Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng kiến thức giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu

Thực trạng kiến thức giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngủ

)

Đi ngủ khi khát nước ảnh hưởng 320(80%

giấc ngủ

)

Dùng thức ăn đồ uống chứa chất 46(11,5%

kích thích khơng ảnh hưởng giấc )

ngủ

Tập thể dục đổ mồ hôi trong 2 giờ 162(40,5

trước khi đi ngủ làm phá vỡ giấc

%)

ngủ

Thư giãn trước ngủ có lợi cho giấc 396(99%)

ngủ

Đa số người bệnh trong nghiên cứu có các vấn



%)

51(12,8%

)

315(78,8

%)



%)

29(7,2%

)

39(9,8%

)



145(36,2

%)



93(23,2

%)



0,0(0%)



4(1,0%)



đề về kiến thức vệ sinh



giấc ngủ như trả lời sai liên quan đến vấn đề số lượng hút thuốc lá trong

ngày, đi ngủ khi đói bụng, dùng đồ ăn thức uống chứa ch ất kích thích hay t ập

thể dục mạnh quá sức trong 2 giờ trước khi ngủ làm phá vỡi giấc ngủ. Số

người trả lời đúng tương ứng với 37%, 38%, 11,5% và 40,5%. Ch ỉ có ki ến

thức về sự thư giãn tạo sự thoải mái trước khi đi ngủ thì hầu hết trong tổng

số 400 người bệnh trả lời đúng chiếm 99% hay 80% trả l ời đúng liên quan

đến uống rượu trước khi đi ngủ sẽ làm ảnh hưởng đến ch ất lượng gi ấc ng ủ.

Kết quả phân tích kiến thức về hành vi điều trị giấc ngủ của 400 người

bệnh THA tham gia nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3.

Bảng 3. Thực trạng kiến thức về hành vi điều trị giấc ngủ của người bệnh (n

= 400)

Đặc điểm

Xem TV trên giường sẽ pha vỡ

giấc ngủ

Ra khỏi giường nếu không ngủ

được

trong trong 20 phút

Thời gian thức dậy cố định

không ảnh đến giấc ngủ

Thời gian đi ngủ cố định mỗi

đêm làm phá vỡ giấc ngủ

Nên nằm trên giường lâu 2 giờ so

với thời gian cần thiết để ngủ

Bị thức giấc mà không ngủ lại



Đúng



Sai



148(37%)



163(40.8%)



Không

biết

89(22.2%)



205(51,2

%)



135(33.8%)



60(15%)



319(79,8

%)

75(18,8%

)

107(26,8

%)

293(73,2



37(1,2%)



44(11%

)

42(10,5

%)

64(16%

)

71(17,8



283(70,8

%)

229(57,2

%)

36(9,0%)



được sau 20 phút nên nằm và cố

gắng ngủ lại

Độ dài giấc ngủ như nhau không

ảnh hưởng đến giấc ngủ

Để đạt được thời gian cần thiết

nên nằm lại lâu hơn



%)



%)



317(79,2

20(5,0%)

%)

131(32,8%) 195(48,8

%)



63(15,8

%)

74(18,5

%)



Ngược lại với kiến thức về hành vi thời gian thức dậy cố định trong

ngày hay độ dài giấc ngủ như nhau hay hành vi bị thức giấc mà không ngủ l ại

được sau 20 phút số người bệnh trả lời đúng cao t ương ứng v ới 79,8%;

79,2% và 73,2%. Còn lại hầu hết trả lời sai liên quan đ ến các hành vi trong

điều trị giấc ngủ như chỉ có 18,8% trả lời đúng về th ời gian đi ngủ c ố đ ịnh

mỗi đêm hay chỉ có 26,8% trả lời đúng rằng n ằm trên gi ường lâu h ơn 2 gi ờ

so với thời gian cần thiết để ngủ là sai, chỉ có 37 % người bệnh bi ết r ằng xem

tivi trên giường cũng sẽ làm phá vỡ giấc ngủ hay h ầu hết ng ười b ệnh tr ả l ời

sai và không biết rằng không nên nằm lâu lại trên giường h ơn th ời gian c ần

thiết để ngủ.

Bảng 4. Tổng hợp điểm đánh giá liên quan đến kiến thức giấc ngủ của người

bệnh

Nội dung đánh giá



Dải

điểm



Điểm đạt của người bệnh

Thấp

Cao

Trung bình

nhất

nhất

X

(

± SD)

(Min)

(Max)

-14

26

5,18 ±

6,90

-10

14

6,8 ± 4,0

-14

12

-1,9 ± 4,8



Kiến thức về giấc ngủ

-30 – 30

chung

Kiến thức vệ sinh giấc ngủ

-14 – 14

Kiến thức về hành vi điều

-16 – 16

trị giấc ngủ

Bảng 4 tổng hợp điểm đánh giá các nội dung liên quan đến kiến thức giấc

ngủ của người bệnh trong nghiên cứu.Với thang đo kiến th ức đi ểm s ố th ấp

biểu hiện kiến thức chưa đầy đủ về giấc ngủ.

BÀN LUẬN

Tuổi trung bình của 400 người bệnh THA trong nghiên cứu là 69,2 ± 6,9 và

khơng có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ người bệnh nam và nữ. Kết quả này cho

thấy sự tương đồng về xu hướng theo các kết quả thống kê đã được công bố là



THA là thường gặp ở người cao tuổi và ở độ tuổi ≥ 65, nam và nữ có nguy cơ

THA ngang nhau [1]. Người bệnh trong nghiên cứu có thời gian được quản lý và

điều trị THA trung bình 7,64 ± 4,47 năm và đây là khoảng thời gian đủ dài để họ

cảm nhận được đầy đủ về giấc ngủ của họ cũng như những kíến thức nhất định

vệ giấc ngủ của mình.

Về thực trạng kiến thức vệ sinh giấc ngủ:

Kiến thức giấc ngủ bao gồm kiến thức vệ sinh giấc ngủ và kiến thức về hành

vi điều trị giấc ngủ có sự tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giấc

ngủ. Những hành vi điều trị giấc ngủ là những hành động có thể mang lại một

cảm giác nhẽ nhõm dẫn đến một giấc ngủ tốt. Điều này đã được kiểm tra trong

nghiên cứu của nghiên cứu của Julie Gallasch là có lợi ích cho người bệnh có

CLGN kém hoặc những người có mất ngủ thống qua và rất có lợi cho cơng tác

phòng chống mất ngủ [7]

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 53(13,2%) có kiến thức đúng về

giấc ngủ liên quan đến rượu. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cho rằng

uống khoảng 3 chén rượu không ảnh hưởng đến giấc ngủ mà ngược lại nó

giúp cho họ ngủ tốt hơn. Thực tế đó là quan niệm chưa đúng bởi bất cứ ai

thỉnh thoảng uống rượu đều biết rằng rượu đôi khi có thể khiến buồn ngủ đê

giúp họ ngủ nhưng rượu là một chất gây trầm cảm, có thể giúp cơ thể con

người ngủ nhanh hơn nhưng có cũng góp phần vào giấc ngủ kém chất lượng

sau này [5]. Đặc biệt với người bệnh THA rượu là một chất kích thích gây

tăng co bóp nhịp tim làm tăng nhịp tim gây tăng huyết áp. Kết quả nghiên

cứu của Jacek Wolf cho thấy rằng có sự liên quan lâm sàng của hiện tượng

không giảm chỉ số huyết áp sinh lý đêm ngày ( non- dipping) với việc tăng

tần số tổn thương các cơ quan đích như não, tim, thận, mắt và mạch máu

cũng như các bệnh lý tim mạch khác ở người bệnh THA [12]. Như vậy việc

uống rượu trước khi ngủ đối với người bệnh THA là khơng có lợi cho CLGN

và tăng khả năng xảy ra các nguy cơ biến chứng, làm tăng nặng tình trạng

bệnh. Hầu hết người bệnh trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có kiến thức

về tác hại của việc hút thuốc lá lên sức khỏe tim mạch, ngược lại họ chỉ có



kiến thức đơn giản là việc hút thuốc lá ảnh hưởng đến cơ quan trực tiếp mà

khói thuốc tác động đó là phổi. Hút thuốc lá một yếu tố nguy cơ quan trọng

thúc đầy sự hình thành các mảng xơ vữa động mạch, chất nicotine có trong

khói thuốc kích thích hệ thần kinh gây co mạch máu làm tăng huyết áp, đặc

biệt là huyết áp tâm thu. Tương tự kiến thức về mối liên quan các đồ ăn thức

uống có chất kích thích khác cũng tác động lên hệ thống thần kinh kiểm soát

huyết áp làm ảnh hưởng đên CLGN và sức khỏe tim mạch đặc biệt là huyết

áp [12].

Về thực trạng kiến thức hành vi điều trị giấc ngủ:

Thực hành vệ sinh giấc ngủ của người bệnh được đánh giá trên 4

phương diện là thói quen về thời gian ngủ, thói quen ăn u ống trước khi

ngủ, thói quen sinh hoạt trước khi ng ủ và môi trường mà người b ệnh

dùng để ngủ. Điểm trung bình thực hành vệ sinh giấc ngủ của người

bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là 30,88 ± 3,93 trên tổng s ố 65

điểm của thang đo SHI, cao hơn so với điểm số này (23/65 điểm) trong

nghiên cứu sử dụng cùng thang đo của Barker [11] nhưng ở người có

bệnh mạch vành, và sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu có lẽ là lý do

chủ yếu cho sự khác biệt về điểm số này . Trong 15 nội dung hỏi có một

số nội dung hầu hết mọi người đều đã có nhận thức nhất định về những yếu

tố có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến chất lượng giấc ngủ như hành động thư

giãn trước khi ngủ sẽ có lợi cho giấc ngủ hoặc các kiến thức về hành vi ăn

uống trước ngủ như để tình trạng khát nước đi ngủ sẽ ảnh hưởng đến chất

lượng giấc ngủ. Có thể do đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người cao tuổi bị

bệnh THA nên hầu hết mọi người đều có những kinh nghiệm hoặc quan tâm

nhất định đến các vấn đề liên quan đến sức khỏe bản thân từ nhiều nguồn.

Tuy nhiên, vẫn còn các lỗ hổng về một số kiến thức trong hành vi điều trị

giấc ngủ của người bệnh. Cụ thể 70,8% người bệnh cho rằng không nhất

thiết phải đi ngủ vào cùng một thời gian nhất định trong ngày vì người bệnh

nghĩ rằng bản thân đã khó ngủ nên khi nào cảm thấy buồn ngủ thì mới đi ngủ

còn nếu cố gắng ngủ vào một giờ nào đó thì càng khó ngủ. Đó là quan niệm



chưa đúng về thời gian ngủ của hầu hết đối tượng nghiên cứu trong nghiên

cứu của chúng tôi. Sự nhận thức chưa đúng về điều này phần nào đó có thể

sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ người bệnh. Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy rằng có sự cần thiết có những can thiệp chăm

sóc giúp người bệnh thay đổi hành vi từ bỏ những thói quen cũ b ất l ợi

cho giấc ngủ sang thực hiện những hành vi giúp cải thiện chất l ượng

giấc ngủ.

KẾT LUẬN

Người bệnh THA trong nghiên cứu có kiến thức về giấc ngủ nói chúng và

kiến thức về vệ sinh giấc ngủ cũng như kiến thức về hành vi điều tr ị gi ấc

ngủ nói riêng khơng cao đồng nghĩa với những lỗ hổng trong kiến th ức v ề

giấc ngủ của người bệnh trong nghiên cứu với điểm trung bình ki ến th ức

giấc ngủ chung là 5,18 ± 6,90 điểm, điểm kiến thức vệ sinh giấc ngủ là 6,8 ±

4,0, điểm kiến thức hành vi điều trị giấc ngủ là -1,9 ± 4,8. Đa số người bệnh

đều gặp phải các vấn đề về kiến thức vệ sinh giấc ngủ nh ư tr ả l ời sai khi

cho rằng để bụng đói sẽ có lợi cho giấc ngủ hay m ột số đ ồ uống t ưởng ch ừng

như vô hại lại làm ảnh hưởng đến CLGN của người bệnh như uống n ước chè

đặc trong ngày hay thói quen xem tivi trên giường đề đi vào gi ấc ngủ cho d ễ

hay hầu hết người bệnh cho rằng không cần thiết ph ải đi ng ủ đúng gi ờ.

Những phát hiện trong nghiên cứu của chúng tơi cho th ấy c ần có nh ững can

thiệp thay đổi kiến thức về giấc ngủ nói chúng đề nâng cao ki ến th ức và có

thể sẽ góp phần cải thiện CLGN cho người bệnh.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Nguyễn Lân Việt (2012). Dịch tễ học tăng huyết áp và các nguy c ơ tim

mạch ở Việt Nam 2001-2009, Đại hội Tim mạch toàn quốc lần th ứ 13.

Tp. Hạ Long



2.



Trần Hữu Bình (2005). Rối loạn giấc ngủ khơng thực tổn. Tài liệu

giảng dạy sinh viên y 5, Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà N ội,



3.



trang: 245-251

Gangwisch JE (2009). Epidemiological evidence for the links between sleep,

circadian rhythms and metabolism. Published in final edited form as: Obes Rev



4.



2009;10(Suppl 2):37-45

Bruno RM et al (2013). Poor sleep quality and resistant hypertension.

Sleep Medicine 2013;14:1157-1163



5. Palagini L, Bruno RM, Gemignani A, Baglioni C, Ghiadoni L, Riemann D



(2013). Sleep loss and hypertension: a systematic review. Curr Pharm

Des;19:2409–19

6.



Julie GALLASCH and Michael GRADISAR( 2007). Relationships between

sleep knowledge, sleep practice and sleep quality. Sleep and

Biological Rhythms2007;5:63–73doi:10.1111/j.1479-



7.



8425.2006.00248

Gallasch J and Gradisar M (2007). Relationships between sleep knowledge,

sleep practice and sleep quality. Sleep and Biological Rhythms 2007;5:63–73



8.



doi:10.1111/j.1479-8425.2006.00248

Lorna KP Suen; Wilson WS; Tam KL Hon ( 2010). Association of sleep

hygiene–related factors and sleep quality among university

students in Hong Kong, Hong Kong Med J 2010;16:180-5



9. James E. et al (2006). Short Sleep Duration as a Risk Factor for Hypertension.



Original Articles. 47:833-839. Available at http://hyper.ahajournals.org

10.



Bogdan Ioan Voinescu and Aurora Szentagotai-Tatar (2015). Sleep

hygiene awareness: its relation to sleep quality and diurnal preference

Voinescu and



Szentagotai-Tatar Journal of Molecular Psychiatry



(2015) 3:1

11.



Barker TM (2008). A descriotion of sleep patients and sleep hygiene pratice for

adults in cardiac rehabilitation programs in southern Nontana, a thesis of

Master of Science in Nursing, Montana State University.



12. Lloyd-Jones D, Adams RJ, Brown TM et al (2010). Heart disease and stroke



statistics 2010 update: a report from the American Heart Association.

Circulation 2010; 12: e46-e215



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng kiến thức giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×