1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kỹ thuật >

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM – TRUNG QUỐC ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (337.08 KB, 55 trang )


2.1. Tình trạng nhập siêu kéo dài với mức độ ngày càng lớn

Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của kim ngạch buôn bán hai chi ều,

cũng như chênh lệch tốc độ tăng giữa xuất và nhập khẩu Vi ệt Nam - Trung

Quốc theo hướng bất lợi cho Việt Nam, CCTM ngày càng nghiêng v ề h ướng có

lợi cho Trung Quốc và bất lợi cho Việt Nam (Hình 2)

Hình 2.1: Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc

5

0



2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016



ĐVT : Tỷ USD



-5

-10

-15

-20

-25

-30

-35



Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan

(Việt Nam)

Từ năm 2000 trở về trước, Việt Nam vẫn là nước xuất siêu vào Trung

Quốc nhưng đến năm 2001 Việt Nam lần đầu nhập siêu từ Trung Quốc v ới

mức 189 triệu USD. Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (năm 2001), Việt

Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc với xu hướng ngày càng tăng. C ụ th ể,

nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc năm 2002 là 0,64 tỷ USD (gấp hơn 3

lần so với khoảng 0,19 tỷ USD của năm 2001), năm 2005 lên gần 2,7 tỉ USD

(gấp 14 lần), năm 2010 lên 12,7 tỉ USD (gấp hơn 66 lần). Tốc độ tăng nhập

siêu từ Trung Quốc cao nhất vào năm 2013 tới 44.5% so với năm 2012, năm

2014 lên 28,9 tỷ USD (gấp hơn 152 lần) và năm 2015 đ ạt tới m ức k ỷ l ục 32,4

tỷ USD, tăng hơn 12,1% so với năm 2014, và tăng 171 l ần sau 15 năm.Tuy

nhiên tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc đã chững l ại trong năm 2016. Đi ều đáng

lo là, nhập siêu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng nhập siêu



của Việt Nam đối với toàn thế giới.

Xem xét tương quan giữa CCTM Việt - Trung với CCTM chung của Việt

Nam với tồn thế giới, có thể thấy, trong giai đoạn nghiên cứu, tỉ trọng nhập

siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong tổng nhập siêu chung của Việt Nam

đã tăng đột biến từ 18% năm 2001 (0,19 tỷ USD so v ới 1,1 t ỷ USD), lên 64%

năm 2007 (9,06 tỷ USD so với 14,1 tỷ USD), 86% năm 2009 (11,04 tỷ USD so

với 12,9 tỷ USD), hơn 100% năm 2010 (12,71 tỷ USD so với 12,6 tỷ USD) và

136% năm 2011 (13,47 tỷ USD so với 9,9 tỷ USD). Thậm chí, vào các năm

2012, 2013 và 2014, CCTM chung của Việt Nam đã thặng dư (dù ở mức thấp),

thì CCTM riêng với Trung Quốc vẫn thâm hụt nặng nề, tương ứng là 16,4 tỉ

USD, 23,70 tỉ USD và 28,9 tỉ USD. Đặc biệt, năm 2015, nh ập siêu từ Trung Qu ốc

gấp khoảng 9,6 lần so với mức nhập siêu chung. Tháng 12/2016, kim ng ạch

xuất nhập khẩu cả nước đạt 33,66 tỷ USD. Tính chung 12 tháng năm 2016,

tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt hơn 350,7 tỷ USD, tăng 7,1% so

với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 176,63 tỷ USD, tăng 9% so v ới cùng

kỳ. Nhập khẩu đạt hơn 174,1 tỷ USD, tăng 5,2%.Dù thâm h ụt th ương m ại l ớn

trong tháng 12/2016, song tính chung cả năm, Việt Nam v ẫn xu ất siêu 2,52 t ỷ

USD.Theo Tổng cục Hải quan, thị trường xuất khẩu năm 2016 của Việt Nam

vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á, với kim ngạch hơn 85,3 t ỷ USD,

chiếm 48,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, Trung Quốc

nhập gần 22 tỷ USD hàng hóa của Việt Nam, tăng 28,4% so với cùng kỳ, chi ếm

12,4% kim ngạch xuất khẩu cả nước, là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của

Việt Nam.Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung

Quốc với kim ngạch gần 49,9 tỷ USD, tăng 0,9%, và chi ếm tỷ tr ọng 28,7% tổng

nhập khẩu của cả nước. Như vậy, năm 2016, Trung Quốc là đối tác thương

mại lớn nhất của Việt Nam, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu g ần 72 tỷ

USD, chiếm 20,5% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Việt Nam giữ vị

thế xuất siêu trong quan hệ thương mại với Mỹ, song vẫn là n ước nhập siêu

lớn trong quan hệ thương mại với Trung Quốc.



Thực trạng thâm hụt nặng nề của Việt Nam với Trung Quốc và thặng

dư của Việt Nam với phần còn lại của thế giới như trên cho thấy, Việt Nam

đang phải dùngthặng dư thương mạivới các quốc gia khác đ ể bù đắp cho

thiếu hụt thương mại nặng nề với Trung Quốc, hay nói cách khác, Việt Nam

đang xuất khẩu hộ cho Trung Quốc. Tuy nhiên, đáng tiếc là, khả năng bù đắp

này cũng đang có chiều hướng giảm dần, do nhập siêu từ Trung Qu ốc v ẫn

tăng nhanh trong khi xuất khẩu sang các thị trường khác bị thu hẹp vì nhi ều lý

do.

Từ Bảng 2, xem xét cụ thể hơn ta thấy, trong giai đoạn 2001-2016, tốc

độ tăng trưởng trung bình hàng năm của nhập khẩu Vi ệt Nam từ Trung

Quốc đạt khoảng 22,7%, gấp 1,5 lần tốcđộ tăng của xuất khẩu Việt Nam sang

Trung Quốc (tăng khoảng 21,20%), và cao hơn hẳn tốc độ tăng nh ập kh ẩu nói

chung



c ủa



cả



nước



trong



cùng



giai



đoạn.Vềgiátrị,nhậpkhẩucủaViệtNamtừTrung Quốc tăng khoảng 30,25 lần sau

15 năm, từ 1,61 tỉ USD năm 2001 lên 49,52 tỉ USD năm 2015, trong khi đó, giá

trị hàng xuất khẩu Việt Nam- Trung Quốc chỉ tăng khoảng 12,21 lần, từ mức

1,42 tỉ USD năm 2001 lên 17,1 tỉ USD năm2015. Sự chênh lệch lớn và kéo dài

về tốc độ giữa xuất khẩu và nhập khẩu như vậy đã khiến cho thâm h ụt

thương mại của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng lớn và kéo dài. Nếu năm

2001, nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm chưa đến 10,0% tổng nhập kh ẩu của

Việt Nam, thì đến năm 2011, tỷ lệ này đã là 23,0% (gấp 2,3 lần) và năm 2015

là 29,9%, gấp 3 lần. Trong khi đó, xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc

hầu như không đổi,chỉ chiếm trên dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu

củaViệt Nam. Tốc độ gia tăng nhập khẩu từ Trung Quốc liên tục lớn h ơn tốc

độ gia tăng xuất khẩu sang thị trường này và giá trị nhập khẩu Việt Nam

-Trung Quốc gấp khoảng 2-3 lần giá trị xuất khẩu và ch ưa th ấy d ấu hi ệu thu

hẹp đã và đang khiến tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim

ngạch nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng. Chẳng hạn, tốc độ tăng nhập

khẩu cao gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng xuất khẩu (giai đoạn 2001-2015) đã



lý giải cho tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng l ớn của Việt Nam với

Trung Quốc.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những số liệu chính thức mà cơ quan ch ức

năng thống kê được, chứ chưa tính đến giá trị hàng hố nhập lậu từ

TrungQuốc, vốn tràn lan trên thị trường Việt Nam. Phải chăng đó là một trong

những lý do chính khiến số liệu của cơ quan th ống kê Trung Qu ốc v ề giá tr ị

Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam và cơ quan thống kê Việt Nam về giá trị

Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc vênh nhau tới gần 20 tỷUSD ch ỉ riêng

trong năm 2014 và 16,62 tỉ USD năm 2015. Điều đó chứng tỏ Việt Nam ngày

càng phụ thuộc nặng nề hơn vào nguồn cung cấp (cả hàng tiêu dùng l ẫn s ản

xuất) từ thị trường Trung Quốc.

2.2. Tác động của cán cân thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc đến

GDP Việt Nam

Về sự tác động của GDP Trung Quốc tới cán cân thương m ại song

phương Việt Nam- Trung Quốc: Ngoài sự tác động của tỷ giá, giá trị xu ất

khẩu của Việt Nam còn chịu ảnh hưởng phần nào từ GDP của Trung Quốc.

Đây là mối quan hệ thuận chiều và hơi mờ nhạt. Điều này có th ể được lý

giải bởi mức thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc v ẫn th ấp nên

với sự tăng thêm thu nhập, họ sẽ dành cho những nhóm hàng thi ết y ếu có

giá trị thấp, trong khi đó nhóm hàng chủ yếu Việt Nam xuất sang Trung

Quốc như rau củ quả, gạo có giá trị rất thấp, còn lại chủ yếu là tài ngun

khống sản, cao su, gỗ,… khơng có quan hệ nhi ều tới vi ệc tăng/gi ảm thu

nhập của người dân. Ngoài ra, điều này cũng được lý gi ải là do hàng Vi ệt

Nam chưa đánh trúng xu hướng tiêu dùng và phù hợp v ới tâm lý tiêu dùng

của người dân Trung Quốc, đây cũng chính là lý do tại sao người Trung

Quốc chuộng đồ ngoại nhập nhưng lại thờ ơ với hàng hóa Việt Nam.

Về tác động của GDP Việt Nam tới kim ngạch nhập khẩu từ Trung

Quốc: Sự gia tăng của GDP trong nước đã làm tăng nhu cầu nhập khẩu, gây



ra thâm hụt cán cân thương mại nhiều hơn. Lý do được đưa ra để giải

thích cho việc chỉ số GDP trong nước tăng làm gia tăng mạnh nhu cầu nh ập

khẩu là GDP gia tăng đã làm tăng nhu cầu nhập kh ẩu trang thi ết b ị, máy

móc phục vụ cho sản xuất trong nước tăng lên và tăng nhu cầu tiêu dùng,

tuy nhiên, hàng nội địakém cạnh tranh không bắt kịp xu hướng người tiêu

dùng đã đánh mất cơ hội này và nhường cho hàng nhập kh ẩu của Trung

Quốc.

Về tác động của GDP Việt Nam và Trung Quốc, tới cán cân thương m ại

Việt Nam- Trung Quốc: tác động của GDPVIETNAM, GDPCHINA tuy nhỏ

nhưng đây lại là những yếu tố đòn bẩy và quyết định đối với chênh lệch cán

cân thương mại. Bởi những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng

hấp thụ của nền kinh tế khi phá giá tiền tệ diễn ra.

Khi GDP Việt Nam tăng, người Việt Nam tăng tiêu dùng hàng nh ập

khẩu Trung Quốc mạnh hơn khiến nền kinh tế bị nhập siêu từ Trung Qu ốc.

Khi GDP Trung Quốc tăng thì chênh l ệch giữa xu ất khẩu và nh ập kh ẩu có

tăng, nhưng rất ít. GDP tăng, nhu cầu tiêu dùng của con người tăng lên và

việc tăng nguyên liệu sản xuất để mở rộng qui mô sản xuất nội địa đặt ra.

Đối với một nền sản xuất mạnh mẽ như Trung Quốc thì chắc ch ắc sẽ đáp

ứng khơng những đủ cho sản xuất và tiêu dùng nội địa mà còn dư th ừa hàng

hóa để bán ra nước ngồi. Trái lại, việc phụ thuộc nguyên liệu nhập khi ến

Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa, giá s ản xu ất l ại

tăng lên do cầu tăng và nhập hàng để đáp ứng nhu cầu trong n ước đã x ảy ra.

Điều này giải thích tại sao GDP VIETNAM tăng thì Vi ệt Nam tăng nh ập kh ẩu

nhiều, trong khi GDP CHINA tăng thì Trung Quốc tăng nhập kh ẩu ít. C ầu c ủa

người Trung Quốc về sản phẩm của Việt Nam tương đối kém nhạy cảm do

hàng Việt Nam kém cạnh tranh, ít được biết đến, ngược lại với hàng Trung

Quốc sức cạnh tranh cao và được ưa chuộng trên cả nước.

Trong kinh tế học, theo cách tiếp cận chi tiêu thì tổng sản ph ẩm trong

nước (GDP) bao gồm 4 thành tố là tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất



khẩu ròng. GDP có thể viết dưới dạng phương trình sau: GDP = C + I + G + NX

(trong đó: C: tiêu dùng; I: đầu tư; G: chi tiêu của Chính phủ; NX: xu ất kh ẩu

ròng (còn được gọi là cán cân thương mại, là khoản chênh l ệch gi ữa giá tr ị

hàng xuất khẩu trừ đi giá trị hàng nhập khẩu)).

Để thấy được mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, cán cân th ương m ại,

chúng ta biến đổi biểu thức lại như sau: NX = (GDP – C – G) – I (1). Trong đó

(GDP – C – G) chính là tổng thu nhập còn l ại c ủa n ền kinh t ế sau khi đã tr ừ đi

các khoản tiêu dùng của người dân và chi tiêu của Chính phủ, và nó được gọi là

tiết kiệm quốc dân (Sn). Từ phương trình (1) ta có th ể viết lại thành: NX = Sn I (2).

Đồng nhất thức này cho thấy mối quan hệ giữa ti ết ki ệm, đầu tư v ới

cán cân thương mại hay là giữa luồng vốn quốc tế sử dụng để tích lũy v ốn (Sn

- I) và luồng hàng hóa, dịch vụ quốc tế (NX). Nếu mức ti ết ki ệm không đáp

ứng đủ cho nhu cầu đầu tư thì cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt và các n ước

sẽ dựa vào lượng vốn từ nước ngoài để tài tr ợ cho nhu cầu đầu tư của n ền

kinh tế. Ngược lại, khi nhu cầu đầu tư nhỏ hơn tiết ki ệm của n ền kinh t ế thì

cán cân thương mại sẽ chuyển sang thặng dư.

Bảng 2.1: Tiết kiệm, đầu tư và cán cân thương mại từ năm 2012 - 2015



Tiết kiệm

(%GDP)

Đầu tư (%GDP)

Cán cân thương

mại(%GDP)



2012



2013



2014



2015



30,7



28,8



31,1



24,6



27,2



26,7



26,8



27,1



3,5



2,1



3,3



-1,65



(Nguồn: worldbank.org, [3], [4])

Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam trong giai đoạn 20122015 liên tục biến động, đến năm 2015 đã giảm xuống 24,6% GDP từ mức



30,7% GDP của năm 2012, và giảm thêm 5,5% so v ới năm 2014 (năm 2014 t ỷ

lệ tiết kiệm đạt 31,1% GDP). Trong khi đó, nhu cầu đầu tư khá ổn định, khơng

có sự biến động mạnh. Cụ thể, năm 2012 là 27,2% GDP, sang năm 2014 gi ảm

chỉ còn đạt khoảng 26,8% GDP. Tuy nhiên, đến năm 2015, tỷ l ệ đ ầu t ư có d ấu

hiệu khởi sắc, tăng từ 26,8% GDP lên 27,1% GDP.

Có thể thấy, khi có sự chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư thì sẽ ảnh

hưởng lớn đến cán cân thương mại ở Việt Nam. Khi tỷ lệ ti ết ki ệm là 31,1%

GDP năm 2014 lớn hơn tỷ lệ đầu tư là 26,8% GDP thì cán cân th ương m ại c ủa

Việt Nam năm 2014 sẽ thặng dư 3,3% GDP; còn khi tỷ lệ ti ết ki ệm nh ỏ h ơn t ỷ

lệ đầu tư thì cán cân thương mại sẽ âm. Cụ thể, năm 2015, tỷ lệ ti ết ki ệm là

24,6% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư là 27,1% GDP thì cán cân th ương m ại thâm

hụt -1,65% GDP.

Như vậy, khi nền kinh tế có dấu hiệu khởi sắc hay xấu đi, cán cân

thương mại thặng dư hay thâm hụt, nguyên nhân chính nằm ở sự thay đổi

trong tiết kiệm và đầu tư.

Hình 2.2: Cán cân thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc và tốc độ

tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2016

0.09



60



0.08



50



0.07

0.06



40



0.05



30



0.04

0.03



20



0.02



10



0.01

0



00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16

20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20



NK



Tốc độ tăng GDP



Nguồn: Tổng cục hải quan



0



Giai đoạn 2011-2016, tăng trưởng GDP bình quân năm ước đạt 5,88%

và là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000 tới nay (giai đoạn 2006-2010, tăng

trưởng bình quân đạt 7% , giai đoạn 2001-2005 là 7,51%). Để tăng GDP của 1

nước thì cần tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.

Tổng sản phẩm trong nước GDP của Việt Nam năm 2006 theo giá so

sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó khu vực nơng,

lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghi ệp và xây dựng tăng

10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29%. Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu v ực

nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công

nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu v ực dịch v ụ đóng

góp 3,34 điểm phần trăm.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2007 theo giá so

sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,28,5%).Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các qu ốc gia

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng

Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế Trung Qu ốc tăng 11,2%; Vi ệt

Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng

6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%).Tổng sản phẩm trong nước

(GDP) của Việt Nam năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so

với năm 2007.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GPD của Việt Nam năm 2009,

tổng sản phẩm trong nước GDP của Việt Nam tăng 5,32% so v ới năm

2008.Nhìn vào tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP của Việt Namcho

thấy nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm tốc độ tăng tr ưởng,

chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy gi ảm kinh t ế c ủa Chính ph ủ

đề ra, được triển khai trong năm vừa qua phù hợp v ới tình hình th ực t ế, đã và

đang phát huy hiệu quả.



Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2010 ước tính

tăng 6,78% so với năm 2009. Đây là mức tăng khá cao so v ới m ức tăng 6,31%

của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, v ượt mục tiêu đề ra

6,5%.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2011 ước tính

tăng 5,89% so với năm 2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010

nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung

ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mơ thì mức tăng tr ưởng trên là

khá cao và hợp lý. Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp th ời, hi ệu qu ả

của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết li ệt

các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2012 tính theo giá

so sánh 1994 ước tính tăng 5,03% so với năm 2011. Mức tăng tr ưởng kinh t ế

năm 2012 tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh

kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên

kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mơ thì mức tăng như vậy là hợp lý và

thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý, khẳng định tính kịp thời, đúng đắn

và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp thực hiện của Trung ương Đảng,

Quốc hội và Chính phủ.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2013 ước tính

tăng 5,42% so với năm 2012. Mức tăng trưởng năm 2013 tuy thấp hơn mục

tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín

hiệu phục hồi. Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm có nhiều bất ổn,

sản xuất trong nước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ tập trung ch ỉ

đạo quyết liệt các ngành, các cấp thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn

định kinh tế vĩ mô nên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp

thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành.



Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 của Việt Nam ước tính

tăng 5,98% so với năm 2013. Mức tăng trưởng năm 2014 cao hơn mức tăng

5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích

cực của nền kinh tế.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam năm 2015 ước tính

tăng 6,68% so với năm 2014. Mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2015

cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm t ừ 20112014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét. Quy mô nền kinh t ế Vi ệt Nam

năm 2015 theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đ ầu

người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương 2109 USD/người,

tăng 57 USD so với năm 2014.

Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố ngày 28/12/2016

cho thấy, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21%.

Mức tăng này thấp hơn 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu đề ra là

6,7%. Tuy nhiên nếu xét trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới năm 2016

không thuận, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhi ều khó

khăn do thời tiết, mơi trường biển diễn biến phức tạp, đây cũng là năm

chuyển giao thế hệ lãnh đạo… thì việc đạt được mức tăng trưởng nh ư trên là

cũng là một thành công.

Về quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2016, Tổng cục trưởng Tổng cục

Thống kê, ông Nguyễn Bích Lâm, cho biết: Tính theo giá hiện hành quy mơ nền

kinh tế năm 2016 đạt 4.502,7 nghìn tỷ đồng; GDP bình qn đầu người ước

tính đạt 48,6 triệu đồng, tương đương 2.215 USD , tăng 106 USD so với năm

2015. Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy s ản

chiếm tỷ trọng 16,32%; khu vực công nghiệp và xây dựng chi ếm 32,72%; khu

vực dịch vụ chiếm 40,92%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chi ếm

10,04% (Cơ cấu tương ứng của năm 2015 là: 17,00%; 33,25%; 39,73%;



10,02%).

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2016, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,32%

so với năm 2015, đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong

đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 4,81 đi ểm phần trăm); tích lũy

tài sản tăng 9,71%, đóng góp 3,08 điểm phần trăm; chênh l ệch xu ất, nhập

khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 2,16 đi ểm ph ần

trăm của mức tăng trưởng chung. Trong quan hệ thương mại v ới Trung Qu ốc,

Việt Nam luôn nhập siêu với mức độ ngày càng l ớn. Số liệu minh ch ứng là

trong giai đoạn 2005 - 2014, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Qu ốc tăng h ơn

10 lần từ mức 2,8 tỷ USD năm 2005 lên mức gần 29 tỷ USD năm 2014 và d ự

báo năm khoảng 35 tỷ USD trong năm 2015.

Theo một số đánh giá, năng lực sản xuất thép của Trung Qu ốc đang

vượt nhu cầu trong nước khoảng 70-100%. Lượng sắt thép nhập khẩu của

Việt Nam từ Trung Quốc tăng 3,7 lần trong giai đoạn 2011 - 2014, chi ếm t ỷ

trọng ngày càng tăng trong cơ cấu nhập khẩu sắt thép (tăng từ khoảng 22,6%

năm 2011 lên 53% năm 2014 và 60% trong 8 tháng đầu năm 2015).

Nhìn vào cơ cấu hàng nhập khẩu, Bộ trưởng lo ngại một số hàng hóa là

nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị phụ tùng phục vụ cho sản xuất và

xuất khẩu được nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc do đây là nguồn

cung cấp có giá cả cạnh tranh với số lượng lớn. Khi đồng Nhân dân t ệ phá giá,

nhập khẩu nhóm hàng này có khả năng sẽ tăng mạnh h ơn, gây áp l ực tăng

nhập siêu.

Vẫn ở chiều tiêu cực, theo Bộ trưởng, kinh tế Trung Quốc suy giảm sẽ

khiến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa vào Trung Quốc gi ảm, xuất khẩu của Vi ệt

Nam sang Trung Quốc sẽ khó khăn hơn. Trong khi đó, hàng Việt Nam xuất

khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là các mặt hàng nông s ản và nguyên li ệu



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (55 trang)

×