Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lignan là một lớp chất tồn tại phổ biến trong tự nhiên. Về mặt cấu tạo chúng được tạo bởi 2 đơn vị phenyl propanoid.

Lignan là một lớp chất tồn tại phổ biến trong tự nhiên. Về mặt cấu tạo chúng được tạo bởi 2 đơn vị phenyl propanoid.

Tải bản đầy đủ - 0trang

28

4-hydroxy-3-methoxy-



3,8-dihydroxy-9-



8,9-



methoxypterocarpan



methylenedioxypterocarp



(138)



(+)-(6aS, 11aS) –3-acetoxy-



an (137)



R1= R3=OH, R2=OCH3,



9-methoxypterocarpan (136)



R1= R3=OCH3, R2=



R4=H



R4=OH

Hình 1.19. Cấu trúc các hợp chất ligan

1.2.18. Lớp chất benzophenon

Qua tổng hợp tài liệu cho thấy các hợp chất benzophenon được tìm thấy rất ít.

Chỉ có 2 hợp chất được phân lập: 2,4-dihydroxy-5-methoxybenzophenone (139), 2methoxy-3-hydroxyxanthone (140), chúng được tách ra từ rễ và lõi gỗ lồi D.

odorifera [25, 48].



2,4-dihydroxy-5methoxybenzophenone (139)



2-methoxy-3hydroxyxanthone (140)



Hình1.20. Cấu trúc các hợp chất benzophenon

1.2.19. Lớp chất terpenoid

Terpenoid cũng được tìm thấy ở Chi này. Tao và cộng sự (2010) đã phân lập

2 hợp chất terpenoid từ loài D. odorifera T. Chen là (3S,6R,7R)-3,7,11-trimethyl-3,6epoxy-1,10-dodecadien-7-ol (141) và (3S,6S,7R)-3,7,11-trimethyl-3,6-epoxy-1,10dodecadien-7-ol (142) [56].

Songsiang và cộng sự (2011), đã phân lập từ lõi gỗ lồi D. parviflora được 15

hợp chất, trong đó có chất: dalberpene (143) [50].



OH



O



29

(3S,6R,7R)-3,7,11-



(3S,6S,7R)-3,7,11-



Dalberpene (143)



trimethyl-3,6-epoxy-



trimethyl-3,6-epoxy-1,10-



1,10-dodecadien-7-ol



dodecadien-7-ol (142)



(141)

Hình 1.21. Cấu trúc các hợp chất terpenoid

1.2.20. Các lớp chất khác

Bên cạnh những lớp chất phenol chính được liệt kê trong các nghiên cứu ở trên,

còn có rất nhiều hợp chất phenolic dạng khung khác từ các loài Dalbergia cũng được

phân lập và xác định cấu trúc hóa học. Các hợp chất được phân lập bởi nhóm tác giả

Van Heerden, Songsiang, Cheenpracha, Dixit, Kuroyanagi, v/v có cơng thức cấu tạo

như sau:



(6aR,llaR)-3,8-dihydroxy-9methoxyptcrocarpan (144) [12]



3-hydroxy-2,4-dimethoxybenzaldehyde

(145) [28, 50]



(3R)-calussequinone (146) [28]



genistein-6-C-glucoside (147) [12]



Maackiain (148) [12]



Obtusafuran (149) [12]



(R)-4-methoxydalbergione (150) [36]



(S)-4-methoxydalbergione (151) [12]



Cearoin (152) [27]



Nutiducol (153) [12] R=Geranyl



30



Geranyl



Latifolin (154)

[[12, 49]]

R1= R4=H

R2=CH3,

R3=OH



2,4,5-trimethoxy3’hydroxydalbergiqui

nol (155) [49, 53]

R1= R2=CH3

R3=H, R4=OH



5-Omethoxylatifolin

(156) [12]

R1= R2=CH3

R3=OH, R4=H



Latinone (158) [54]



4,5-dimethoxy-2hydroxydalbergiquinol

(157) [49]

R1=CH3

R2= R3= R4=H



Candenatenin F (159) [38]



(E)-4-methoxy-2-(3,4-dihydroxybenzylidene)-4-oxobutanoic acid (160) [12]

Hình 1.22. Cấu trúc các hợp chất khác

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CHI

TRẮC (DALBERGIA) Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam có 27 lồi và đã có 4 lồi được nghiên cứu về mặt hóa học. Đã tách ra

26 chất, trong đó có 5 hợp chất mới được tách ra [15, 17, 51]. Các nghiên cứu được chúng

tôi thống kê cụ thể (bảng 1.14).

Bảng 1.14. Danh sách các lồi Dalbergia đã được nghiên cứu về thành phần hóa

học ở Việt Nam

Stt



Tên loài



Bộ phận



Vùng lấy

mẫu



TLTK



31



1



D. cochinchinensis

(Trắc)



Thân gỗ (giác và lõi)



Đăk Lăk



[17,

54]



2



D. tonkinensis

(Sưa)



Chưa rõ bộ phận



Miền Bắc



[15]



3



D. vietnamensis (Trắc Gai)



Thân gỗ (giác và lõi)



Đăk Lăk



[70]



4



D. oliveri (Cẩm Lai)



Thân gỗ (giác và lõi)



Đăk Lăk



[64]



Shirota và công sự (2003), đã phân lập được 6 hợp chất từ lõi gỗ loài D.

cochinchinensis. Trong đó có 3 hợp chất mới: 2-[4,5-dimethoxy-5-(3-phenyl-transallyl)cyclohexa-3,6-dien-2-on-1-ylmethyl]-5-hydroxy-6-methoxy-3phenylbenzofuran (161), 2-[4,5-dimethoxy-2-(3-phenyl-trans-allyloxy)benzyl]-5hydroxy-6-methoxy-3-phenylbenzofuran (162), 2-(2-hydroxyl-1-methyl-2 phenylethyl)-4,5-dimethoxyphenol (163) và 3 hợp chất đã biết: 4′-hydroxy-2′methoxychalcone (117), latinone (158) và dalbergiphenol (164) [54].

Trần Tuấn Anh và cộng sự (2009), đã phân lập được 3 hợp chất từ loài D.

tonkinensis : genistein (63), lanceolarin (38) và 9,10-threo-3-[7-(3,10-dihydroxy-9hydroxymethyl-2,5-dimethoxy)-9,10- dihydrophenanthrenyl]propenal (165) [15].

Phạm Thanh Loan và cộng sự (2012) đã phân lập được 4 hợp chất từ thân gỗ

của loài D. vietnamensis (Trắc Gai), trong đó có 2 hợp chất đã biết: caviunin (67) ,

caviunin [7-O- -D- apiofuranosyl-(16)- -D-glucopyranoside] (166) và 2 hợp chất

mới: dalspinosin 7-O-[ -D-apiofuranosyl-(16)- -D-glucopyranoside] (167) và

caviunin[7-O-(5-O-trans-p-coumaroyl)- -D-apiofuranosyl-(16)- -Dglucopyranoside] (168) [70].

Cùng thời gian này, Phạm Thanh Loan và cộng sự (2012) đã phân lập được 9

hợp chất từ thân gỗ của loài D. oliveri (Cẩm Lai): liquiritigenin (15), (3R)-5′methoxyvestitol (4), (6aS,11aS)-medicarpin (169), (6aS,11aS)-8-hydroxymedicarpin

(170), maackiain (148), formononetin (67), (3R)-violanone (33) và isoliquiritigenin

(116) và 4 hợp chất từ thân gỗ của loài D. cochinchinensis (Trắc): 5-O-methyllatifolin

(156), 2,4,5-trimethoxydalbergiquinol (171), (S)-4-methoxydalbergione (151) và

obtusafuran (149) [17, 51].



32



Dalbergia cochinchinensis



2-[4,5-dimethoxy-5-(3-phenyl-



2-[4,5-dimethoxy-2-(3-phenyl-



2-(2-hydroxyl-1-methyl-2 -



trans-allyl) cyclohexa-3,6-dien-



trans-allyloxy)benzyl]-5-



phenylethyl)-4,5-



2-on-1-ylmethyl]-5-hydroxy-6-



hydroxy-6-methoxy-3-



dimethoxyphenol



methoxy-3-phenylbenzofuran



phenylbenzofuran



(163)



(161)



(162)



4’-hydroxy-2’-methoxychalcone



latinone (158)



dalbergiphenol (164)



5-O-methyllatifolin



2,4,5-



(S)-4-methoxydalbergione



(156)



trimethoxydalbergiquinol



(151)



(117)



(171)



Obtoxafuran

(149)

Dalbergia tonkinensis (Sưa)



33



genistein (63)

R1= R2= R4= R6= R8=H

R3= R5= R7=OH



lanceolarin (38)

R1=OCH3, R2= R4=H

R3=-β-D-Apiofuranosyl(16)-β-D-glucopyranoside



9,10-threo-3-[7-(3,10-dihydroxy9-hydroxymethyl-2,5-dimethoxy)9,10dihydrophenanthrenyl]propenal

(165)

Dalbergia vietnamensis (Trắc Gai)



Dalspinosin 7-O-[-D-apiofuranosyl-(16)-D-glucopyranoside] (167)



Caviunin [7-O-(5-O-trans-p-coumaroyl) -Dapiofuranosyl-(16)--D- glucopyranoside]

(168)



Caviunin (67)

R1= R3= R4= R6=OCH3

R2= R5= R8=H, R7=OH



Caviunin [7-O--D- apiofuranosyl-(16)-D- glucopyranoside] (166)



Dalbergia oliveri (Cẩm Lai)



liquiritigenin (15)



(3R)-5′-methoxyvestitol (4)



(6aS,11aS)-medicarpin (169)



(6aS,11aS)-8hydroxymedicarpin (170)



Maackiain (148)



Formononetin (67)

R1= R2= R3= R4= R5= R6=H



34



(3R)-Violanone (33)



Isoliquiritigenin (116)



Hình 1.23. Cấu trúc các hợp chất phân lập từ chi Trắc (Dalbergia) ở Việt Nam

Qua các nghiên cứu hóa học ở Việt Nam về chi Trắc (Dalbergia), chúng tôi

nhận thấy: việc nghiên cứu thành phần hóa học các lồi còn đang rất ít. Chỉ có 4 lồi

trên tổng số 27 lồi được nghiên cứu về mặt hóa học. Đặc biệt những nghiên cứu hóa

học về lồi Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) vẫn còn khiêm tốn và chỉ mới phân lập

được 3 hợp chất.

1.4. HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA CHI TRẮC (DALBERGIA)

Từ năm 1967 đến nay, khoảng hơn 259 hợp chất đã được phân lập và xác định

cấu trúc từ các bộ phận của 21 lồi thuộc chi Trắc (Dalbergia), trong đó có khoảng

42 hợp chất mới. Cùng với quá trình nghiên cứu về mặt hóa học, thì việc nghiên cứu

hoạt tính sinh học và tác dụng dược lý của các cặn chiết, các hợp chất tinh khiết từ

chi này luôn được phát triển và hoàn thiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy chi Trắc

Dalbergia có phổ hoạt tính sinh học rộng và mạnh [12]. Một số hoạt tính đáng quan

tâm như kháng u, kháng ung thư, kháng viêm, kháng dị ứng, kháng trùng sốt rét, chống

oxy hố, kháng dị ứng, chống huyết khối, kìm hãm estrogen, hoạt tính giảm đau, kháng

vi sinh vật kiểm định. Trong đó, nổi bật là các hoạt tính kháng androgen, tác dụng tim

mạch, gây độc một số dòng tế bào ung thư khác nhau tập chung vào lớp chất flavone

và flavanone của loài D. odorifera [ 27, 58-60].

1.4.1. Hoạt tính chống oxi hóa

Năm 2006, Sofidiya và cộng sự đã nghiên cứu khả năng chống oxi hóa từ cao

chiết methanol của loài D. saxatilis, kết quả cho thấy cặn chiết này có tác dụng chống

oxi hóa trên hệ 1,1- diphenyl-2-picrylhydrazyl [61]. Đến năm 2011, Khalid và cộng

sự đã nghiên cứu và đánh giá về khả năng chống oxi hóa của dịch chiết EtOH từ vỏ

của loài Hồng Sắc Ấn Độ D. latifolia bằng nhiều phương pháp khác nhau được tiến hành

trên hệ DPPH, NO, thiocyanate. Kết quả cho thấy chúng có khả năng chống oxi hóa [62].



35

Cũng trong thời gian này Bala và cộng sự cũng báo cáo dịch chiết methanol của vỏ lồi

D. spinosa có khả năng chống lại gốc tự do DPPH rất tốt [63].

Ngoài một số kết quả nghiên cứu nước ngồi thì một số nghiên cứu được báo cáo

bởi trong nước bởi Phạm Thanh Loan (2014) và cộng sự, kết quả đánh giá hoạt tính chống

oxi hóa trên hệ DPPH từ dịch chiết MeOH của lá, cành và quả của loài Sưa (D. tonkinensis)

cho thấy: Dịch chiết MeOH từ quả lồi Sưa (D. tonkinensis) có tác dụng quét gốc tự do

trên hệ DPPH ở mức trung bình với giá trị SC50 là 117,5 𝜇 g/ml so với axit ascorbic (SC50

là 20,5 𝜇 g/ml); Dịch chiết từ các bộ phận còn lại khơng thể hiện hoạt tính chống oxi hóa

trên hệ DPPH. Tiếp đó đánh giá khả năng bảo vệ tế bào gan khỏi tác nhân oxi hóa từ dịch

chiết MeOH của lá, cành lồi Sưa (D. tonkinensis). Kết quả cho thấy chúng khơng có khả

năng bào vệ tế bào gan dưới tác động của tác nhân oxi hóa H2O2 tại nồng độ 100 𝜇 g/ml.

Cũng nhóm tác giả này đã tiến hành đánh giá thêm khả năng bảo vệ tế bào gan khỏi tác

nhân oxi hóa từ dịch chiết MeOH của gỗ loài Trắc (D. cochinchinensis).

Các hợp chất được sàng lọc ở nồng độ ban đầu là 100 𝜇 g/ml. Kết quả cho thấy

dịch chiết MeOH từ gỗ lồi Trắc (D. cochinchinensis) có khả năng bào vệ được trên

50% tế bào gan dưới tác động của tác nhân oxi hóa H2O2 tại nồng độ 100 𝜇 g/ml. Vì

vậy, chúng được tiếp tục nghiên cứu và xác định giá trị ED50 (là giá trị hoạt chất tại

đó bảo vệ 50% sự sống sót của tế bào gan). Kết quả cho thấy dịch chiết MeOH của

gỗ loài Trắc (D. cochinchinensis) đã thể hiện hoạt tính bảo vệ tế bào gan mạnh với

giá trị ED50 là 9,39 𝜇 g/ml tương đương với curcumin (ED50 là 8,99 𝜇 g/ml) [17].

Bảng 1.15. Giá trị ED50 của dịch chiết MeOH từ gỗ lồi Trắc (D.

cochinchinensis)

Nồng độ (𝜇 g/ml)

100

20

4

0,8

ED50



% sự sống sót

Dịch chiết MeOH từ gỗ loài

Trắc (D. cochinchinensis)

62,35

53,53

45,19

33,27

9,39



Curcumin

88,20

71,66

22,54

0,78

8,99



36

Cùng với việc nghiên cứu hoạt tính oxi hóa các cặn chiết thì việc đánh giá hoạt

tính trên các chất sạch được thực hiện. Năm (1998) Cheng và cộng sự, đã đánh giá

hoạt tính chống oxi hóa của butein (113) được phân lập từ lồi D. odorifera, kết quả

hợp chất này ức chế quá trình oxi hóa lipid do sắt gây ra ở chuột đồng với giá trị IC50

3,3 ± 0,4 μM tương đương với vitamin E trong việc dọn các gốc tự do trên hệ

diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) tự do ổn định với IC50 là 9,2μM. Nó cũng ức chế

hoạt động của xanthine oxidase với IC50, 5,9 ± 0,3 μM [42].

Năm (2000) Wang và cộng sự đã phân lập được 9 hợp chất từ Dalbergia odorifera

T. Chen, trong đó có 1 hợp chất mới là 2,4-dihydroxy-5-methoxybenzophenone (139) và

8 hợp chất đã biết là 3R-2′,3′,7-trihydroxy-4′-methoxyisoflavanone (36), 3′methoxydaidzein (60), 4′,5,7-trihydroxy-3-methoxyflavone (55), (3R)-vestitol (2),

medicarpin (135). Sau đó, nghiên cứu tiềm năng chống oxy hóa thì thấy các hợp

chất này có hoạt tính oxi hóa mạnh, đồng thời nếu các hợp chất này khi được trộn

với α-tocopherol thì các yếu tố bảo vệ của chúng tăng lên. Ngoài ra, các hợp chất

này còn được đánh giá trên hệ thống ổn định oxi hóa ở 100˚C. Kết quả cho thấy, 5 hợp

chất bao gồm 2,4-dihydroxy-5-methoxybenzophenone (139), (3R)-2′, 3′, 7-trihydroxy-4′methoxyisoflavanone (36), 3′-methoxydaidzein (60), 4’,5,7-trihydroxy-3-methoxyflavone

(55), (3R)-vestitol (2) và medicarpin (135) có hoạt tính chống oxi hóa mạnh [31].

Đến năm 2011, nhóm nghiên cứu của Hou và cộng sự đã phân lập được các hợp

chất từ lõi lõi gỗ của loài D. odorifera T.Chen, tuy nhiên trong số đó chỉ có 2 hợp chất là

naringenin (14) và eriodictoyl (20) có hoạt tính chống oxi hóa mạnh hơn BHT [32].

Nhận xét: theo như các cơng trình đã nghiên cứu trước đây thì các hợp chất có

hoạt tính chống oxi hóa hầu như được phân lập từ loài D. odorifera.

Bảng 1.16. Giá trị IC50 của naringenin và eriodictoyl so với BTH

Hợp chất



Nồng độ



Naringenin



0,012%

4,20 ± 0,02



0,02%

5,57 ± 0,07



Eriodictoyl

BHT



6,48 ± 0,31

3.61 ± 0.10



9,32 ± 0,28

4.22 ± 0.48



37

Năm 2013, Phạm Thanh Loan và các cộng sự đã phân lập và nghiên cứu các hợp

chất trong gỗ loài Cẩm lai (D. oliveri), kết quả cho thấy trong 10 hợp chất được đánh giá

bằng thử nghiệm kiểm tra chống oxi hóa in invitro trên tế bào gan phân lập, chỉ có hoạt

chất (6aR, llaR)-3,8-dihydroxy-9-methoxyptcrocarpan (144) có khả năng bảo vệ hơn

50% tế bào gan chuột dưới tác động của tác nhân oxi hóa mạnh là H2O2, với ED50 là

31,46 𝜇 g/ml so với chất đối chứng là curcumin với ED50 là 8,99 𝜇 g/ml. Như vậy, hợp

chất này được đánh giá khả năng chống oxi hóa ở mức trung bình [64].

1.4.2. Hoạt tính gây độc tế bào

Năm 2013, chiết xuất methanol của gỗ cứng của D. odorifera có khả năng ức

chế đáng kể và mạnh mẽ sự gia tăng các dòng tế bào khối u của con người, bao gồm

các tế bào kháng đa kháng thể in vitro [49].

Năm 2014, Phạm Thanh Loan và cộng sự đã đánh giá hoạt tính gây độc tế bào

từ cặn MeOH của một số loài Dalbergia phân bố ở Việt Nam như: Dalbergia oliveri,

Dalbergia cochinchinensis, Dalbergia sp, Dalbergia discolor, Dalbergia aff,

Dalbergia burmanica, Dalbergia pierriana. Kết quả cho thấy, chỉ có mẫu lồi trắc

Dalbergia cochinchinensis thể hiện hoạt tính kháng 2 dòng tế bào ung thư là ung thư

phổi (Lu) và ung thư màng tim (RD). Ở nồng độ 17,98 μg/ml có 50% dòng tế bào Lu

bị ức chế và ở nồng độ 15,76 μg/ml có 50% dòng tế bào RD bị ức chế. Các mẫu còn

lại đều khơng biểu hiện có hoạt tính gây độc tế bào. Còn lồi Cẩm lai Dalbergia

oliveri cũng thể hiện hoạt tính gây độc trên dòng tế bào Hep-G2 với giá trị IC50 là

45,71 μg/ml [17].

Cùng với việc đánh giá hoạt tính từ cao chiết. Các hợp chất được phân lập từ

các loài Dalbergia trong chi này cũng được đánh giá hoạt tính gây độc trên một số

dòng tế bào ung thư. Kết quả cho thấy khá nhiều các hợp chất thể hiện hoạt tính gây

độc tế bào.

Năm 2003 Ito và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính kháng u của các hợp chất bằng

cách kích hoạt virus Epstein-Barr trên dòng tế bào Raij. Kết quả cho thấy, các hợp chất

olibergin B (91) từ gỗ loài Cẩm lai (D. oliveri), dalberatin A (118) và B (119) từ gỗ loài

Trắc dao (D. cultrata) và dalberatin C (120) và E (122) từ gỗ lồi Trắc đen (D.

nigrescens) cho thấy có tác dụng kháng u. Hơn nữa, các nghiên cứu này cũng chỉ ra



38

nhóm prenyl và geranyl trong isoflavonoid có ảnh hưởng quan trọng trong việc ức chế

sự tiết ra quá trình khởi sinh kháng thể siêu vi Epstein-Barr [12, 52].

Năm 2007, Yu và cộng nghiên cứu hoạt tính gây độc trên dòng tế bào ung thư

thần kinh người SH-SY5Y của các hợp chất, formononetin (69), (3R)-5′methoxyvestitol (4), odoriflavene (7) và 2'-O-methylisoliquiritigenin (114) phân lập

từ rễ loài D. odorifera T.Chen. Kết quả, 4 hợp chất này đều ức chế mạnh sự phát triển

của dòng tế bào SH-SY5Y với IC50 lần lượt tương ứng là 13,4, 28,5, 11,2 và 32,5μM

[47].

Năm 2007, từ loài D. oliveri Gamble ex Prain, hợp chất (3R)-mucronulatol (9)

được phân lập cho thấy hoạt tính độc tế bào đáng kể đối với dòng tế bào bạch cầu

HBL100 với giá trị LC50 lên đến 5,7 μM [21].

Năm 2009, Choi và cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất từ chiết xuất methanol

của cây gỗ của D. odorifera. Các hợp chất này ức chế đáng kể sự gia tăng của các

dòng tế bào khối u ở người, kể cả các tế bào kháng đa kháng sinh trong ống nghiệm.

7 flavonoid gồm medicarpin (135), 3-hydroxy-2,4-dimethoxybenzaldehyde (145),

formononetin (69), tectorigenin (88), (3R)-mucronulatol (9), (3R)-5′-methoxyvestitol

(4), hydroxyobustyrene (127) cùng 2 phenolic bao gồm liquiritigenin (15) và (3R) calussequinone (146) [28].

Kết quả, trong 9 hợp chất thì có 2 hợp chất là medicarpin (135) và

hydroxyobtustyrene (127) biểu hiện hoạt tính độc tế bào mạnh nhất với giá trị ED50

là 5,8-7,3 và 5,1-6,8 µg /ml.

Năm 2009, Cheenpracha cùng các cộng sự, tiến hành đánh giá hoạt tính gây

độc tế bào của 10 hợp chất phân lập được từ gỗ lồi Trắc một hạt (D. candenatensis)

trên các dòng tế bào HT-29 (ung thư ruột kết), KB (ung thư biểu mô), MCF-7 (ung

thư vú), HeLa (ung thư cổ tử cung). Kết quả chỉ ra rằng, các hợp chất candenatenin

B (124) và candenatenin C (125) thể hiện hoạt tính mạnh với dòng tế bào HT-29 (IC50

lần lượt 17,8 và 19,7 μM), Ngoài ra, có hoạt tính trung bình với 3 dòng tế bào KB,

MCF-7 và HeLa (IC50 từ 48,8-83,7 so với chất đối chứng camptothecin IC50 từ 1,222,44 μM) [38].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lignan là một lớp chất tồn tại phổ biến trong tự nhiên. Về mặt cấu tạo chúng được tạo bởi 2 đơn vị phenyl propanoid.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×