Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với

Doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình.



10



CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT



1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quản l{ thuế GTGT là hoạt động quản l{ nhà nước của cơ quan thuế tác động đến

để đảm bảo thực thi pháp luật về thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời

thuế GTGT cho NSNN. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT được áp

dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy cơng tác quản l{ thuế

GTGT ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện ở nước đó. Ngay cả

cơng tác quản l{ thuế GTGT trong một quốc gia ở các địa phương, các cấp khác nhau

cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi địa phương

cũng như chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cấp, mỗi bộ phận.

Trong thời gian qua, các cơng trình nghiên cứu về thuế và quản l{ thuế ở Việt Nam

khá phong phú đa dạng. Cũng có nhiều cơng trình nghiên cứu về một sắc thuế cụ thể

như Giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp với các giải pháp cụ thể áp dụng ở phạm vi

toàn quốc hoặc một địa phương cụ thể:

Với đề tài luận án tiến sỹ: “Quản l{ thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”

(2011) của Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương đãchỉ rõ, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống



thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, quan hệ với

các nhân viên quản l{ thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản l{, đảm

bảo tính linh hoạt trong điều hành.Luận án cũng chỉ ra những tác động của hội nhập

kinh tế quốc tế đến quản l{ thuế, bao gồm gia tăng hợp tác thuế giữa các nước, thúc đẩy

cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản l{ thuế, đặc biệt tăng cường đối phó

với hiện tượng trốn và tránh thuế quốc tế. Tuy nhiên, nghiên cứu của đề tài mới chỉ

dừng lại ở mốc thời gian 2010, các giải pháp chưa gắn với tình hình cụ thể của địa

phương nào.

11



”Hồn thiện công tác quản l{ thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp tại Chi cục thuế

thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, của Th.s Nguyễn Văn Nhuận, năm 2014, Trường Đại học

Thái Nguyên đã hệ thống hóa được những vấn đề l{ luận về thuế GTGT và quản l{ thuế

GTGT. Đánh giá thực trạng công tác quản l{ thuế GTGT tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn và

đưa ra các đề xuất, giải pháp hồn thiện cơng tác quản l{ thuế GTGT tại CCT thị xã Từ

Sơn tuy nhiên các giải pháp chưa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản l{

thuế ở việt nam hiện nay.

“Pháp luật về quản lý thuế GTGT tại Việt Nam” của Th.s Trương Thị Hồng

Nhung, năm 2013, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã hệ thống vấn đề pháp luật

thuế GTGT ở Việt Nam dưới góc độ pháp l{, đưa ra kết luận khoa học về thực trạng

pháp luật quản l{ thuế GTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật quản l{ thuế, kết luận về

nguyên nhân của thực trạng để làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện

pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản l{ thuế GTGT ở Việt Nam hiện

nay. Luận văn mới chỉ dừng lại ở mặt l{ luận, chưa đề cập về hiệu quả quản l{ thuế.

“ Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng của một số nước

trên thế giới” (kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013)

trình bày 8 nội dung của chính sách thuế GTGT ở một số nước trên thế giới gắn với

những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung trong Luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. Báo

cáo cũng nêu lên xu hướng của các nước trên thế giới trong lộ trình cải cách thuế suất

và cơ cấu biểu thuế GTGT, phạm vi áp dụng thuế suất 0%, hàng hóa và dịch vụ khơng

chịu thuế GTGT, ngưỡng kê khai áp dụng thuế GTGT, thuế GTGT đối với đối tượng không

cư trú…

Qua báo cáo cho chúng ta thấy xu hướng chung của các nước hiện nay là tăng

cường vai trò của thuế GTGT, đồng thời từng bước giảm dần thuế suất thuế thu nhập để

tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và Việt Nam cũng không nằm ngồi quy luật

đó. Do đó ngồi việc cải cách chính sách thuế thì việc tìm kiếm các nguồn thu mới, quản

12



l{ chặt chẽ căn cứ tính thuế sẽ góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Bài nghiên cứu điều tra : “ Giải pháp chống gian lận trong hồn thuế GTGT” của tác

giả Lê Thị Hòa - Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp đăng trên Tạp chí tài chính tháng

7/2014 đã chỉ ra những thủ đoạn để gian lận thuế GTGT trong hồ sơ hồn thuế, nhấn

mạnh đến những kẽ hở trong cơng tác quản l{ hóa đơn, quản l{ doanh thu dẫn đến thất

thoát ngân sách nhà nước. Bài nghiên cứu chỉ đề cập tới một góc độ của quản l{ thuế là

vấn đề hồn thuế GTGT.

Nhìn chung, các cơng trình trên đã nêu rõ được các căn cứ pháp l{, cơ sở l{

luận về pháp luật thuế GTGT, quản l{ thuế GTGT và cũng đưa ra một số biện pháp và

kiến nghị có { nghĩa thực tiễn đối với cơng tác quản l{ thu thuế GTGT. Tuy nhiên, ở

mỗi quốc gia, địa phương, cấp ngành khác nhau thì việc vận dụng chính sách và áp

dụng các giải pháp khơng hồn tồn giống nhau. Chính vì vậy, tơi đã linh hoạt khi

tham khảo những nội dung mà tôi cho là phù hợp đối với đơn vị mà tôi nghiên cứu,

để tránh áp dụng một cách máy móc, khơng hiệu quả cho thực tiễn việc nghiên cứu

giải pháp để nâng cao hiệu quả quản l{ thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp tại Cục

thuế Ninh Bình.

 Những điểm mới trong luận văn của học viên

- Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ

thống về vấn đề quản l{ thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp ở Cục thuế Ninh Bình. Các

giải pháp đề xuất đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả quản l{ thu thuế GTGT gắn với việc

phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tính đặc thù của doanh nghiệp trên địa bàn

tỉnh Ninh Bình.

- Luận văn cũng đưa ra các chỉ tiêu định tính, định lượng cụ thể để đánh giá hiệu

quả quản l{ thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình. Các chỉ

tiêu này được xây dựng, phân tích, so sánh, đánh giá để thấy được { nghĩa cũng như

sự biến động của chúng.



1.2. Những vấn đề cơ bản về thuế

GTGT

1.2.1. Khái niệm thuế Giá trị gia

tăng

Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, được các nhà kinh tế nghiên cứu từ

rất sớm. Trên thế giới, thuế GTGT đã có lịch sử từ lâu đời, lần đầu xuất hiện năm 1917

và qua nhiều quá trình áp dụng, kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, có

rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về thuế GTGT.

Theo quan điểm chung của các quốc gia thì, thuế GTGT là một loại thuế đánh trên

phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản

xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế được tính trên giá bán cuối cùng cho người

tiêu dùng. Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ người

tiêu dùng thơng qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu

dùng phải trả cho người bán. Người tiêu dùng là người chịu thuế.

Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của

hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong q trình từ sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng (Điều

2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12)

1.2.2. Đặc trưng của thuế giá trị gia

tăng

 Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch

vụ chịu thuế, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu

được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác chính là giá mua

hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng trả đã bao gồm cả thuế GTGT.

 Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản

xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất

cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối

cùng.



Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên,

trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng

trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước

sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là

người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hố đó. Tổng số thuế người tiêu

dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình

sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ.





Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, được biểu hiện ở hai khía cạnh:

Thứ nhất, thuế GTGT khơng chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do



NNT chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy

thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu

được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, thuế GTGT khơng bị ảnh hưởng bởi q trình tổ chức và phân chia quá

trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính

trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.

 Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra

trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này

tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thơng qua việc khơng thu thuế đối

với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu.

1.2.3. Cách tính thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT mà doanh nghiệp phải nộp được tính theo một trong hai phương

pháp: khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp.

a. Phương pháp khấu trừ thuế







Đối tượng áp dụng:Các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế tốn, hóa



đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế tốn, hóa đơn, chứng từ bao gồm:

◆ Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;

◆ Cơ sở kinh doanh đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế,

trừ hộ, cá nhân kinh doanh.





Xác định số thuế GTGT phải nộp:

Số thuế GTGT phải

nộp



=



Số thuế GTGT

đầu ra



-



Số thuế GTGT đầu vào

được khấu trừ



Trong đó:

- Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi

trên hoá đơn GTGT.

Thuế GTGT ghi trên hố đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu

thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế GTGT của hàng hố, dịch vụ đó.

Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì thuế

GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh tốn trừ (-) giá tính thuế.

Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo nguyên tắc khấu trừ

thuế GTGT quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Thông tư 219/2013/TT- BTC.

Căn cứ tính thuế là Giá tính thuế và thuế suất. Luật thuế GTGT quy định 3 mức

thuế suất phổ thơng là 0%, 5%,10% và nhóm 28 mặt hàng, dịch vụ không chịu thuế

(Điều 4, luật quản l{ thuế số 13). Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện

chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ. Hàng

hóa xuất khẩu bao gồm cả hàng gia công xuất khẩu (xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất

khẩu và khu chế xuất ) được áp dụng mức thuế suất 0% nhằm thực hiện khuyến khích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×