Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2- Chi phí sản xuất và mối quan hệ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

2- Chi phí sản xuất và mối quan hệ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

15

Khoa Kinh Tế



khỏc m doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, biểu

hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.

Như vậy bản chất của chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp luôn

được xác định là: Những phí tổn (hao phí) về tài nguyên, vật chất, về lao

động và gắn liền với mục đích kinh doanh.

1.2.1.3- Phân loại chi phí sản xuất:

Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau

cả về nội dung, tính chất vai trò cơng dụng, vị trí,., trong q trình kinh

doanh để thuận lợi cho cơng tác quản lý và hạch toán cần phải tiến hành

phân loại chio phí sản xuất. Xuất phát từ các yêu cầu và mục đích khác

nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức

khác nhau.

Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng

loại từng nhóm khác nhau.

a- Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và cơng dụng

kinh tế:

* Chi phí hoạt động chính và phụ:

- Bao gồm chi phí tạo ra doanh thu bán hàng của hoạt động sản xuất kinh

doanh. Căn cứ vào chức năng- cơng dụng của chi phí, các khoản chi phí

này được chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

- Chi phí sản xuất của Doanh nghiệp bao gồm:

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là tồn bộ chi phí ngun vật liệu

được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao v dch v.

Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

16

Khoa Kinh Tế



+ Chi phí nhân cơng trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản phải

trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của

cơng nhân sản xuất như kinh phí Cơng đồn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

+ Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến

việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản

xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau:

 Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí tiền lương, các khoản

phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội

sản xuất.

 Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân

xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.

 Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí về cơng cụ, dụng cụ dùng ở phân

xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý phân xưởng.

 Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): Bao gồm tồn bộ chi phí

khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và sử

dụng.

 Chi phí dịch vụ mua ngồi: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài

dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và

đội sản xuất.

 Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho

việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất.

- Chi phí ngồi sản xuất gồm:

+ Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thơng và chi phí tiếp thị phát sinh

trong q trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này

có: Chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí

Bïi ThÞ Hun Trang- Líp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

17

Khoa Kinh TÕ



nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản

phẩm hàng hoá.

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các khoản chi phí liên quan đến việc

phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung tồn doanh nghiệp.

Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm: Chi phí nhân viên quản lý, chi phí

vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng - khấu hao TSCĐ dùng chung tồn

doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí khánh tiết, hội

nghị...

* Chi phí khác:

Là các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động ngồi hoạt động sản

xuất kinh doanh chức năng của doanh nghiệp.

Chi phí khác bao gồm:

+ Chi phí hoạt động tài chính: Là những chi phí và các khoản lỗ liên

quan đến các hoạt động về vốn như: chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài

chính, chi phí liên quan cho vay vốn, lỗ liên doanh...

+ Chi phí bất thường: Là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện

hay các nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước

được như: Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp

đồng, các khoản phạt, truy thu thuế... chi phí bất thường gồm:

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua

ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Chi phí khác bằng tiền: Là các chi phí bằng tiền phát sinh trong q

trình sản xuất kinh doanh ngồi các yếu tố chi phớ núi trờn.

Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

18

Khoa Kinh Tế



b- Phõn loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá

trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.

* Chi phí ban đầu:

Là các chi phí mà doanh nghiệp phải lo liệu mua sắm, chuẩn bị từ

trước để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Căn cứ vào tính chất kinh tế và hình thái ngun thuỷ của chi phí, chi

phí ban đầu được xếp thành các yếu tố chi phí khác nhau, khơng kể chi phí

phát sinh ở địa điểm nào, dùng vào việc gì.

- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua nguyên vật

liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm:

Chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên

liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí ngun vật liệu khác.

- Chi phí nhân cơng: yếu tố chi phí nhân cơng là các khoản chi phí về

tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích BHXH, BHYT,

KPCĐ theo tiền lương của người lao động.

- Chi phí khấu hao TSCĐ: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của

tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh

nghiệp.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi:

Chi phí dịch vụ mua ngồi là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua

ngoài phục vụ cho các hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

Việc hiểu rõ yếu tố chi phí này giúp nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức

dịch vụ có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để thiết lập quan hệ

trao đổi, cung ứng với các đơn vị cung cấp tt hn.

Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

19

Khoa Kinh Tế



- Chi phớ khác bằng tiền:

Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong q trình SXKD ngồi

các yếu tố chi phí nói trên.

* Chi phí ln chuyển nội bộ:

Là các chi phí phát sinh trong q trình phân cơng và hợp tác lao động

trong doanh nghiệp.

Ví dụ: Giá trị lao vụ sản xuất phụ cung cấp lẫn nhau trong các phân

xưởng, giá trị bán thành phẩm tự chế được sử dụng làm nguyên vật liệu

trong quá trình chế biến khác trong doanh nghiệp.

Như vậy phân loại chi phí SXKD theo yếu tố đầu vào của q trình

SXKD có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý vĩ mô cũng như đối với

quản trị doanh nghiệp. Chi phí SXKD theo yếu tố chi phí đầu vào là cơ sở để

lập và kiểm tra việc thực hiện dự tốn chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu

tố, là cơ sở để lập kế hoạch cân đối trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc

dân, cũng như ở từng doanh nghiệp, là cơ sở xác định mức tiêu hao vật chất,

tính thu nhập quốc dân cho ngành, toàn bộ nền kinh tế.

c- Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí

với các khoản mục trên báo cáo tài chính (Theo mối quan hệ giữa chi

phí với từng thời kỳ tính kết quả kinh doanh):



* Chi phí sn phm:



Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

20

Khoa Kinh Tế



- Chi phớ sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản

xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hố để bán. Đối với doanh nghiệp sản

xuất chi phí sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí

nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung.

- Khi sản phẩm hàng hoá chưa được bán ra thì chi phí sản phẩm nằm

ở chỉ tiêu giá vốn hàng tồn kho trong bảng cân đối kế toán. Chỉ khi nào sản

phẩm hàng hoá đã được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí “giá

vốn hàng bán”. Trong báo cáo kết quả kinh doanh và được bù đắp bằng

doanh thu (thu nhập) của số sản phẩm hàng hoá đã bán.

Như vậy, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải

qua nhiều kỳ SXKD khác nhau.

* Chi phí thời kỳ:

- Là các chi phí để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, không tạo nên giá

trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà chúng phát

sinh.

- Chi phí thời kỳ: Bao gồm chi phí bảo hiểm và chi phí quản lý doanh

nghiệp: Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay vào kỳ đó và

ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà chúng phát sinh và được ghi nhận trên

báo cáo kết quả kinh doanh.

Ngược lại chi phí sản phẩm chỉ phải tính để xác định kết quả ở kỳ sau

mà sản phẩm được tiêu thụ, khơng phải tính ở kỳ mà nó phát sinh.

Ngồi các cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh như trên con có

các cách phân loại chi phí sản xuất khác như:

Bïi ThÞ Hun Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hµ Néi

21

Khoa Kinh TÕ



-Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp chi phí

vào các đối tượng kế tốn chi phí (theo phương pháp quy nạp).

- Phân loại chi phí SXKD theo mối quan hệ với qui trình cơng nghệ

sản xuất sản phẩm và q trình kinh doanh:

- Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

1.2.2. Giá thành sản phẩm:

1.2.2.1. Khái niệm và bản chất của giá thành:

* Khái niệm:

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao

phí về lao động sống và lao động vật hố có liên quan đến khối lượng cơng

tac s, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả

sử dụng tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong q trình sản xuất, cũng

như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ

mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ thấp chi

phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là căn cứ để xác định

giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. Vì vậy, sản

phẩm sản xuất ra cần phải tính giá thành. Nhất là trong điều kiện nền kinh tế

thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp thì đòi hỏi sự

cần thiết là các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến mặt hàng, nâng cao

chất lượng sản phẩm và hạ giá thành để từ đó tăng nguồn lợi cho doanh

nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường trong và ngồi

nước.

* Bản chất:

Bïi ThÞ Hun Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hµ Néi

22

Khoa Kinh TÕ



Xét về bản chất giá thành sản phẩm phản ánh lượng giá trị của những

hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự bỏ ra cho sản xuất tiêu

thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm bao gồm những chi phí phát sinh

tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm

được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà khơng gồm những chi phí

phát sinh trong kì kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá

thành phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho

sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản

đơn hao phí lao động sống. Giá thành biểu hiện một cách chính xác những

chi phí phát sinh tạo ra sản phẩm và nó được tính cho từng loại, từng sản

phẩm. Trong giá thành sản phẩm khơng bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm

hỏng, sản phẩm dở dang cuối kì. Mọi tính tốn chủ quan không phản ánh

đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể gây ra cho doanh nghiệp

những hậu quả khơng thể nói trước. Nắm rõ bản chất của giá thành sẽ giúp

cho kế tốn có đựơc những phương pháp tính giá thành một cách khoa học,

chuẩn xác.

Cơng thức chung để tính giá thành đơn vị sản phẩm:

Chi phí sản xuất

Kết quả sản xuất

Qua cơng thức trên ta có thể rút ra nhận xét: Để hạ thấp được giá thành

Zđvsp =



sản phẩm thì một mặt phải tiết kiệm chi phí sản xuất, mặt khác phải sử dụng

chi phí một cách hợp lý để tăng cường kết quả sản xuất.

1.2.2.2. Phân loại giá thành:

Để đáp ứng các yêu cầu quản lý, hoạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng

như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều

góc độ, nhiều phạm vi tính tốn khác nhau. Việc phân loại giá thành s giỳp

Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

23

Khoa Kinh Tế



phõn tớch c những biến động của chi tiêu giá thành và chiều hướng của

chúng để có biện pháp quản lý thích hợp.

* Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành:

- Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí

sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế

hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá

trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu

của doanh nghiệp là căn cứ để phân tích kế hoạch hạ giá thành.

- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các

định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Việc tính

giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế

tạo sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh

nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao

động giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ

thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình sản xuất nâng cao hiệu

quả sản xuất kinh doanh.

- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu

chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kì cũng như sản

lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế được xác

định sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế

là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp

trong việc tổ chức và sử dụng các yếu tố lao động trong doanh nghiệp.

* Phân loại GTSP theo phạm vi phát sinh chi phí:

- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành cơng xưởng) bao gồm chi phí

nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính

cho sản phẩm, cơng việc hay lao vụ đã hồn thành. Giá thnh sn xut c

Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

24

Khoa Kinh Tế



s dụng để ghi sổ kế toán thành phẩm nhập kho hoặc giao cho khách hàng

và là căn cứ để tính giá vốn hàng bán, lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.

- Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ) là chỉ tiêu phản ánh tồn bộ các

khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

Giá thành toàn bộ

của sản phẩm



=



Giá thành sản



+



xuấtcủa sản phẩm



Chi phí quản lý

doanh nghiệp



+



Chi phí

bán hàng



Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh

doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh

doanh.

1.2.3. Mối liên hệ quan hệ chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Chi phí sản xuất và giá thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:

Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Bởi vì ta thấy rằng

đứng trên góc độ q trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất

là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm

thực hiện tại một điểm cắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối

lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Tại thời điểm tính giá thành

có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hồn thành, chứa đựng một

lượng chi phí cho nó, đó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tương tự

như vậy, đầu kỳ có thể có một số khối lượng sản phẩm sản xuất chưa

hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang để tiếp tục sản xuất, chứa đựng một

lượng chi phí cho nó - đó là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ. Như vậy,

giá thành sản phẩm hồn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất cuối

kỳ trước chuyển sang và một phần của chi phí sản xuất phát sinh trong

kỳ.

Giá thành =



Chi phí sản +



Chi phớ sn -



Bùi Thị Huyền Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Chi phớ sn



Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội

25

Khoa Kinh TÕ



sản phẩm



xuất dở dang



xuất phát sinh



xuất dở dang



đầu kỳ

trong kỳ

cuối kỳ

Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn



chi phí tính vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tuỳ thuộc

vào quan điểm tính tốn xác định chi phí, doanh thu và kết quả cũng như

quy định của chế độ quản lý kinh tế - tài chính, chế độ kế tốn hiện hành.

Những quan điểm đó đơi khi khơng hồn tồn phù hợp với bản chất của chi

phí và giá thành sản phẩm, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải

nhận thức rõ ràng đầy đủ để sử dụng thơng tin cho thích hợp.

Trong cơng thức tính giá thành sản phẩm trên, giá thành sản phẩm được

hiểu là giá thành sản xuất, chi phí bao gồm các chi phí liên quan đến quá

trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, khơng bao gồm chi phí liên quan đến việc

tiêu thụ sản phẩm và các khoản chi phí liên quan đến hoạt động quản lý

doanh nghiệp.

Trong nhiều trường hợp chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm là một.

Như trường hợp doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm khơng có sản phẩm dở

đầu kỳ và cuối kỳ, kỳ hạch toán với chu kỳ sản xuất phù hợp với nhau.

Trong hoạch tốn khơng phải trích trước chi phí, khơng có những chi phí

phát sinh một lần quá lớn phải phân bổ dần (điện, bưu chính viễn thơng...).

1.3.Cơng tác kế tốn chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất.

1.3.1. Nguyên tắc hoạch tốn chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản

xuất:

Để đảm bảo kế tốn đầy đủ, chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản

phẩm, cung cấp thơng tin kịp thời cho quản trị doanh nghiệp, kế toán cần

quán triệt các nguyên tắc sau:

- Phải nắm vững nội dung, bản chất kinh tế của chi phí.

Bïi ThÞ Hun Trang- Lớp LTTCĐHKT2-K1

Chuyên đề tốt nghiệp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2- Chi phí sản xuất và mối quan hệ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×