị 2. Quả

nang dài 10-16mm, 2-3 lần dài hơn đài, hình trụ, thót nhọn ở đầu. Hạt nhỏ, rất

nhiều, màu vàng hình cầu hay hình tháp, có mũi có vân màng mịn.

54.2. Sinh học, sinh thái:

Thường gặp dọc bờ sông trong cái bãi cát ẩm, các đầm lầy, ruộng rừng

thưa ẩm, ở đồng bằng tới độ cao 1000m.

Tái sinh bằng hạt và bằng thân.

54.3. Phân bố:

Trong nước: Lào Cai, Hồ Bình, Thanh Hóa cho tới các tỉnh miền Trung

và Tây Nguyên tới Cần Thơ, Cà Mau.



15



Thế giới: Loài phân bố ở Xri Lanca, Ấn Ðộ, Mianma, Nam và Trung

Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaixia,

Philippin, Inđônêxia, Tân Ghinê và Polynêdi.

54.4. Giá trị:

Vị ngọt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng.

Rễ được dùng để cầm ỉa chảy, nước sắc rễ và lá được dùng làm thuốc trị giun,

tồn cây dùng chữa phổi nóng sinh ho, viêm hầu, rắn cắn, sái xương.

54.5. Phân hạng:

Thuộc nhóm LC, IUCN – 2013.

54.6. Tình trạng bảo tồn:

Mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, được nhân dân dùng để chữa bệnh,

nguy cơ thấp.

55. Lữ đằng cấn (Lindernia crustacea F.Muell.)

Tên địa phương: Mẫu thảo, dây lưỡi đòng

Bộ: Hoa mõm sói (Scrophulariales)

Họ: Hoa mõm sói (Scrophulariaceae)



55.1. Đặc điểm nhận dạng:

Lữ đằng cấn là cây thảo mọc hằng năm, có thân trườn, bén rễ ở các mắt.

Lá hình trái xoan nhọn, mọc đối, khơng lơng, mép khía răng cưa, có cuống ngắn.

Hoa có cuống dài ở nách các lá, cuống hoa có lơng lún phún, thường bằng hay

dài hơn lá, đài dính đến phân nửa, tràng hoa tim tím. Quả nang nhẵn, hình trứng,

dài bằng đài. Hạt nhỏ, màu vàng, hình trứng.

55.2. Sinh học, sinh thái:

Chủ yếu tái sinh bằng thân.

Thường mọc phổ biến ở vườn, ruộng, đất ngập nước nông hoặc bán ngập,

các vũng hoặc ruộng lúa bỏ hoang, dọc đường đi.

55.3. Phân bố:

Trong nước: Phân bố cả nước.

Thế giới: Loài phân bố ở Xri Lanca, Ấn Ðộ, Nêpan, Trung Quốc, Lào,

Campuchia, Việt Nam, Nhật Bản, Philippin, Úc châu, Tân Ghinê, Micronedi và

Polynêdi.

Lữ đằng cấn (Lindernia crustacea F.Muell.)

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Dành dành Việt Nam (Rothmannia vietnamensis Tirveng, 1998.)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×