Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Phương pháp khấu trừ thuế

a. Phương pháp khấu trừ thuế

Tải bản đầy đủ - 0trang





Đối tượng áp dụng:Các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế tốn, hóa



đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế tốn, hóa đơn, chứng từ bao gồm:

◆ Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh;

◆ Cơ sở kinh doanh đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế,

trừ hộ, cá nhân kinh doanh.





Xác định số thuế GTGT phải nộp:

Số thuế GTGT phải

nộp



=



Số thuế GTGT

đầu ra



-



Số thuế GTGT đầu vào

được khấu trừ



Trong đó:

- Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi

trên hoá đơn GTGT.

Thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hố, dịch vụ chịu

thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó.

Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh tốn là giá đã có thuế GTGT thì thuế

GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế.

Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định theo nguyên tắc khấu trừ

thuế GTGT quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Thơng tư 219/2013/TT- BTC.

Căn cứ tính thuế là Giá tính thuế và thuế suất. Luật thuế GTGT quy định 3 mức

thuế suất phổ thơng là 0%, 5%,10% và nhóm 28 mặt hàng, dịch vụ không chịu thuế

(Điều 4, luật quản l{ thuế số 13). Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện

chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ. Hàng

hóa xuất khẩu bao gồm cả hàng gia cơng xuất khẩu (xuất khẩu ra nước ngồi hoặc xuất

khẩu và khu chế xuất ) được áp dụng mức thuế suất 0% nhằm thực hiện khuyến khích



xuất khẩu. Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu

dùng được áp dụng mức thuế suất thấp là 5% như thuốc chữa bệnh….Các hàng hóa,

dịch vụ khác không nằm trong mức thuế suất 0% và 5% được áp dụng thuế suất phổ

thông là 10%

b) Phương pháp trực

tếp

 Đối

dụng:



tượng



áp



◆ Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng

doanh thu một tỷ đồng, trừ trường hợp đăng k{ tự nguyện áp dụng phương pháp

khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này (Luật số 31/2013/QH13);

◆ Hộ, cá nhân kinh doanh;

◆ Tổ chức, cá nhân nước ngồi kinh doanh khơng có cơ sở thường trú tại

Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế

toán, hoá đơn, chứng từ, trừ tổ chức, cá nhân nước ngồi cung cấp hàng hóa, dịch vụ

để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp

thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay;

◆ Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng k{ nộp thuế theo phương

pháp

khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này (số

31/2013/QH13);

 Cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh

thu

Số thuế GTGT phải

nộp



=



Doanh thu



*



Tỷ lệ %



sau

:



Như vậy căn cứ để tính thuế là Doanh thu tính thuế và tỷ lệ % để tính GTGT

+ Tỷ lệ % để tính GTGT trên doanh thu được quy định theo từng hoạt động như

– Phân phối, cung cấp hàng hố: 1%;



– Dịch vụ, xây dựng khơng bao thầu nguyên vật liệu: 5%;

– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hố, xây dựng có bao thầu nguyên vật

liệu: 3%;

–Hoạt động kinh doanh khác: 2%.

+ Doanh thu để tính thuế GTGT:

– Là tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ thực tế ghi trên hóa đơn bán hàng đối với

hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm các khoản phụ thu, phí thu thêm mà cơ sở

kinh doanh được hưởng.

– Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì

khơng áp dụng tỷ lệ (%) trên doanh thu đối với doanh thu này.

Cơ sở kinh doanh nhiều ngành nghề có mức tỷ lệ khác nhau phải khai thuế GTGT

theo từng nhóm ngành nghề tương ứng với các mức tỷ lệ theo quy định; Trường hợp

người nộp thuế không xác định được doanh thu theo từng nhóm ngành nghề hoặc trong

một hợp đồng kinh doanh trọn gói bao gồm các hoạt động tại nhiều nhóm tỷ lệ khác

nhau mà khơng tách được thì sẽ áp dụng mức tỷ lệ cao nhất của nhóm ngành nghề mà

cơ sở sản xuất, kinh doanh.

 Cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT( Áp dụng đối với các

doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng vàng, bạc, đá quý)

Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng giá trị gia

tăng nhân với thuế suất thuế GTGT .

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá qu{ được xác định bằng giá thanh toán của vàng bạc đá

qu{ bán ra trừ (-) giá thanh toán vàng, bạc, đá qu{ mua vào tương ứng.

Giá thanh toán của vàng, bạc đá qu{ bao gồm cả tiền cơng chế tác (nếu có), thế GTGT

và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được

hưởng.



Giá thanh toán của vàng, bạc, đá qu{ mua vào được xác định bằng giá trị vàng bạc, đá

qu{ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá

qu{ bán ra tương ứng.

Theo các qui định trên, thì những Doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới mức

ngưỡng doanh thu một tỷ đồng sẽ có 2 sự lựa chọn phương pháp tính

thuế: i/ Hoặc là theo phương pháp trực tiếp (mặc định)

ii/ Hoặc theo phương pháp khấu trừ (phải thông báo đăng k{ với cơ quan thuế)

Chính vì có 2 sự lựa chọn, nên vấn đề được đặt ra là doanh nghiệp sẽ chọn cách

tính nào để có lợi cho doanh nghiệp – số thuế GTGT phải nộp là nhỏ nhất.Câu trả lời là

tùy vào tình hình, đặc điểm của mỗi doanh nghiệp, mà có sự lựa chọn tối ưu. Theo một

số chuyên gia về thuế : “Những doanh nghiệp có số thuế GTGT mua vào gần tương ứng

với số thuế GTGT bán ra, có nghĩa là chênh lệch giữa thuế GTGT bán ra và thuế GTGT

mua vào không nhiều dẫn đến số thuế GTGT phải nộp là nhỏ, hoặc không phải nộp thuế

GTGT. Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn cách tính thuế GTGT theo phương

pháp khấu trừ, thường là các doanh nghiệp sau:

– Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, hoạt động xây dựng, lắp đặt cơng

trình cho doanh nghiệp chế xuất; vận tải quốc tế…áp dụng mức thuế suất đầu ra là 0%;

doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa dịch vụ khơng phải khai, tính nộp thuế GTGT.

Các doanh nghiệp này, thì thuế GTGT đầu ra là bằng 0 nhưng thuế GTGT đầu vào thì

được khấu trừ tồn bộ do đó khơng phát sinh số thuế GTGT phải nộp, nhưng lại được

hoàn thuế đầu vào.

– Doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khơng chịu thuế GTGT như: sản phẩm

trồng trọt, giống vật nuôi, giống cây trồng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ cấp tín dụng, kinh

doanh chứng khoán bao, dịch vụ y tế, dịch vụ bưu chính, viễn thơng cơng ích, dạy học,

dạy nghề, …khơng phát sinh số thuế GTGT phải nộp.



– Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà có

đầy đủ hóa đơn GTGT của hàng mua vào tương ứng với hàng bán ra chịu thuế GTGT, và

chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua là nhỏ (tỷ lệ lợi nhuận thấp) dẫn tới số thuế GTGT

phải nộp là không đáng kể.

Đối với những doanh nghiệp không có số thuế GTGT mua vào, hoặc thuế GTGT

mua vào là quá nhỏ so với số thuế GTGT bán ra dẫn đến số thuế GTGT phải nộp là rất

lớn nếu chọn theo phương pháp khấu trừ. Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn

cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.Thường là các doanh nghiệp sau:

– Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn thiết kế, lập dự toán, tư vấn

pháp l{, dịch vụ nhân sự, các dịch vụ khác mà chi phí chủ yếu là tiền lương (nhân

cơng/chất xám) hoặc chi phí khơng có hóa đơn GTGT.

– Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà

khơng có hóa đơn GTGT của hàng mua vào như mua bán sản phẩm nông/lâm/ngư

nghiệp, đất đá cát sỏi (mua từ người trực tiếp sản xuất bán ra)thì số thuế GTGT đầu vào

là hầu như khơng có hoặc rất nhỏ so với thuế GTGT đầu ra. Nếu chọn theo phương pháp

khấu trừ thì thuế GTGT phải nộp là rất lớn. Chính vì thế nộp theo phương pháp trực tiếp

sẽ tối ưu hơn vì số thuế GTGT phải nộp là nhỏ.”

Về phía cơ quan thuế, đối với mỗi phương pháp tính thuế sẽ có những đặc thù

riêng do đó phương pháp quản l{ cũng khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

này đối tượng chính là các doanh nghiệp Cục thuế Ninh Bình quản l{ do đó chủ yếu là

các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên đề tài không đề cập tới quy trình quản l{ thu thuế của

hộ kinh doanh cá thể mà chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng là doanh nghiệp.

1.2.4. Vai trò của thuế giá trị gia

tăng.

Thứ nhất, Thuế GTGT đảm bảo nguồn thu lớn cho NSNN.

Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức,

cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được

20



nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. Thuế GTGT ngày càng khẳng định đây là

loại thuế tiên tiến nhằm tạo ra sự công bằng và tiến bộ. Thuế GTGT đã góp phần làm

tăng NSNN, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Sự đóng góp của thuế GTGT vào

NSNN tăng liên tục qua các năm được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1. 1: Tổng hợp số thu thuế GTGT giai đoạn 2011-2015



Chỉ tiêu



Tổng thu nội địa

(trừ dầu thô)

Tổng thu thuế

GTGT

Tỷ lệ Thuế GTGT/ Tổng thu nội địa( Trừ dầu thô)



(Nguồn: http://mof.gov.vn – Website Bộ Tài chính)

Thứ hai,Thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thơng hàng hố

Với ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng

thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với tồn

bộ doanh thu phát sinh. Nếu như khơng có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ,

sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thối và các ngun nhân khác tác

động thì việc áp dụng thuế GTGT sẽ khơng ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu

21



dùng, mà trái lại giá cả càng hợp l{ hơn, chính xác hơn vì tránh được hiện tượng “thuế

chồng lên thuế” như khi áp dụng đối với Luật thuế doanh thu trước đây.

Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế

(IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế GTGT, giá cả

các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể

và mức sản xuất cuả các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm,

hay chỉ sút giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp tăng thuế suất

thuế GTGT.

Thứ ba, Thuế GTGT góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của cả cơ quan Thuế và

NN

T

Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng

thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản l{ kinh doanh đã bắt

đầu trú trọng đến cơng tác mở sổ kế tốn, ghi chép, quản l{ và sử dụng hố đơn chứng

từ. Thơng qua việc chấp hành cơng tác kế tốn, hố đơn chứng từ của các doanh

nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức

năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.

Chính sách hồn thuế GTGT đầu vào đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển công

nghệ, đầu tư đổi mới tài sản cố định, góp phần thúc đẩy vốn đầu tư xã hội tăng trưởng.

1.3. Khái quát chung về quản lý thuế GTGT

1.3.1. Khái niệm quản lý thuế GTGT

Theo giáo trình “Tài chính cơng” của khoa Tài chính Nhà nước Trường đại học Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì: “ Quản l{ thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ

quan có chức năng thu NSNN thực hiện”… “Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Phương pháp khấu trừ thuế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×