Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP.

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP.

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoa cây cảnh, đậu tương và cây dược liệu; chăn ni bò thịt, lợn và gia cầm.

+ Các xã Đơng Hòa, Đơng n, Đơng Thịnh, Đơng Văn, Đơng Phú, Đơng

Quang, Đơng Nam, địa hình thấp nên trồng trọt phát triển cây lương thực, cây

rau; Chăn ni bò thịt, lợn, thủy cầm, đặc biệt phát triển theo mơ hình lúa-cá.

+ Thị trấn Rừng thông trồng lúa chất lượng cao, rau đậu thực phẩm và hoa

cây cảnh.

4.2. Về vốn và đầu tư tín dụng

Một trong những đặc trưng quan trọng của trang trại là nhu cầu về vốn lớn,

điều này đòi hỏi chính sách cho vay vốn, tín dụng phải phù hợp với loại hình

kinh tế. Để giải quyết vấn đề này cần có một số biện pháp sau:

- Nhà nước cần tăng thêm nguồn vốn cho vay mức trung hạn và dài hạn

nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh trong các trang

trại. Đồng thời, cần có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, đơn giản hoá

thủ tục vay vốn, đặc biệt quan tâm đến các trang trại ở một số xã có khả năng sản

xuất quy mơ lớn.

- Hỗ trợ một phần vốn xây dựng các cơng trình cơ sở hạ tầng như thủy lợi,

giao thông, điện nước sinh hoạt, thông tin, chợ và các tổ chức thu mua, cung ứng

vật tư… cho những khu vực có trang trại theo phương châm “Nhà nước và nhân

dân cùng làm”.

- Dành một phần vốn thỏa đáng từ các chương trình, dự án như vốn tín

dụng ưu đãi, vốn viện trợ, quỹ quốc gia giải quyết việc làm … cho các trang trại

vay để đầu tư sản xuất.

- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút nguồn vốn của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển kinh tế trang trại theo định

hướng chung của xã hội.

- Các chủ trang trại tự huy động nguồn vốn trong gia đình, bạn bè người

thân, để huy động nguồn vốn nhàn rỗi, đầu tư và phát triển nhằm phát huy nội

lực.

4.3. Về đất đai

Đất đai là sự quan tâm hàng đầu của các chủ trang trại, huyện Đơng Sơn

13



đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích trang trại phát triển như tạo

điều kiện cho quá trình tập trung đất, tích tụ đất, khuyến khích các trang trại được

hình thành và phát triển. Từ đó đất đai ngày càng được sử dụng hợp lý hơn và

hiệu quả hơn.

Khuyến khích tích tụ đất đai nhất là ở những vùng trũng thuộc diện tích

đất canh tác sản xuất 2 vụ lúa gặp khó khăn. Đồng thời tạo điều kiện cho những

người có nguyện vọng nhận thầu đất cơng ích, ao, hồ để đầu tư phát triển kinh tế

trang trại với mức thuế thấp.

Hiện nay một số hộ gia đình có nguyện vọng thuê đất để phát triển trang

trại nhưng họ chưa yên tâm, do đó các cấp chính quyền cần tạo điều kiện về mặt

pháp lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kể cả đất đấu thầu giấy chứng

nhận kinh tế trang trại để các chủ trang trại yên tâm đầu tư vào sản xuất kinh

doanh.

4.4. Về thị trường

- Xây dựng và hồn thiện cơng tác quy hoạch và phát triển các vùng

chun mơn hố sản xuất cây ăn quả và chăn ni, trên cơ sở đó đầu tư xây dựng

các cơ sở chế biến nơng sản hàng hố để thu hút sản phẩm của trang trại hoặc

làm cho giá trị hàng hoá được nâng cao.

- Mở rộng và phát triển mạnh hệ thống tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và

chăn ni. Trong đó, cần nhấn mạnh vai trò của các doanh nghiệp thương mại

trong nước ở những vùng có sản phẩm đặc sản khuyến khích sự tham gia của mọi

thành phần kinh tế để giải quyết đầu ra cho các trang trại.

- Hướng dẫn các chủ trang trại hình thành các loại sổ sách ghi chép và tính

tốn hiệu quả sản xuất kinh doanh, phương pháp lập kế hoạch kinh doanh.

- Nhà nước tăng cường công tác dự báo thị trường và cung cấp kịp thời

thông tin thị trường cho các trang trại bằng nhiều hình thức. Có chính sách bảo

hộ sản xuất, giảm bớt mất mát cho trang trại khi gặp biến động bất thường của

khí hậu thời tiết.

- Cần có chủ trương chính sách cụ thể về thị trường nông thôn như thị

trường sức lao động, thị trường vốn, thị trường dịch vụ, hàng hoá, nhằm tạo điều

14



kiện thuận lợi nâng cao giá trị hàng hố nơng sản của trang trại.

4.5. Về Khoa học và công nghệ

Hiện tại ở Đơng Sơn đang gặp khó khăn về kỹ thuật sản xuất, các chủ

trang trại thường áp dụng kinh nghiệm của mình để chăn ni và trồng trọt, chưa

áp dụng theo đúng quy trình kỹ thuật. Mặt khác cơng nghệ sau thu hoạch đã có

nhưng chưa nhiều, chủ yếu tiêu thụ trong nước nên việc tiêu thụ sản phẩm gặp

nhiều khó khăn.

Để sản phẩm nơng nghiệp của trang trại có thể cạnh tranh được trên thị

trường thì đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao, giá thành thấp vì vậy các

trang trại cần có sự trợ giúp tích cực từ phía nhà nước từ khoa học cơng nghệ.

Muốn vậy nhà nước cần khuyến khích các tổ chức, các thành phần kinh tế, các

nhà nghiên cứu tập trung đầu tư chuyển giao công nghệ, trước hết là việc tuyển

chọn giống cây trồng, vật ni có năng suất cao, có giá trị kinh tế cao, sau đó là

cơng nghệ sau thu hoạch và cải tiến kỹ thuật canh tác.

4.6. Về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Hệ thống cơ sở hạ tầng nơng thơn có vai trò lớn đối với việc phát triển một

nền nông nghiệp sản xuất hàng hố trong đó có sự phát triển kinh tế trang trại.

Trong những năm tiếp theo cần làm tốt một số công việc sau:

- Xây dựng và nâng cấp mạng lưới giao thông trong vùng, bao gồm đường

liên huyện, liên xã, liên thôn (rải nhựa, đá cấp phối).

- Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống thuỷ lợi bằng việc cải tạo

nâng cấp các cơ sở sẵn có (các hồ, đập chứa nước, trạm bơm...), xây dựng thêm

một số công trình mới, hồn thiện và bê tơng hố hệ thống kênh mương nội

đồng. Đặc biệt chú ý tới các xã nằm trong vùng thường xuyên bị úng, lụt của

huyện.

- Quy hoạch xây dựng các cơ sở chế biến, các trạm thu mua, các chợ nông

thôn phục vụ nhu cầu chế biến và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.

4.7. Về đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho chủ trang trại

Nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa học kỹ

thuật chủ trang trại ở Đông Sơn là một việc làm hết sức cần thiết vì các chủ trang

15



trại ở đây hầu hết có trình độ trung học phổ thông, bằng chuyên môn về nông

nghiệp gần như khơng có.

- Về hình thức đào tạo: Đào tạo theo nhiều hình thức đa dạng như mở các

lớp tập huấn, hội thảo đầu bờ, thăm quan, chuyển giao khoa học kỹ thuật với sự

tham gia của nhiều tổ chức chính trị xã hội.

- Về đối tượng đào tạo: Xác định đối tượng đào tạo ngồi chủ trang trại,

còn những người có nguyện vọng tha thiết và có khả năng trở thành chủ trang

trại.

- Về nội dung đào tạo: Cần đào tạo cho chủ trang trại những vấn đề chung

để phát triển kinh tế trang trại như: về vị trí, vai trò, xu hướng phát triển trang

trại, các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,

kiến thức về quản trị kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt là các vấn đề về kỹ thuật

nông nghiệp, nội dung đào tạo phải dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với tình hình thực

tế ở điạ phương.

Giải pháp chung ở hầu hết các trang trại là vấn đề vốn, lao động, sản xuất

hàng hoá, hoạt động ngành nghề phụ, nâng cao trình độ văn hố, trình độ chun

mơn và trình độ lý luận chính trị cho các chủ trang trại.

5. KẾT LUẬN

1. Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội như hiện nay ở huyện Đông

Sơn hiệu quả kinh tế của sản xuất trang trại cao hơn rõ rệt so với canh tác truyền

thống, có liên quan nhiều với hiệu quả sử dụng lao động gia đình và hiệu quả sử

dụng vốn lưu động. Trang trại có nhiều lao động nên tập trung mở rộng quy mô

trang trại và ni cá. Những trang trại có nhiều vốn lưu động nhưng thiếu lao

động nên sử dụng quy mô trang trại trung bình.

2. Phát triển kinh tế trang trại ở Đơng Sơn có hạn chế là các trang trại có

quy mơ lớn về diện tích tập trung nhiều vào sản xuất lúa hiệu quả kinh tế thấp,

muốn tăng hiệu quả sản xuất trong trang trại loại này cần mở rộng diện tích canh

tác lúa – cá hoặc chuyên cá thay thế canh tác 2 lúa trước đây. Trên đất trũng nuôi

cá thuần đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng chỉ có thể áp dụng với các trang trại có

vốn và lao động. Những hộ chỉ có lao động nhưng thiếu vốn nên áp dụng canh

16



tác lúa – cá.

3. Hệ thống canh tác ở các trang trại có liên quan đến độ cao của địa hình:

Trên đất trũng hoặc vàn thấp nên sử dụng mơ hình canh tác lúa-cá hoặc chun

cá. Trên đất vàn 2 công thức luân canh Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai lang đông

và Lúa xuân – Lúa mùa – Cải bắp có thu nhập cao. Trên đất vàn cao hiện có 7

cơng thức ln canh, đáng chú ý là công thức Lạc xuân – Khoai lang đơng, Lạc

xn – Mía tím có thu nhập thuần trên 100 tr.đồng/ha cần mở rộng.

4. Một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất trang trại cho thấy:

- Sản xuất lúa ở trang trại áp dụng phương thức gieo vãi có thu nhập thuần

cao hơn lúa cấy là 1,1 lần.

- Các loại cây màu trồng ở các trang trại nên áp dụng cây mía tím, cây lạc

hoặc cây khoai lang.

- Trong số 9 loại rau được trồng trên đất trang trại vụ đông xuân chọn được

2 loại (Bầu dài, Su su); vụ xuân hè và hè thu chọn được 3 loại (Bí đỏ, Mướp

đắng, Bí xanh); vụ thu đơng chọn được cây cà chua.

- Trong số 14 loại cây ăn quả được trồng ở trang trại chọn được 4 loại (Táo

ta, Ổi, Chanh, Quất cảnh) có thu nhập thuần khá.

5. Phát triển trang trại là hướng đi đúng của huyện, để đẩy mạnh phát triển

kinh tế trang trại cần áp dụng đồng bộ hệ thống các chính sách, các giải pháp

kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô như đất đai, vốn, thị trường, lao động được áp dụng

khoa học và điều kiện của thị trường, địa phương và các loại hình sản xuất của

trang trại./.



17



ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN

--------------------



TIỂU LUẬN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TRANG TRẠI TỔNG HỢP TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐÔNG SƠN



HỌ VÀ TÊN: LÊ HỒNG TRUNG



LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QLNN

CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN



Đơn vị công tác: UBND Huyện Đông Sơn



Đông Sơn, tháng 5 năm 2019



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×