Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỆNH.

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỆNH.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



1.1.2. Niệu quản

Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang, dài 25 - 30

cm. Niệu quản tiếp nối với bể thận ngang mức mỏm ngang cột sống L2 - L3.

Trước khi niệu quản đổ vào bàng quang, có một đoạn niệu quản đi trong

thành bàng quang và kết thúc bằng 2 lỗ niệu quản.

Niệu quản có đường kính ngồi 4 - 5 mm, đường kính trong 2 - 3 mm,

nhưng đường kính trong có thể căng rộng 7mm. Niệu quản có cấu tạo từ

ngồi vào trong gồm: lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp niêm mạc.

Niệu quản được chia thành 3 đoạn: niệu quản trên, niệu quản giữa và

niệu quản dưới. Một số tác giả chia niệu quản thành 2 đoạn: niệu quản gần từ

chỗ niệu quản bắt chéo bó mạch chậu lên trên và niệu quản xa từ chỗ niệu

quản bắt chéo bó mạch chậu xuống dưới bàng quang.



4



1.1.3. Bàng quang

Bàng quang là một túi chứa nước tiểu nằm ngay sau khớp mu. Khi rỗng,

bàng quang nấp toàn bộ sau khớp mu, nhưng khi đầy nước tiểu nó vượt lên

trên khớp mu, có khi tới sát rốn.

Bàng quang được cấu tạo gồm 4 lớp, từ trong ra ngoài gồm: lớp niêm

mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ, lớp thanh mạc. Trong đó lớp dưới niêm mạc

rất lỏng lẻo làm cho lớp cơ và lớp dưới niêm có thể trượt lên nhau.

Cơ bàng quang gồm 3 lớp: lớp cơ vòng ở trong, lớp cơ chéo ở giữa và

lớp cơ dọc ở ngồi.

Bình thường, dung tích bàng quang khoảng 300 - 500ml. Trong một số trường

hợp bệnh lý, dung tích bàng quang có thể tăng tới hàng lít lúc đó khám lâm

sàng thấy cầu bàng quang, hay dung tích bàng quang giảm chỉ còn vài chục

mililít (bàng quang bé).



Lòng bàng quang được che phủ bởi một lớp niêm mạc. Bàng quang được

nối thông với bể thận bởi 2 niệu quản. Hai lỗ niệu quản tạo với cổ bàng quang

một tam giác, gọi là tam giác bàng quang (trigone). Đường gờ cao nối 2 lỗ niệu

quản là gờ liên niệu quản, một mốc giải phẫu quan trọng khi tìm lỗ niệu quản.



5



ở phía dưới, bàng quang được mở thẳng ra ngoài bằng niệu đạo. ở nam giới,

niêm mạc niệu đạo tuyến tiền liệt và niêm mạc bàng quang cùng bản chất.

1.1.4. Niệu đạo

Niệu đạo là một ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra miệng sáo, niệu đạo nam

giới đồng thời là đường đi chung của hệ tiết niệu và hệ sinh dục (khi xuất tinh).

Ở ngời trưởng thành, niệu đạo nam giới dài từ 14 - 16 cm, được chia ra làm

hai phần:

+ Niệu đạo sau: dài 4 cm, gồm niệu đạo tuyến tiền liệt (dài 3 cm) và niệu

đạo màng (1 - 1,5 cm) xuyên qua cân đáy chậu giữa. Khi chấn thương vỡ xương chậu, niệu đạo màng dễ bị tổn thơng. Niệu đạo tuyến tiền liệt thường chỉ

bị tổn thương trong các thủ thuật nội soi tiết niệu.

+ Niệu đạo trước: dài từ 10 - 12 cm, gồm niệu đạo dương vật (di động),

niệu đạo bìu, niệu đạo tầng sinh mơn. Niệu đạo trước có vật xốp bao quanh,

khi chấn thương vật xốp dễ bị tổn thơng gây chảy máu nhiều, hay để lại di

chứng hẹp niệu đạo hơn niệu đạo sau.

Niệu đạo nữ cố định dài 3 cm, tương ứng nh niệu đạo sau ở nam giới,

liên quan chặt chẽ với thành trước âm đạo.

1.2. Dịch tễ học sỏi tiết niệu.

Tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu: 2 - 12% dân số.

Tỷ lệ sỏi tiết niệu thấp ở người da đen châu Mỹ, châu phi, cao ở châu Á (Ấn

độ, Thái lan, Việt nam).

Tỷ lệ mắc bệnh sỏi tiết niệu liên quan tới tuổi, giới, chủng tộc, mơi trường địa

lí, thói quen ăn uống.

Tại việt nam, tỷ lệ bệnh nhân sỏi tiết niệu chiếm (40-45%) tổng số bệnh nhân

điều trị trong các khoa tiết niệu[1].

Tỷ lệ sỏi theo vị trí trong cơ quan tiết niệu (Trần Quán Anh): sỏi thận (42%);

sỏi niệu quản (25-30%); sỏi bàng quang (20-30%); sỏi niệu đạo (5%).[2]



6



1.3. Cơ chế hình thành sỏi.

Đa số sỏi tiết niệu được hình thành từ thận, sau đó di trú theo dòng nước

tiểu tới các vị trí khác của đường niệu. Nguyên nhân và cơ chế hình thành sỏi

còn chưa rõ ràng, có nhiều thuyết giải thích cơ chế hình thành sỏi tiết niệu.

1.3.1.Thuyết keo tinh thể.

Thành phần của nước tiểu gồm các tinh thể và các chất keo che chở. Các

tinh thể có xu hướng kết tinh, lắng đọng tạo sỏi, các chất keo do niêm mạc

đường niệu tiết ra bản chất là các mucoprotein, mucin, acid nucleic… cản trở

các tích thể kết tinh. Nếu nồng độ các chất keo giảm (số lượng và chất lượng)

sẽ tạo điều kiện hình thành sỏi.

Số lượng chất keo giảm trong: nhiễm khuẩn niệu, hội chứng Cushing,

stress. Chất lượng chất keo giảm khi có dị vật trong đường niệu, niêm mạc

đường niệu bị viêm, nước tiểu kiềm hóa, ứ đọng nước tiểu.

1.3.2.Thuyết hạt nhân.

Sỏi hình thành được phải có nhân. Nhân là những dị vật (chỉ khơng tiêu,

mảnh cao su. ống dẫn lưu, mảnh kim khí), tế bào thối hóa, tê bào mủ, xác vi

khuẩn, tổ chức hoại tử, khối máu hóa giáng…

Randall (1973) đưa ra thuyết mảng vôi ở biểu mô xoang thận (mảng

Randall). Nếu tháp thận bình thường, sẽ khó hình thành sỏi.

1.3.3.Thuyết tác dụng của mucoprotein hay thuyết khn đúc.

Theo Boyce, Baker, Simon thì các sỏi canxi, acid uric đều có một nhân

khởi điểm hữa cơ mà cấu trúc của nhân này là mucoprotein, là loại protein

đặc hiệu rất giàu glucid.

1.3.4.Thuyết bão hòa quá mức.

1.3.5.Thuyết nhiễm khuẩn.

1.4. Sinh lí bệnh sỏi tiết niệu.

Sỏi gây tổn thương trên hệ tiết niệu theo 3 cơ chế cơ bản:

- Cơ chế tắc nghẽn: Sỏi gây ứ tắc (bể thận, niệu quản), Tuỳ theo kích thước

và hình thể sỏi có thể gây nên ứ tắc hồn tồn hay khơng hồn tồn, làm cho



7



nhu mơ thận giãn mỏng dần, dung tích đài bể thận tăng lên, nhu mơ thận bị

teo đét, xơ hoá và thận dần bị mất chức năng.

Nếu sỏi ở đài thận, gây nghẽn cục bộ tại thận, sẽ dẫn đến ứ niệu, giãn từng

nhóm đài gây mất chức năng từng phần của thận.

Niệu quản trên sỏi cũng bị giãn mất nhu động và xơ hoá niệu quản. Trong trường

hợp sỏi ở hai bên hệ tiết niệu, bệnh nhân có thể bị suy thận cấp do sỏi.

- Cơ chế cọ sát: Sỏi thận, sỏi niệu quản nhất là sỏi cứng, gai góc có thể gây cọ

sát, làm rách xước niêm mạc đài bể thận, niệu quản gây chảy máu trong hệ

tiết niệu. Thương tổn tổ chức một mặt tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn niệu

phát triển, mặt khác làm cho q trình phát triển xơ hố ở nhu mô thận và ở

thành ống dẫn niệu. Kết quả cuối cùng làm hẹp dần đường dẫn niệu, làm nặng

thêm tình trạng bế tắc.

- Cơ chế nhiễm khuẩn: Sự tắc nghẽn đường niệu là những yếu tố thuận lợi để

phát triển nhiễm khuẩn niệu, nhiễm khuẩn niệu gây phù nề, chợt loét niêm

mạc đài bể thận, dần dẫn đến xơ hoá tổ chức khe thận, chèn ép mạch máu và

ống thận. Sản phẩm của quá trình viêm như xác vi khuẩn, xác bạch cầu, tế

bào biểu mô đài bể thận kết tinh lại tạo thành nhân sỏi.

1.5.Phân loại sỏi tiết niệu.

1.5.1. Theo đặc điểm và tính chất của sỏi (vị trí, số lượng hình dạng của sỏi).

- Vị trí của sỏi

Có thể gặp sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo,

Sỏi thận gồm: sỏi bể thận, sỏi đài thận, sỏi đài bể thận.

Trong sỏi niệu quản có sỏi NQ 1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới.

- Số lượng: một hoặc nhiều viên

- Kích thước sỏi:

Thay đổi tuỳ theo vị trí của sỏi trên đường tiết niệu. Kích thước có thể thay

đổi từ vài mm đến vài chục mm.



8



- Hình dạng sỏi: Rất đa dạng, sỏi thận hình sỏi san hơ, hình mỏ vẹt, Sỏi NQ

hình thn.

1.5.2. Theo thành phần hố học của sỏi

Có 2 nhóm sỏi chính: sỏi vô cơ và sỏi hữu cơ.

- Sỏi vô cơ:

Sỏi oxalat canxi: hay gặp mầu nâu, gai góc cản quang rõ rất rắn.

Sỏi photphat canxi: có mầu trắng ngà, cản quang dễ vỡ.

Sỏi cacbonat canxi: có mầu trắng như mầu phấn, mềm dễ vỡ.

- Sỏi hữu cơ:

Sỏi urat: mầu trắng gạch cua, có thể khơng cản quang mềm hay tái phát.

Sỏi cystin: nhẵn, mầu vàng nhạt, rắn ít cản quag, rắn.

Sỏi struvic: (amonium magnéium-phosphat) mầu vàng trắng, thường do

nhiễm khuẩn đường niệu loại vi khuẩn Proteus.

Người Việt Nam gặp chủ yếu là sỏi vơ cơ trong đó sỏi canxi (oxalat,

photphat) chiếm 80%, Sỏi cystin 1% [2]

Sỏi thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp đan xen giữa các thành phần hoá học.

1.5.3. Theo nguyên nhân hình thành sỏi

- Sỏi hình thành do dị dạng đường niệu.

- Sỏi hình thành do rối loạn chuyển hóa.

2. CHẨN ĐỐN VÀ ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN SỎI NIỆU QUẢN.

2.1. Triệu chứng.

2.1.1. cơ năng.

- Đau vùng mạng sườn thắt lưng

Đây là triệu chứng hay gặp nhất, chiếm trên 90% số BN, đây cũng là lý do

chính BN đi khám bệnh.

Điển hình là cơn đau quặn thận, cơn đau xuất hiện đột ngột sau lao động và

vận động, vị trí đau xuất phát ở vùng thắt lưng, tính chất đau là đau dữ dội



9



từng cơn đau lan xuống vùng bẹn sinh dục. Khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc

giãn cơ trơn thì đỡ đau.

Một số bệnh nhân có cảm giác nặng nề, đau tức khó chịu vùng thắt lưng (một

bên hoặc hai bên), tính chất đau tăng khi vận động. Loại đau này thường gặp ở

bệnh nhân có sỏi thận mà sỏi gây bít tắc khơng hồn tồn.



- Đái ra máu

- Đái ra sỏi:

- Đái ra mủ

- Hội chứng sau phúc mạc

2.1.2. Thực thể

Đau vùng thắt lưng khi thăm khám sờ nắn

Nếu thận đã căng to có thể sờ thấy qua dấu hiệu bập bềnh thận và chạm thận

2.1.3. Toàn thân.

Khơng có hiện tượng gì đặc biệt trừ trường hợp có biến chứng nhiễm khuẩn

và suy thận.

2.1.4. Cận lâm sàng.

- Chụp X Quang hệ tiết niệu không chuẩn bị

Phát hiện hình cản quang trên hệ TN, có thể phát hiện một số tổn thương của

cột sống, xương chậu.

Sỏi thận: Hình cản quang nằm vùng hố thận.

Sỏi NQ: Hình thn nằm 2 bên CS, theo đường đi NQ.

Sỏi BQ: Hình tròn đồng tâm nằm trong vùng tiểu khung.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỆNH.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×