Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phía Nam giáp huyện Quảng Xương và Nơng Cống,

Phía Đơng giáp Thành phố Thanh Hố,

Phía Tây giáp huyện Triệu Sơn,

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 8.240,62 ha, trong đó: Diện tích đất

sản xuất nơng nghiệp là 4.944,76 ha. Đơng Sơn có 15 xã và 1 thị trấn, cách thành

phố Thanh Hố 5 km về phía Tây, trên địa bàn huyện có quốc lộ 45 và 47, tỉnh lộ

521, với vị trí địa lý tương đối thuận lợi nên Đơng Sơn có cơ hội giao lưu với thị

trường bên ngoài, tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Là huyện có vị trí địa lý thuận lợi, tài ngun khống sản phong phú nên

Đơng Sơn có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế. Trong những năm gần đây,

tình hình kinh tế-xã hội của huyện đã tiến triển rõ nét, tốc độ tăng trưởng kinh tế

ở mức khá, cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực, đời sống của

nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên từ tháng 6/2012 đến nay, Đông

Sơn đã trở thành một huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp; hầu hết các xã có

cơng nghiệp sản xuất đá xuất khẩu, ốp lát đã chuyển về thành phố Thanh Hóa.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 14,5%, tuy thấp hơn kế hoạch (15,5%),

nhưng cao hơn so với bình qn chung của cả tỉnh (10,3%), trong đó: nơng lâm,

thủy sản tăng 4,2%; công nghiệp - xây dựng tăng 19,6%; dịch vụ thương mại tăng

18,4%.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực; ngành nơng, lâm, thủy

sản chiếm 41,4 %; công nghiệp - xây dựng chiếm 26,3%; dịch vụ - thương mại chiếm

32,3%.

Văn hoá, giáo dục, y tế tiếp tục được duy trì và phát triển; quốc phòng – an

ninh được giữ vững.

3.2. Tình hình phát triển trang trại ở Đông Sơn.

Kinh tế trang trại tuy mới hình thành trong những năm đổi mới, nhưng

bước đầu cũng đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, qui mô và hiệu

quả kinh tế - xã hội. Trước năm 1995 mơ hình kinh tế trang trại ở huyện Đơng

Sơn đã hình thành với số lượng 6 trang trại, đến năm 1999 là 14 trang trại. Ban

Thường vụ Tỉnh uỷ (khoá XIV) ban hành Nghị quyết số 07 NQ/TU ngày

5



02/06/1999 về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại; UBND tỉnh Thanh Hóa

đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm phát huy thế mạnh của các trang trại

như Quyết định số 1813/QĐ-CT ngày 03/06/2003 của chủ tịch UBND tỉnh

Thanh Hóa “quy định tạm thời việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại”,

Quyết định số 4101/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh về “hỗ

trợ đầu tư phát triển kinh tế trang trại”. Quyết định số 271/2011/QĐ-UBND

ngày 21/01/2011 của UBND tỉnh về ban hành cơ chế, chính sách phát triển chăn

nuôi giai đoạn 2011-2015, BCH Đảng bộ huyện ban hành Nghị quyết 06-NQ/HU

ngày 20/7/2003 về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế

trang trại giai đoạn 2003-2010 và Chương trình hành động số 27 ngày 30/9/2003

thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU của BCH Tỉnh ủy (khóa XV) về phát triển chăn

ni gia súc, gia cầm giai đoạn 2003-2010. Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày

20/9/2010 về việc tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và

phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 2011-2015.

Năm 2003, Huyện phê duyệt được 23 dự án lập trang trại. Năm 2004 tăng

lên 62, năm 2005 là 71, năm 2006 có 90 hộ được Huyện phê duyệt dự án làm

trang trại. Đến hết năm 2013 tồn huyện có 272 trang trại và gia trại trong đó có :

63 trang trại chăn nuôi (gồm 9 trang trại chăn nuôi lợn; 14 trang trại chăn ni

bò; 17 trang trại chăn nuôi gia cầm); 6 trang trại sản xuất nấm,mục nhĩ; 3 trang

trại trồng hoa cây cảnh; 200 trang trại, gia trại tổng hợp (trong đó có 115 trang

trại có diện tích từ 1ha trở lên), có 72 trang trại đã được cấp giấy chưng nhận

quyền sử dụng đất. Theo tiêu chí mới quy định tại Thơng tư số 27 tồn huyện

mới có 7 trang trại đạt tiêu chí.

Đất đã giao cho phát triển kinh tế trang trại là 308 ha, chủ yếu từ đất nơng

nghiệp khó giao trước đây 127,56 ha do điều kiện tưới, tiêu khó khăn. Đất cơ bản

của hộ do tích tụ và chuyển đổi, chuyển nhượng là 173.6 ha chiếm 58% đất trang

trại.

Tổng số vốn đã đầu tư 54.162 triệu đồng, bình quân 250,9 triệu đồng/trang

trại; trong đó: vốn vay Ngân hàng 29.867 triệu đồng còn lại là vốn tự có của chủ

trang trại và vốn huy động trong nhân dân. Tổng số lao động thường xuyên trong

6



các trang trại là 417 người; trong đó lao động của hộ làm trang trại là 331 người,

lao động thuê thường xuyên là 86 người. Lao động thời vụ thuê lúc cao nhất 250

người.

Kết quả sản xuất, kinh doanh của các trang trại, gia trại năm 2013 theo số

liệu thống kê báo cáo của UBND các xã, thị trấn: Ngồi 2 trang trại có mức thu

nhập cao như ở Trang trại Ơ Nhân - Đơng Hồng, bà Vệ - Đơng Hòa; còn lại năm

2013các trang trại có kết quả sản xuất tốt, trên tổng số 230 trang trại, gia trại

được thống kê có:

24 trang trại, gia trại thu nhập 15 – 30 triệu đồng/năm chiếm 10.4%;

46 trang trại, gia trại thu nhập 31 – 50 triệu đồng/năm chiếm 20.0%;

46 trang trại, gia trại thu nhập 51 – 70 triệu đồng/năm chiếm 20.0%;

57 trang trại, gia trại thu nhập 71 – 100 triệu đồng/năm chiếm 24.8%;

38 trang trại, gia trại thu nhập 101 – 150 triệu đồng/năm chiếm 16.5%;

9 trang trại, gia trại thu nhập 151 – 200 triệu đồng/năm chiếm 3.9%;

10 trang trại, gia trại thu nhập trên 200 triệu đồng/năm chiếm 4.4%;

Các trang trại, gia trại khác đang ở trong giai đoạn đầu tư ban đầu nên thu

nhập còn thấp.

Hệ thống các trang trại ở Đơng Sơn hình thành và phát triển từ năm 2003,

tuy số lượng còn ít, quy mơ sản xuất còn nhỏ, phân tán, nhưng đã và đang

chứng tỏ ngày càng rỏ rệt tính ưu việt trong sản xuất nơng nghiệp, góp phần

đáng kể trong việc làm chuyển biến tâm lý, nhận thức từ sản xuất nhỏ sang sản

xuất tập trung, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp hướng tới cánh đồng

mẫu lớn. Kinh tế trang trại mở ra điều kiện, cơ hội khai thác tốt tiềm năng về

đất đai, vốn, về lao động để phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm và thu nhập

cho nơng dân, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tăng

giá trị thu nhập và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.

Các yếu tố sản xuất của các trang trại tổng hợp ở huyện Đông Sơn

- Chủ trang trại.

- Sử dụng đất của các trang trại.

- Sử dụng lao động của các trang trại:

7



- Vốn sản xuất của các trang trại.

3.3. Đánh giá sự phát triển các trang trại tại huyện Đông Sơn

3.3.1. Những kết quả đạt được trong quá trình phát triển trang trại

Sự hình thành và phát triển trang trại trong những năm qua với những

kết quả và hiệu quả đạt được cao hơn hẳn kinh tế hộ tiểu nông trong vùng,

phần nào đã khẳng định được ưu thế to lớn của loại hình trang trại trong sản

xuất nơng nghiệp, phù hợp với qui luật khách quan của nền kinh tế thị trường

trong điều kiện tự nhiên cũng như tiềm năng sẵn có của huyện Đơng Sơn.

Trang trại đã có bước phát triển nhanh về số lượng, chất lượng; đa dạng về

loại hình sản xuất kinh doanh, thể hiện tính vượt trội so với kinh tế hộ thuần

nông. Trên 300ha đất canh tác sản xuất nông nghiệp bấp bênh trước đây đã được

cải tạo chuyển đổi thành trang trại. Nếu tính giá trị thu nhập trên 1 ha/năm thì đa

số các trang trại ở huyện Đông Sơn đều đã vượt xa con số 80 triệu đồng.

Các trang trại cũng là nơi đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học

công nghệ mới vào sản xuất như các giống cây, giống con có năng suất, chất

lượng cao, quy trình chế biến theo phương pháp cơng nghiệp, quy trình phòng trừ

dịch bệnh tổng hợp cho cây trồng, vật nuôi, sử dụng hầm bioga để xử lý chất thải

chăn ni, phụ phẩm khí sinh học làm phân bón cho cây trồng, cải thiện khả

năng canh tác của đất, tăng hoạt động của vi sinh vật, tăng khả năng giữ nước,

thấm nước, đất dễ vỡ có lợi cho việc canh tác….

Các trang trại cũng đã thúc đẩy sự liên kết giữa 4 nhà (nhà nước, nhà khoa

học, nhà doanh nghiệp và nhà nông) gần nhau hơn, thúc đẩy quá trình chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tạo lập các vùng sản xuất hàng hố

nơng – lâm – thuỷ sản tập trung, làm cơ sở cho công nghiệp chế biến và ngành

nghề dịch vụ ở nơng thơn ra đời, góp phần đẩy nhanh tiến trình CNH – HĐH

nơng nghiệp, nơng thơn, làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.

Các trang trại đã khai thác tiềm năng đất đai, vốn, lao động, trong dân đầu

tư vào phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng nhanh giá trị hàng

hố nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng nhanh tốc

độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, góp phần cải thiện cân bằng mơi trường sinh

8



thái.

Mơ hình trang trại phát triển đã tạo thêm việc làm cho hàng nghìn lao động

nơng thơn tại chỗ, tăng thu nhập, góp phần xố đói giảm nghèo. Một số trang trại

đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật, tiêu thụ sản

phẩm cho nông dân trong vùng.

Về tiêu thụ sản phẩm, bước đầu đã hình thành những mối quan hệ liên kết

liên doanh giữa các trang trại với các đơn vị bên ngoài địa bàn, đặc biệt các chủ

trang trại lại là người tích cực nhất trong việc tìm kiếm thị trường, chủ động tạo

lập thị trường.

Từ năm 2006 đến nay Hội Làm vườn và Trang trại huyện Đông Sơn được

thành lập và hàng năm tổ chức hội nghị gặp mặt, toạ đàm với các chủ trang trại

cùng các ban, ngành, đoàn thể huyện. Qua hội nghị chủ trang trại có phương

hướng sản xuất kinh doanh cho năm tới, các cấp uỷ Đảng, chính quyền ở Đơng

Sơn đã có những chỉ đạo kịp thời cho các trang trại, khích lệ khơng những đối

với các chủ trang trại, mà còn động viên các hộ nông dân khác mạnh dạn chuyển

đổi cây trồng vật nuôi, thay đổi phương thức làm ăn của gia đình mình, vươn lên

làm giàu chính đáng.

Từ những mơ hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả ở các vùng trên địa

bàn huyện, sẽ là tiền đề cơ sở thực tiễn giúp các chủ trang trại thấy được chí hướng

muốn làm giàu và vươn lên sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất với chế biến, với thị

trường theo hình thức liên kết đa chiều trong khu vực nông thôn.

Mặc dù, hiện nay các mơ hình trang trại của huyện Đơng Sơn đều làm ăn

có lãi và cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, để khai thác tốt hơn nữa tiềm năng

của các trang trại đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện Đơng Sơn cần có

biện pháp và chính sách ưu tiên phát triển trang trại để đạt hiệu quả cao hơn.

3.3.2. Những tồn tại trong quá trình phát triển trang trại

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc phát triển kinh tế trang trại ở

Đông Sơn còn một số tồn tại đó là: Tốc độ phát triển và hiệu quả sản xuất của

trang trại trong thời gian qua còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế

của Huyện; số lượng trang trại còn ít, quy mơ sản xuất còn nhỏ, hiệu quả đầu tư

9



ở nhiều trang trại còn thấp; chưa hình thành được các khu trang trại tập trung, ít

có mơ hình sản xuất tiên tiến, phù hợp với tình hình chung để có thể vận dụng

giới thiệu học tập nhân ra diện rộng. Khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất

tiên tiến chậm được áp dụng vào sản xuất, chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại ở

nhiều địa phương không theo kịp với yêu cầu của sản xuất.

Nguyên nhân và những tồn tại:

- Trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của các chủ trang trại còn ở mức

thấp. Đa số các chủ trang trại từ nông dân lao động phổ thông, vừa thiếu vốn, vừa

thiếu kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất nên hiệu quả đầu tư sản xuất còn

thấp. Vị trí làm trang trại là những vùng đất khó khăn về thuỷ lợi, giao thơng,

điện nên những năm đầu phải bỏ nhiều vốn và công sức để đầu tư cải tạo.

- Hiệu quả sản xuất của các trang trại nhìn chung còn ở mức thấp. Đa số là

đầu tư sản xuất trồng trọt-chăn nuôi-thủy sản kết hợp, việc áp dụng tiến bộ kỹ

thuật tiên tiến vào sản xuất còn chậm, chưa mạnh dạn, sản xuất chưa theo kịp yêu

cầu của thị trường. Chi phí đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của các trang trại còn

quá cao, không tương xứng với hiệu quả của sản xuất.

- Sự gắn kết, hợp tác giữa các trang trại chưa thực sự gắn bó. Sự phối hợp

hỗ trợ, giúp đỡ của các ngành, các cấp cho trang trại còn hạn chế.

- Ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, tai xanh và

những thơng tin về việc sử dụng hooc-mơn, hố chất trong thức ăn chăn ni có

thể gây tổn hại sức khoẻ người tiêu dùng, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, thị

trường tiêu thụ không ổn định trong những năm gần đây đang làm nản lòng

những nhà chăn ni, những chủ trang trại, gia trại.

- Bình qn diện tích đất nơng nghiệp/người thấp, giá chuyển nhượng đất

cao, cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế trang trại còn thấp nên chi phí đầu tư xây

dựng trang trại cao, giá thành sản xuất cao, khó thu hút được người có vốn đầu tư

phát triển kinh tế trang trại.

3.3.3. Khả năng phát triển trang trại của huyện Đông Sơn

- Khả năng về lao động

Mật độ dân số ở huyện Đông Sơn so với các huyện, thành phố trong tồn

10



tỉnh Thanh Hóa là lớn nhất 1.009 người/km2. Điều này dẫn đến thực tế là lực

lượng lao động ở Đông Sơn là đông và dồi dào. Mặc dù huyện đã có nhiều

chương trình về giải quyết việc cho người dân nhưng mới chỉ đáp ứng được một

lượng nhỏ lao động, còn một lượng lớn lao động thiếu việc làm, phải đi làm ăn

xa. Như vậy, nhu cầu lao là động ở địa phương là rất lớn chưa đáp ứng đủ nhu

cầu, những lao động thiếu việc làm chủ yếu là lao động có trình độ chun mơn

và tay nghề thấp dẫn đến khó tham gia vào lao động của các trang trại. Tuy

nhiên, về lao động hầu hết của trang trại đều có khả năng đảm bảo, còn lại một

phần đi thuê chiếm một tỷ lệ nhỏ, nhu cầu lao động lớn nhất là vào thời điểm lúc

thu các sản phẩm.

- Khả năng về tích tụ đất đai và xu hướng tích tụ đất đai của các trang

trại

Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về giao đất lâu dài cho hộ nơng

dân, tỉnh Thanh Hóa cụ thể hóa nghị quyết 10 và xây dựng hướng dẫn sử dụng

đất và chia đất dựa trên tổng quỹ đất canh tác của tồn tỉnh, chia theo tổng số

nhân khẩu có mặt ở địa phương tại thời điểm 1/4/1990 thì đất nơng nghiệp bình

qn trên đầu người là 0,7 - 1,0 sào/1 nhân khẩu. So với tiêu chí về quy mơ đất

đai đối với các trang trại tổng hợp thì mức bình qn đất đai/1 nhân khẩu của

huyện Đơng Sơn là thấp.

Bên cạnh những thuận lợi Đơng Sơn còn gặp những khó khăn trong việc tích

tụ đất đai như hiện tượng có nhiều hộ gia đình muốn đấu thầu đất để phát triển trang

trại nhưng quỹ đất ở xã hầu như đã hết, nên chỉ còn đất ở quỹ cơng điền. Phần lớn

các chủ trang trại đã đấu thầu đất đai ở các diện tích cấy lúa bấp bênh, có tầng glây

cao chuyển sang phát triển kinh tế trang trại, hướng theo mơ hình lúa-cá kết hợp. Do

vậy, việc tích tụ ruộng đất ở quy mơ diện tích lớn đối với các trang trại cũng gặp

nhiều khó khăn vì quỹ đất có hạn, việc mua bán chuyển nhượng được sự đồng ý của

chính quyền địa phương.

- Trình độ của chủ trang trại

Các chủ trang trại huyện Đông Sơn phần lớn chưa được đào tạo về kỹ

thuật canh tác và tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh.

11



Các chủ trang trại hầu hết điều hành sản xuất kinh doanh bằng kinh

nghiệm là chính dẫn đến hiệu quả kinh tế trang trại còn hạn chế. Đây cũng là một

trong những khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế trang trại không

chỉ trong trước mắt mà cả trong tương lai. Do vậy, trong thời gian tới cần có

những kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cho chủ trang trại để đáp ứng được với nền

khoa học kỹ thuật hiện đại trong thời kỳ mới, tổ chức quản lý sản xuất kinh

doanh trang trại ngày một hiệu quả cao hơn.

Đơng Sơn còn nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trang trại đó là mơi

trường chính sách thuận lợi, việc phát triển kinh tế trang trại phù hợp với chủ

trương, đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ nói chung, mục tiêu phát

triển kinh tế trang trại của tỉnh Thanh Hóa và huyện Đơng Sơn nói riêng; phần

lớn các trang trại đều tự túc được lao động cần thiết cho sản xuất kinh doanh,

việc thuê mướn lao động chỉ ở thời vụ; điều quan trọng nhất là các trang trại đều

làm ăn có hiệu quả hơn hẳn các nơng hộ trong huyện.

Về lâu dài, việc đào tạo nâng cao trình độ của các chủ trang trại, nâng cao

khả năng cạnh tranh của các trang trại nhất là trong điều kiện hội nhập là một vấn

đề quan trọng cần được các cấp, các ngành quan tâm, tạo điều kiện. Việc đầu tư

theo chiều sâu cần được quan tâm một cách thoả đáng. Vốn và đất đai là hai khó

khăn cơ bản trước mắt cần giải quyết.

4. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP.

4.1. Về quy hoạch

- Dựa trên quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội của huyện Đông

Sơn đến năm 2020, nhất là quy hoạch về phát triển nông nghiệp trong quy hoạch

xây dựng Nơng thơn mới, bố trí các quỹ đất hợp lý và hướng dẫn các chủ trang

trại xây dựng, phát triển trang trại theo định hướng chung. Khuyến cáo cho các

chủ trang trại sản xuất, kinh doanh theo nhu cầu thị trường.

+ Các xã Đơng Ninh, Đơng Hồng, Đơng Thanh, Đông Tiến, Đông Xuân,

Đông Anh, Đông Khê, Đông Minh, đất nơng nghiệp nằm trên đất vàn và vàn cao,

có độ pH trung bình, mùn cao, tầng canh tác dày. Phát triển trang trại nên ưu tiên

trồng các cây lương thực đặc biệt là cây lúa chất lượng cao, rau chất lượng cao,

12



hoa cây cảnh, đậu tương và cây dược liệu; chăn ni bò thịt, lợn và gia cầm.

+ Các xã Đơng Hòa, Đơng n, Đơng Thịnh, Đơng Văn, Đơng Phú, Đơng

Quang, Đơng Nam, địa hình thấp nên trồng trọt phát triển cây lương thực, cây

rau; Chăn ni bò thịt, lợn, thủy cầm, đặc biệt phát triển theo mơ hình lúa-cá.

+ Thị trấn Rừng thông trồng lúa chất lượng cao, rau đậu thực phẩm và hoa

cây cảnh.

4.2. Về vốn và đầu tư tín dụng

Một trong những đặc trưng quan trọng của trang trại là nhu cầu về vốn lớn,

điều này đòi hỏi chính sách cho vay vốn, tín dụng phải phù hợp với loại hình

kinh tế. Để giải quyết vấn đề này cần có một số biện pháp sau:

- Nhà nước cần tăng thêm nguồn vốn cho vay mức trung hạn và dài hạn

nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh trong các trang

trại. Đồng thời, cần có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, đơn giản hoá

thủ tục vay vốn, đặc biệt quan tâm đến các trang trại ở một số xã có khả năng sản

xuất quy mơ lớn.

- Hỗ trợ một phần vốn xây dựng các cơng trình cơ sở hạ tầng như thủy lợi,

giao thông, điện nước sinh hoạt, thông tin, chợ và các tổ chức thu mua, cung ứng

vật tư… cho những khu vực có trang trại theo phương châm “Nhà nước và nhân

dân cùng làm”.

- Dành một phần vốn thỏa đáng từ các chương trình, dự án như vốn tín

dụng ưu đãi, vốn viện trợ, quỹ quốc gia giải quyết việc làm … cho các trang trại

vay để đầu tư sản xuất.

- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút nguồn vốn của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển kinh tế trang trại theo định

hướng chung của xã hội.

- Các chủ trang trại tự huy động nguồn vốn trong gia đình, bạn bè người

thân, để huy động nguồn vốn nhàn rỗi, đầu tư và phát triển nhằm phát huy nội

lực.

4.3. Về đất đai

Đất đai là sự quan tâm hàng đầu của các chủ trang trại, huyện Đông Sơn

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×