Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.5: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam

Bảng 1.5: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



thái khác nhau, với trình độ canh tác khác nhau, dựa trên cơ sở khác nhau để đề xuất

mức phân bón phù hợp, hiệu quả nhất vẫn cần những kết luận từ thực nghiệm thì đề

xuất mới có ý nghĩa.

1.5.Tổng quan về phân hữu cơ

Chất hữu cơ trong đất là chất được hình thành do sự phân huỷ xác thực vật

như thân, lá, rễ, v.v..., cơ thể vi sinh vật (VSV) và động vật đất. VSV phân giải chất

hữu cơ tạo ra nhóm chất mùn khơng đặc trưng, chiếm10 - 20% tổng số, gồm các

hợp chất các bon, hidrocacbon, axit hữu cơ, rượu, este, anđehit, nhựa,...cung cấp

thức ăn cho thực vật; kích thích, ức chế tăng trưởng; cung cấp kháng sinh và

vitamin. Nhóm chất mùn điển hình gồm những chất hữu cơ cao phân tử, phức tạp

được tạo ra do q trình mùn hóa xác thực vật, VSV, động vật. Axit humic, axit

funvic, humin, unmin chiếm khoảng 80-90% tổng số. Chất hữu cơ là một chỉ tiêu

quan trọng của độ phì nhiêu đất và liên quan với thành phần lý, hóa và sinh học đất.

1.5.1. Phân loại và tiêu chuẩn phân hữu cơ

Phân hữu cơ được chia thành 2 nhóm:

- Phân hữu cơ nhà nông (truyền thống)

- Phân hữu cơ cơng nghiệp (hữu cơ khống, hữu cơ sinh học, phân vi sinh và

hữu cơ vi sinh)

* Phân hữu cơ truyền thống

Phân hữu cơ truyền thống là loại phân có nguồn gốc từ chất thải của người,

động vật hoặc từ các phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, lâm, thủy

sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp

ủ truyền thống. Có thể chia phân hữu cơ truyền thống ra làm 4 nhóm:

i) Phân chuồng: Có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đa,

trung và vi lượng mà một loại phân bón vơ cơ khơng có được. Ngoài ra, phân

chuồng cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển

mạnh, hạn chế nước bốc hơi, chống được hạn, xói mòn. Tuy nhiên, phân chuồng

cũng có nhược điểm như: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn,

đòi hỏi chi phí vận chuyển cao, ngồi ra nếu khơng chế biến kỹ có thể mang đến

một số nấm bệnh cho cây trồng.Phân chuồng thường được nhà nông tự sản xuất chế

biến. Phương pháp ủ phân chuồng được tiến hành như sau: Phân chuồng xếp thành



24



lớp rộng nén chặt đến khi đống phân cao 1,5-2,0m. Trát kín bùn, ở giữa chọc một lỗ

hình phễu để tưới nước. Ủ từ 2 đến 6 tháng. Song thông thường, nên ủ phân chuồng

với đất bột, với lân (bất cứ loại phân lân nào, tỷ lệ 2%), có thể thêm vơi (3-5%) cho

phân nhanh hoai hơn, bớt chua, các vi sinh vật hoạt động thuận tiện hơn.

ii) Phân rác: Loại phân này làm từ rơm, rạ; thân lá các cây ngô, đậu, đỗ, vỏ

lạc, trấu, bã mía, v.v... chặt thành đoạn ngắn 20-30cm, có thể ngâm nước vơi lỗng

2-3 ngày trước khi ủ. Phương pháp ủ phân rác được tiến hành như sau: phân rác xếp

thành lớp và cứ 30cm rắc một lớp vôi bột. Trát bùn, ủ khoảng 20 ngày, rồi đảo lại

rắc phân lên men (phân bắc, phân chuồng, phân hóa học như đạm, lân) với tỷ lệ

20%. Xếp đủ cao, lại trát bùn, để hở lỗ để tưới thường xuyên. Ủ 45-60 ngày và có

thể dùng bón lót, còn ủ lâu hơn nữa có thể dùng để bón thúc. Tùy theo nguyên liệu

và kỹ thuật ủ, thành phần trung bình của phân rác là %: 0,5-0,6 N; 0,4-0,6 P2O5;

0,5-0,8 K2O; 3-6 CaO.

iii) Than bùn: Trong quá trình cấu tạo địa chất, một số rừng cây bị phù sa vùi

lấp lâu ngày, phân giải yếm khí, tạo thành than bùn. Dùng than bùn đã được phơi

khơ để độn chuồng, hoặc có thể dùng để chế biến phân rác, làm chất đốt, chất cải

tạo đất. Than bùn thượng thành không dùng trực tiếp làm phân bón, chỉ để ủ phân

rác hoặc độn chuồng; than bùn hạ thành có độ phân giải cao (>50%) và pH từ 5,5

trở lên có thể bón trực tiếp, nhất là dùng để làm chất cải tạo lý tính đất; than bùn

chuyển tiếp là loại trung gian.

Có 2 chỉ tiêu vật lý là sức chứa ẩm và mức độ phân giải để đánh giá chất

lượng than bùn phục vụ cho sản xuất phân bón. Kết quả nghiên cứu của Viện Thổ

nhưỡng Nơng hóa giai đoạn năm 2002-2003 với 224 mẫu than bùn ở 3 vùng trong

nước ta cho thấy:

- Hầu hết các mẫu than bùn đều có độ ẩm cao, trung bình là 42,1%, cao nhất

là: 58,0% và thấp nhất là: 17,9%, trong đó, ở miền Bắc là 30,7%; vùng duyên hải

Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Tây Nguyên là 48,5% và ở Đồng bằng sông Cửu

Long 28,2%. Do độ ẩm cao nên nếu sử dụng than bùn làm phân bón thì phải tốn chi

phí để sấy.



25



- Các mẫu than bùn đều khá nhuyễn, mức độ phân giải trung bình là 35,3%

khối lượng mẫu là nhỏ hơn 0,2mm; cao nhất là 44,8% và thấp nhất là 25,3% và

thích hợp cho sản xuất phân bón.

Mức độ phân giải ở các mỏ là tương đối giống nhau và càng xuống sâu thì

khả năng phân giải càng cao.

Quy trình cơng nghệ sản xuất phân bón trên nền than bùn phổ biến là: Than

bùn phơi khô, nghiền nhỏ, phối trộn vôi (nếu pH thấp), phụ gia, vi sinh vật, sau đó ủ

một thời gian rồi đóng gói thành phẩm. Tùy theo đối tượng đất và cây trồng mà có

thể thay đổi tỷ lệ mùn, N, P2O5, K2O, số lượng vi sinh, v.v… trong q trình phối

trộn cho phù hợp. Bón phân từ nguồn gốc than bùn có tác dụng cải tạo đất tốt song

khối lượng lớn do hàm lượng chất dinh dưỡng thấp.

iv) Phân xanh: Phân xanh là tên gọi chung các cây hoặc lá cây tươi được ủ

hay vùi thẳng xuống đất để bón ruộng. Đồng thời với tác dụng làm phân bón, cây

phân xanh có thể phủ đất, chống xói mòn, bảo vệ đất và làm cây che bóng. Trong

q trình phân giải của cây phân xanh (vùi trong đất) nhất là ở điều kiện ngập nước,

thường phát sinh ra nhiều hợp chất độc hại đối với cây như H2S, axit butiric, CH4,

C2H2, v.v... do đó, cần bón vơi, lân kèm theo để hạn chế. Phương pháp chế biến

phân xanh thường là trộn với đất bột, phân lân, phân chuồng, trát kín bùn, ủ khoảng

1 tháng.

iv) Các loại phân hữu cơ khác: Phân bắc có chất lượng cao, nhưng cần ủ kỹ

hoặc sát trùng trước khi dùng. Bình quân 1 người lớn thải ra trong 24 giờ là 133g

phân tươi, gồm có 25g chất khơ; 2g N; 4,5g tro; 1,35g P2O5 và 0,64g K2O. Phân gia

cầm có thể là phân gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu. Tỷ lệ % trong phân tươi của các gia

cầm biến động như sau: Nước: 56,0-77,5%; N: 0,55-1,76%; P2O5: 0,54-1,78%;

K2O: 0,62-1,00%; CaO: 0,84-2,40%; MgO: 0,20- 0,74%.

vi) Bùn ao, bùn hồ, bùn sơng có hàm lượng mùn trung bình là: 4,90% (dao

động trong khoảng 1,65 – 14,90%), N tổng số: 0,23% (dao động 0,11 –0,52%),

P2O5 tổng số: 0,29% (dao động 0,21 - 0,48%), K2O tổng số: 0,40% (dao động 0,13 0,70%), H2S trung bình là 7,1 mg/100 g bùn (dao động 3,4 -13,6 mg/100g) nên có

thể bón cho cây trồng.



26



vii) Nước phù sa: Như chúng ta đã biết thuật ngữ “Phù sa” là chỉ hạt đất có

kích thước từ thô đến mịn do bị cuốn theo các dòng chảy (sơng, suối) và được lắng

đọng ở ven sơng, cửa sông hay gần bờ biển. Nước sông Hồng chứa trung bình 0,5

kg/m3 phù sa lúc bình thường và đến tháng 6, khi bắt đầu có lũ thì lên 1,8 kg/m3 và

lũ to có thể đến 3,5 kg/m3. Thành phần phù sa sông Hồng như sau: pH 7,4 -7,6;

mùn: 0,84 -1,36%; N tổng số: 0,10 - 0,15%; P2O5 tổng số 0,13 - 0,17%; K2O tổng

số: 0,95 - 1,43%. Như vậy, sử dụng nước phù sa để tưới đã cung cấp cho cây trồng,

cho đất một lượng chất hữu cơ và một số các nguyên tố dinh dưỡng.

vii) Khô dầu: là bã còn lại sau khi hạt đã ép lấy dầu. Tùy theo thành phần của

mỗi loại khô dầu mà nông dân đã sử dụng như loại phân bón hữu cơ bón vào đất để

cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.

vi) Tro: Tro là chất còn lại của một số vật sau khi cháy hết và thường có màu

xám. Trong nơng nghiệp một số nguyên liệu thực vật như cây: sắn, bông, ngô, lá

dừa, mạt cưa, v.v... sau khi bị đốt có tỷ lệ tro và chất dinh dưỡng khá cao.

* Phân hữu cơ công nghiệp (phân hữu cơ chế biến, phân hữu cơ khoáng,

phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh)

Phân hữu cơ công nghiệp là một loại phân được chế biến từ các nguồn hữu

cơ khác nhau để tạo thành phân bón tốt hơn so với bón ngun liệu thơ ban đầu.

Hiện nay có thể chia ra 5 loại phân hữu cơ công nghiệp, đó là: phân hữu cơ, phân

hữu cơ khống, phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh.

i) Phân hữu cơ chế biến: Là loại phân bón được sản xuất chủ yếu từ các

nguồn nguyên liệu hữu cơ với tiêu chuẩn như sau: ẩm độ đối với phân bón dạng bột

khơng vượt q 25%; hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 22%; hàm lượng

đạm tổng số (Nts) không thấp hơn 2,5%; pHH2O (đối với phân hữu cơ bón qua lá)

trong khoảng từ 5- 7.

ii) Phân hữu cơ khoáng: Là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ

phối trộn thêm một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng khống, trong đó có ít nhất một

yếu tố dinh dưỡng khoáng đa lượng. Loại phân này được chế biến từ các nguyên

liệu hữu cơ khác nhau (than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp,

công nghiệp...) phơi khô, nghiền nhỏ, ủ tự nhiên. Sau một thời gian đưa phối trộn

với phân khoáng ở các tỷ lệ khác nhau. Tiêu chuẩnbắt buộc của loại phân này như



27



sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; ẩm độ đối với phân bón dạng

bột khơng vượt quá 25%; hàm lượng Nts + P2O5hh + K2Oh% h; Nts + P2O5hh; Nts +

K2Ohh; P2O5hh + K2Ohh không thấp hơn 8 %

iii) Phân hữu cơ sinh học: Là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ

theo quy trình lên men có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân

sinh học khác. Loại phân này được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau

(than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp...) phơi khô,

nghiền nhỏ, ủ lên men với vi sinh vật có tuyển chọn.

Tiêu chuẩn của phân hữu cơ sinh học như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số

không thấp hơn 22%; Ẩm độ đối với phân bón dạng bột khơng vượt q 25%; hàm

lượng Nts không thấp hơn 2,5%; hàm lượng axit humic (đối với phân chế biến từ

than bùn) không thấp hơn 2,5% hoặc tổng hàm lượng các chất sinh học (đối với

phân chế biến từ nguồn hữu cơ khác) không thấp hơn 2,0% hoặc pHH2O (đối với

phân hữu cơ sinh học bón qua lá) trong khoảng từ 5-7. Nếu phân có bổ sung chất

điều hòa sinh trưởng thì tổng hàm lượng các chất này không vượt quá 0,5%.

iv) Phân vi sinh: Là loại phân trong thành phần chủ yếu có chứa một hay

nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân

giải lân, phân giải kali, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng

khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác với mật độ phù hợp với quy

chuẩn kỹ thuật đã ban hành là mật độ mỗi chủng VSV có ích khơng thấp hơn 1x

108CFU/g (ml).

v) Phân hữu cơ vi sinh: Là loại phân được sản xuất từ ngun liệu hữu cơ có

chứa ít nhất một chủng vi sinh vật sống có ích với mật độ phù hợp với quy chuẩn kỹ

thuật đã ban hành, cụ thể như sau: hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%;

ẩm độ đối với phân bón dạng bột khơng vượt q 30%; mật độ mỗi chủng VSV có

ích không thấp hơn 1 x 106CFU/g (ml). Đối với tất cả các loại phân hữu cơ công

nghiệp, các chỉ tiêu định lượng bắt buộc trong phân bón như sau: asen (As) không

vượt quá 3,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; cadmi (Cd) khơng vượt q 2,5 mg/kg (lit) hoặc

ppm; chì (Pb) khơng vượt quá 300,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; thủy ngân (Hg) không

vượt quá 2,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; mật độ tế bào vi khuẩn Salmonella không phát

hiện trong 25 g hoặc 25 ml mẫu kiểm tra (CFU).



28



* Hạn chế của phân hữu cơ

Ngồi những ưu điểm thì phân hữu cơ cũng có những nhược điểm như hàm

lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận

chuyển và nếu khơng chế biến kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng,

nhất là khi chế biến từ một số loại chất thải sinh hoạt và cơng nghiệp. Các vi sinh

vật gây hại có trong phân bón gồm: E.coli, Salmonella, Coliform là những loại gây

nên các bệnh đường ruột nguy hiểm hoặc ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại

nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định.

1.5.2. Giá trị sử dụng của phân hữu cơ

Phân hữu cơ nói chung có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng

đa, trung và vi lượng mà không một loại phân khống nào có được. Ngồi ra, phân

hữu cơ cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển

mạnh, hạn chế mất nước trong quá trình bốc hơi từ mặt đất, chống được hạn, chống

xói mòn. Vào những năm của thập kỷ 60 thế kỷ XX do nguồn phân khống có hạn

nên sử dụng phân chuồng bình quân hơn 6 tạ/ha/vụ. Trong giai đoạn 15 năm (19801995) việc sản xuất và sử dụng phân hữu cơ có giảm sút, nhưng từ năm 1995 trở lại

đây do yêu cầu thâm canh, do sự khuyến khích sản xuất, sử dụng phân hữu cơ được

phục hồi, nên số lượng phân hữu cơ được sản xuất, sử dụng đã tăng lên đáng kể.

Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nơng hố ở một số vùng đồng bằng, trung

du Bắc bộ và Bắc Trung Bộ cho thấy bình qn mỗi vụ cây trồng bón khoảng 8-9

tấn/ha/vụ. Ước tính tồn quốc sản xuất, sử dụng khoảng 65 triệu tấn phân hữu

cơ/năm.

Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất cây trồng. Kết quả nghiên cứu khoa học

trong rất nhiều năm của các Viện, trường, cũng như kết quả điều tra kinh nghiệm

của các hộ nông dân cho thấy, năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế cao, ổn định

ở những nơi có bón tỷ lệ N hữu cơ và N vô cơ cân đối với tỷ lệ N tính từ hữu cơ

chiếm khoảng 25-30% tổng nhu cầu của cây trồng. Ước tính do bón phân hữu cơ

năng suất cây trồng đã tăng được 10-20%. Nếu tính riêng về thóc do bón phân hữu

cơ (chủ yếu là phân chuồng) đã đạt khoảng 2,5-3,0 triệu tấn thóc/năm. Bón phân

hữu cơ còn làm giảm bớt lượng phân khống cần bón do phân hữu cơ có chứa các

nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng. Kết quả nghiên cứu và



29



điều tra cho thấy nếu bón 10tấn phân chuồng/ha có thể giảm bớt được 40-50%

lượng phân kali cần bón. Hiệu quả sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng) đối với một

số cây trồng chính như sau:

Bón phân chuồng làm tăng đáng kể hiệu suất sử dụng phân đạm. Năng suất

lúa đạt cao nhất khi tỷ lệ đạm hữu cơ trong tổng lượng đạm bón khoảng 30-40%

(bón 10 tấn phân chuồng/ha thường cho khoảng 30-35kg N tương đương 65-75kg

urê). Cân đối hữu cơ - vô cơ không chỉ làm tăng hiệu quả sử dụng phân khoáng mà

ngược lại phân khoáng cũng làm tăng hiệu lực phân chuồng. Trên nền có bón phân

khống, hiệu lực 1 tấn phân chuồng đạt 53-89kg thóc, trong khi khơng có phân

khống chỉ đạt 32-52kg.

Bón chất hữu cơ sẽ cải thiện được các tính chất vật lý đất, hóa học và sinh

học của đất; đồng thời hạn chế mức độ độc hại của một số nguyên tố như: nhôm

(Al), sắt (Fe); giảm bớt sự cố định lân trong đất dưới tác dụng kết hợp Al3+,

Fe3+dưới dạng phức chất; nâng cao sự hoà tan lân ở dạng phốt phát sắt hoá trị ba

dưới tác dụng khử ôxy.

Bón phân hữu cơ có tác dụng làm giảm rửa trơi, giảm bốc hơi của phân đạm

bón vào. Do đó, hiệu quả sử dụng của phân đạm vô cơ tăng lên, hiệu suất sử dụng

phân đạm của lúa có thể tăng lên 30-40% trên nền bón phân hữu cơ so với nền

khơng bón.

Từ những tác dụng tổng hợp của phân hữu cơ đã nêu ở trên, bón phân hữu cơ

góp phần cải thiện được chất lượng nông sản, nhất là với những cây rau, hoa quả,

lúa đặc sản,... như giảm làm lượng nitrat, tăng hàm lượng vitamin, các hợp chất tạo

hương, vị, v.v…

1.6. Giới thiệu phân NTR2 và K2SO4

1.6.1. Phân hữu cơ khống NTR2

Cơng nghệ sản xuất phân hữu cơ khống NTR2 từ phân lợn nái và phân gà là

cơng nghệ mới. Cơng nghệ sản xuất phân hữu cơ khống do Trường Đại học Nông

lâm – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu và sản xuất. Trong nước hiện nay nguyên

liệu sản xuất phân hữu cơ khoáng chủ yếu từ nguồn nguyên liệu hữu cơ từ than bùn.

Than bùn sau khi khai thác được sơ chế và bổ sung các dinh dưỡng đạm, lân, kali

các chất dinh dưỡng trung vi lượng thành phân hữu cơ khoáng. Phân NTR2 hàm



30



lượng hữu cơ lớn hơn 20%, trong khi đó các phân hữu cơ khống hiện có trên thị

trường hiện nay chỉ đạt 15%. Ngồi ra trong phân NTR2 còn có các chất trung vi

lượng cân đối giúp cây phát triển và năng suất cao ổn định.

Phân NTR2 có hàm lượng (%) và tỷ lệ N:P2O5:K2O = 5,5:1,5: 4 nên dùng để

bón thúc cho các loại cây trồng.



31



Phân lợn nái



C

h

Sản xuấtế sinh khối

VSVpđậm đặc

h



m

s

i

n

h

h



c



(

E

M

I

N

A

)



Phân gà



T

r



n

l



n



S

à

n

g

v

à



PP

hNh

âgâ

h

nn

i



lnl



oo

ạtạ

ihi

ơ







vv

àvà



à

n h

ss

g o

ơủơ

h ạ

i

h

Ủt

các

ề P

nB hh

hoh

n

ếế

ổ g óâ

k

Phân NTR2n đóng

u an bao,

hs

h

bảo quản



ỏu t

í

i

n í

Kiểm nghiệm

g c

h

đ

Cung cấp ra ạthị trường

t

m h

,

à

Sơ đồ: Quy trình sản xuất phânnhữu cơ khống NTR2

l

h

â

n p

h



a

l

i

32



n

d

i

n

h



d sinh học EMINA được nhân sinh

- Nhân sinh khối vi sinh vật: Chế phẩm

ư



khối trước khi sử dụng. Dung dịch dùng nhânỡ sinh khối được pha từ 1 kg mật gỉ

n



đường với 5 lít nước. Sau khi khuấy đều hòa gtan mật gỉ đường trong nước thì bổ

sung 1 kg chế phẩm gốc EMINA và tiếp tục khuấy đều. Sau khi nhân sinh khối từ

2-3 ngày, thấy dung dịch có nhiều bảo tử nấm nổi lên thì có thể dùng được.

- Sơ chế phân gà, phân lợn: Phân lợn sau khi vận chuyển ra khỏi khu vực

trang trại chăn nuôi tiến hành gỡ bỏ túi ny lông để sơ chế. Nếu phân lợn quá ướt thì

bổ sung phân gà khơ. Phân lợn đổ dày khoảng 30-40cm thì phun một lớp chế phẩm

EMINA. Độ cao đống phân khoảng 1,0 -1,2m thì lại phun EMINA kín bề mặt và

rắc thêm phủ một lớp phân chuồng khô lên trên bề mặt đống ủ. Đối với phân gà sau

khi đổ phân ra khỏi bao, nếu độ ẩm quá cao >50% thì bổ sung phân chuồng hoai

khô. Phân gà được đổ theo lớp, cứu mỗi lớp 30 - 40 cm lại phun EMINA. Tương tự

như sơ chế phân lợn, trên bề mặt đống ủ cũng phủ kín một lớp phân chuồng hoai

khơ và phun EMINA để khử mùi thối của phân gà.

Trong quá trình đống ủ sơ chế lên men, nhiệt độ đống ủ tăng cao trên 50oC

dùng máy súc lật đảo từ 2-3 lần để đống ủ lên men thuận lợi và giảm độ ẩm. Trong

quá trình đảo trộn bổ sung thêm chế phẩm EMINA dạng bột. Khi độ ẩm phân giảm

còn khoảng 35-40% thì tiến hành phối trộn phân lợn với phân gà để nghiền thô.

- Nghiền thô và ủ háo khí: Phân lợn và phân gà sau khi phối trộn rải

mỏng để phân lên men và giảm độ ẩm nhanh. Khi độ ẩm đạt mức thích hợp tiến

hành nghiền nhỏ, nguyên liệu sau khi nghiền nhỏ để khoảng 2-4 ngày tiếp tục lên

men tiếp.

- Sàng và nghiền nhỏ: Sau khi để lên men tự nhiên, độ ẩm giản còn 30-35%

thì tiến hành sàng. Ngun liệu nhỏ có kích thước nhỏ hơn 5mm thì đưa vào đống

để ủ hoạt hóa, những ngun liệu còn to thì tiếp tục nghiền và sàng lại.

- Ủ hoạt hóa: Nguyên liệu nhỏ sau khi sàng, nếu khơ thì bổ sung thêm nước

để đạt độ ẩm 30-35% để ủ hoạt hóa thuận lợi. Sau khi ủ hoạt hóa 3-4 ngày nhiệt độ

tăng cao 60 - 65oC, thì đảo trộn. Tủy khả năng năng lên men, đống ủ được đảo trộn

2-3 lần.



33



- Ủ nguội: Giai đoạn đầu ủ hoạt hóa nhiệt độ đống ủ tăng dần sau đó nhiệt độ

giảm dần thì đảo trộn vận chuyển sang kho chứa nguyên liệu ủ nguội. Trong quá

trình ủ nguội, che đậy nguyên liệu để hạn chế bốc hơi nước và thất thốt đạm.

- Phân tích thành phần dinh dưỡng cơ chất: Nguyên liệu sau khi nguội gọi là

cơ chất, Lấy 01 mẫu đại diện cơ chất ở mỗi lô (khoảng 20 tấn/lơ) đi phân tích chất

lượng. Các chỉ tiêu cần phân tích: OM. Nts, P2O5 hh, K2Ohh, độ ẩm và vi sinh vật gây

hại Vi khuẩn Salmonella, Vi khuẩn E. coli. Thơng thường nếu ủ đúng kỹ thuật thì hàm

lượng OM và vi sinh gây hại đều đạt tiêu chuẩn cho phép, còn các dinh dưỡng còn lại

thì nếu dinh dưỡng nào thiếu thì bổ sung chất dinh dưỡng ở dạng khống vơ cơ.

- Phối trộn, đóng bao và bảo quản: Trên cơ sở kết quả phân tích xác định hàm

lượng các chất dinh dưỡng, xác định được khối lượng phân đạm, lân và kali cần bổ

sung. Cơ chất và phân khoáng bổ sung được đưa vào máy trộn đều. Sau khi trộn, sản

phẩm phân NTR2 độ ẩm 20% phải đạt ≥ hữu cơ: 20; N-P2O5-K2O:5,5-1,5-4.

Phân NTR2 thành phẩm được bảo quản trong kho. Trước khi xuất ra thị

trường được phân tích kiểm tra lại, nếu lơ sản phẩm đạt u cầu tiêu chuẩn chất

lượng thì cho lưu thơng trên thị trường, nếu khơng đạt tiêu thì phối trộn đóng lại.

Chế phẩm sinh học EMINA có tác dụng xử lý phân chuồng thành phân hữu

cơ rất hiệu quả. Theo quy trình giới thiệu sử dụng, chế phẩm EMINA xử lý phân

lợn làm phân hữu cơ, có khuyến cáo bổ sung trấu và mùn cưa vào phân lợn trong

quá trình xử lý. Việc bổ sung trấu và mùn cưa gây lãng phí trong q trình sản xuất

phân hữu cơ quy mơ cơng nghiệp. Bởi vì mùn cưa và trấu chỉ là chất cải tạo đất

khơng có nhiều dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng, hơn nữa giá thành trấu còn cao

hơn phân gà. Chính vì vậy cần nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EMINA và chế biến

phân lợn, phân gà thành phân hữu cơ cần thay thế mùn cưa và trấu bằng dùng than

bùn và phân gà có lẫn trấu sẽ tăng chất lượng phân hữu cơ và ứng dụng phát triển

quy mơ cơng nghiệp.

1.6.2. Phân khống K2SO4

Kali sulphat là nguồn cung cấp Kali được sử dụng phổ biến, có tên gọi khác

là SOP (Sulfate of Potash). Kali tồn tại trong khoáng vật ở dạng ion dương K+. Kali



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.5: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×