Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



quả bán hàng. Kết quả bán hàng là sự phản ánh bằng giá trị tình hình hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.2. Yêu cầu quản lý quá trình bán hàng, kết quả bán hàng:

Quản lý quá trình bán hàng và kết quả bán hàng là một yêu cầu thực tế,

nó xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý tốt

khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ tiêu hồn thành kế hoạch tiêu thụ và

đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Do

vậy vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là:

- Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với

từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hoạt động kinh tế.

- Quản lý chất lượng, cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản

phẩm là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

- Quản lý theo dõi từng phương thức bán hàng, từng khách hàng, tình

hình thanh tốn của khách hàng, u cầu thanh tốn đúng hình thức, đúng hạn

để tránh hiện tượng mất mát, thất thoát, ứ đọng vốn. Doanh nghiệp phải lựa

chọn hình thức tiêu thụ sản phẩm đối với từng đơn vị, từng thị trường, từng

khách hàng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ đồng thời phải tiến hành

thăm dò, nghiên cứu thị trường, mở rộng quan hệ bn bán trong và ngồi

nước.

- Quản lý chặt chẽ vốn của thành phẩm đem tiêu thụ, giám sát chặt chẽ

các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, kiểm tra tính hợp

pháp, hợp lý của các số liệu, đồng thời phân bổ cho hàng tiêu thụ, đảm bảo

cho việc xác định tiêu thụ được chính xác, hợp lý.

- Đối với việc hạch toán tiêu thụ phải tổ chức chặt chẽ, khoa học đảm

bảo việc xác định kết quả cuối cùng của quá trình tiêu thụ, phản ánh và giám

đốc tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước đầy đủ, kịp thời.



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



1.1.3. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:

 Vai trò:

- Đối với một doanh nghiệp nói chung và một doanh nghiệp sản xuất,

thương mại nói riêng tổ chức công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng

có vai trò quan trọng trong từng bước hạn chế được sự thất thoát hàng hoá,

phát hiện được những hàng hố chậm ln chuyển để có biện pháp xử lý thích

hợp nhằm thúc đẩy q trình tuần hồn vốn. Các số liệu mà kế tốn bán hàng

và xác định kết quả bán hàng cung cấp cho doanh nghiệp giúp doanh nghiệp

nắm bắt được mức độ hoàn chỉnh về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán

hàng, từ đó tìm những biện pháp thiếu sót mất cân đối giữa khâu mua, khâu

dự trữ và khâu bán để có biện pháp khắc phục kịp thời.

- Từ các số liệu trên báo cáo tài chính mà kế tốn bán hàng và xác

định kết quả bán hàng cung cấp, nhà nước nắm được tình hình kinh doanh và

tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó thực hiện chức năng quản lý, kiểm

sốt vĩ mơ nền kinh tế, đồng thời nhà nước có thể kiểm tra việc chấp hành về

kinh tế tài chính và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.

- Ngồi ra thơng qua số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả

bán hàng cung cấp, các bạn hàng của doanh nghiệp biết được khả năng mua,

dự trữ, bán các mặt hàng của doanh nghiệp để từ đó có quyết định đầu tư, cho

vay vốn hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp bạn.

 Nhiệm vụ:

Để quản lý một cách tốt nhất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp đó thuộc thành phần nào, loại

hình nào, hay lĩnh vực hoạt động nào đều phải sử dụng đồng thời hàng loạt

các công cụ khác nhau, trong đó kế tốn được coi là một cơng cụ hữu hiệu.

Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, kế toán được sử dụng như một công cụ



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



đắc lực khơng thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp cũng như đối với sự quản

lý vĩ mơ của nhà nước. Chính vì vậy kế toán bán hàng và xác định kết quả bán

hàng cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Ghi chép đấy đủ kịp thời khối lượng thành phẩm hàng hố dịch vụ

bán ra và tiêu thụ nội bộ, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, chi

phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các khoản chi phí khác nhằm

xác định kết quả bán hàng.

- Kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi

nhuận, phân phối lợi nhuận và, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.

- Cung cấp thơng tin chính xác, trung thực và đầy đủ về tình hinh bán

hàng, xác định kết quả và phân phối kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài

chính và quản lý doanh nghiệp.

Như vậy cơng tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng là công việc

quan trọng của doanh nghiệp nhằm xác định số lượng và giá trị của lượng

hàng hoá bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Song để phát huy được vai trò và thực hiện tốt các nhiệm vụ đã nêu trên đòi

hỏi phải tổ chức cơng tác kế tốn thật khoa học, hợp lý đồng thời cán bộ kế

toán phải nắm vững nội dung của việc tổ chức tốt cơng tác kế tốn bán hàng

và xác định kết quả bán hàng

1.2. Lý luận cơ bản về bán hàng, kết quả bán hàng:

1.2.1. Phương thức bán hàng:

 Đối với các doanh nghiệp thương mại nội địa:

Công tác tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp có thể được tiến hành

theo những phương thức sau:

 Phương thức bán buôn:



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Bán bn là việc bán sản phẩm của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp

khác, các cửa hàng, đại lý... với số lượng lớn để các đơn vị tiếp tục bán cho các

tổ chức, cá nhân hay phục vụ cho việc khác nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế.

Có 2 phương thức bán buôn:

+ Bán buôn qua kho.

+ Bán buôn không qua kho.

 Phương thức bán lẻ:

Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm

đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cá nhân và bộ phận nhu cầu kinh tế tập thể. Số

lượng tiêu thụ của mỗi lần bán thường nhỏ.

Có nhiều phương thức bán lẻ:

+ Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp.

+ Phương thức bán hàng đại lý ( ký gửi).

+ Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm.

+ Các phương thức bán hàng khác.

 Đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh xuất – nhập

khẩu:

Việc bán hàng xuất khẩu trong các doanh nghiệp thương mại kinh

doanh xuất - nhập khẩu có thể được tiến hành theo hai phương thức: xuất

khẩu trực tiếp và xuất khẩu uỷ thác. Trong đó:

- Xuất khẩu trực tiếp là phương thức kinh doanh mà trong đó đơn vị

kinh doanh xuất - nhập khẩu trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu

với nước ngoài, trực tiếp giao hàng và thu tiền hàng.

- Xuất khẩu uỷ thác là phương thức kinh doanh mà trong đó đơn vị

kinh doanh xuất - nhập khẩu không trực tiếp xuất khẩu hàng hố và thu tiền

hàng mà phải thơng qua một đơn vị xuất - nhập khẩu có uy tín thực hiện hoạt

động xuất khẩu cho mình.

Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



1.2.2. Doanh thu bán hàng:

Theo chuẩn mực kế toán 14 ban hành theo quyết định 149/2001/QĐBTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính:

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được

trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thơng

thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chử sở hữu.

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính:

Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu

của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không bao gồm các

khoản thuế gián thu phải nộp, như thuế GTGT ( kể cả trường hợp nộp thuế

GTGT theo phương pháp trực tiếp), thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ

môi trường.

Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc

sẽ thu được.

Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận

giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định

bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-)

các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và

giá trị hàng bán bị trả lại.

Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền khơng được nhận ngay

thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các

khoản sẽ thu được trong tương lại về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận

doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành.



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ

tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó khơng được coi là một giao

dịch tạo ra doanh thu.

Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ

khác khơng tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra

doanh thu. Khi đó doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá

hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương

tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng

hố hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của

hàng hoá hặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc

tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.

Chuẩn mực này áp dụng trong kế toán các khoản thu nhập và doanh thu

sau:

- Doanh thu bán hàng;

- Doanh thu cung cấp dịch vụ;

- Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia;

- Thu nhập khác.

Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với

quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hố cho người mua;

- Doanh nghiệp khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người

sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá;

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Doanh nghiệp thu đã thu được hoặc sẽ thu dược lợi ích kinh tế từ

giao dịch bán hàng;

- Xác định được chi phi liên quan đến giao dịch bán hàng.

1.2.3. Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:

Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Các khoản giảm trừ doanh thu như: chiết khấu thương mại, giảm giá

hàng bán, doanh thu hàng bán đã bị trả lại. Các khoản giảm trừ doanh thu là

cơ sở để tính doanh thu thuần và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán. Các

khoản giảm trừ doanh thu phải được phản ánh, theo dõi chi tiết, riêng biệt trên

những tài khoản kế toán phù hợp, nhằm cung cấp các thơng tin kế tốn để lập

báo cáo tài chính (Báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài

chính).

Theo thơng tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ

trưởng bộ Tài chính:

Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng đều không bao gồm số thuế

gián thu phải nộp trong kỳ do về bản chất các khoản thuế gián thu không

được coi là một bộ phận của doanh thu.

Doanh thu thuần bán

hàng và cung cấp dịch



=



Tổng DT bán hàng và



vụ



cung cấp dịch vụ



-



Các khoản giảm

trừ DT



Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:

 Chiết khấu thương mại:

Là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp

đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua sản phẩm,

hàng hoá, dịch vụ với lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã

ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.

 Giảm giá hàng bán:

Là khoản tiền doanh nghiệp (bên bán) giảm trừ cho bên mua hàng

trong trường hợp đặc biệt vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng

quy cách, hoặc không đúng thời hạn… đã ghi trong hợp đồng.



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



 Hàng bán bị trả lại:

Là số sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã ghi

nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam

kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành, như: Hàng kém

phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính, việc điều chỉnh giảm doanh thu được thực hiện như sau:

- Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại

phát sinh cùng kỳ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ được điều chỉnh giảm

doanh thu của kỳ phát sinh.

- Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước,

đến kỳ sau phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại hoặc bị trả lại thì doanh

nghiệp được ghi giảm doanh thu theo nguyên tắc:

+ Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước,

đến kỳ sau phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại hoặc bị trả lại nhưng

phát sinh trước thời điểm phát hành báo cáo tài chính, kế toán phải coi đây là

sự kiện cần điều chỉnh phát sinh sau ngày lập Bảng cân đối kế toán và phải

ghi giảm doanh thu trên Báo cáo tài chính của kỳ lập báo cáo ( kỳ trước).

+ Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước,

đến kỳ sau phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại hoặc bị trả lại sau thời

điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi giảm doanh thu của kỳ

phát sinh ( kỳ sau).

1.2.4. Giá vốn hàng tiêu thụ, giá vốn hàng xuất bán, chi phí bán hàng, chi

phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng tiêu thụ:

 Giá vốn hàng tiêu thụ



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Là tồn bộ các chi phí liên quan đến q trình bán hàng, bao gồm

trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh

nghiệp phân bổ cho hàng đã bán trong kỳ.

Trị giá vốn của hàng

tiêu thụ



=



Trị giá vốn của hàng

xuất kho đã bán



+



CP BH, CPQLDN phân

bổ cho hàng đã bán



 Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán.

Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán được xác định bằng 1 trong 4

phương pháp và đồng thời phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.

 Đối với doanh nghiệp sản xuất.

Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán hoặc thành phẩm hồn thành khơng

nhập kho đưa bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm

xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hồn thành, có 4

phương pháp tính.

- Phương pháp tính theo giá đích danh: theo phương pháp này,

doanh nghiệp phải quản lý hàng hóa theo từng lơ hàng. Khi xuất lơ hàng nào

thì lấy giá thực tế của lơ hàng đó. Phương pháp này được áp dụng đối với

doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

- Phương pháp nhập trước, xuất trước: Phương pháp này được áp

dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước

thì được xuất trước, và hàng tồn kho cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc

sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất

kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu

kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm

cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

- Phương pháp nhập sau, xuất trước: Phương pháp này được áp dụng

dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được

Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản

xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo

giá của lơ hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được

tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này trị giá vốn

của thành phẩm xuất kho để bán được căn cứ vào số lượng thành phẩm

xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền (giá thành sản xuất thực tế đơn vị

bình quân).

Giá thành sản xuất thực

Giá thành xuất



tế của thành phẩm tồn



kho



kho đầu kỳ



đơnvị bình



Giá thành sản xuất thực tế

+ của thành phẩm nhập kho

trong kỳ



= Số lượng thành phẩm



quân



Số lượng thành phẩm nhập

+



tồn kho đầu kỳ

Giá thành của thành

phẩm xuất kho



=



Số lượng thành

phẩm xuất kho



kho trong kỳ



-



Giá thành thực tế xuất

kho đơn vị bình qn



Trên đây là cách tính đơn giá bình qn gia quyền cố định của

tồn bộ số thành phẩm tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ. Ngồi ra có thể tính theo

đơn giá bình qn gia quyền liên hồn (đơn giá bình qn được xác định sau

mỗi lần nhập).

Mỗi phương pháp tính giá thành thực tế của thành phẩm xuất kho

trên đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Lựa chọn phương pháp phù hợp nhất

thì doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình thực tế yêu cầu hạch toán của

doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo nguyên tắc nhất qn để các báo cáo tài

chính có thể so sánh được và đảm bảo nguyên tắc công khai. Cả ba phương

pháp đầu muốn áp dụng được đều phải có đơn giá thực tế nhập kho của từng



Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



lần nhập, trong khi hầu hết các doanh nghiệp đều không thể làm được điều đó

với thành phẩm cho nên hầu như nó khơng được sử dụng trong thực tế.

 Đối với doanh nghiệp thương mại:

- Trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán bao gồm: Trị giá mua thực tế

của hàng xuất kho đã bán và chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng đã bán.

- Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho đã bán được xác định theo

một trong 4 phương pháp tính giá tương tự như trên.

- Chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng đã bán: Do chi phí mua

hàng liên quan đến nhiều chủng loại hàng hoá, liên quan cả đến khối lượng

hàng hoá trong kỳ và hàng hoá đầu kỳ, cho nên cần phân bổ chi phí mua hàng

cho hàng đã bán trong kỳ và hàng tồn cuối kỳ.

Tiêu chuẩn phân bổ chi phí mua hàng được lựa chọn là:

- Số lượng.

- Trọng lượng .

- Trị giá mua thực tế của hàng hố.



Chi phí mua

hàng phân

bổ cho hàng

hố đã bán

trong kỳ







Chi phí mua



Chi phí mua



hàng của hàng



hàng của hàng



hố tồn kho + hoá phát sinh



Tiêu chuẩn phân



đầu kỳ



bổ của hàng hoá



trong kỳ



Tổng tiêu thức phân bổ của hàng

hoá tồn cuối kỳ và hàng hoá đã



x



đã xuất bán

trong kỳ



xuất bán trong kỳ

(Hàng hoá tồn cuối kỳ bao gồm: hàng hoá tồn kho, hàng hố đã mua

nhưng còn đang đi trên đường và hàng hoá gửi đi bán nhưng chưa được chấp

nhận)

 Chi phí bán hàng:

Sv: Nguyễn Thu Huyền



lớp: CQ49/21.13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×