Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong 22 bệnh nhân được chẩn đoán thông vòi tử cung có đến 15 bệnh nhân không bị dính (chiếm 50%), còn lại 5 bệnh nhân dính nhẹ (chiếm 13,2%), 1 bệnh nhân dính vừa và nặng. Sự khác việt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Trong 22 bệnh nhân được chẩn đoán thông vòi tử cung có đến 15 bệnh nhân không bị dính (chiếm 50%), còn lại 5 bệnh nhân dính nhẹ (chiếm 13,2%), 1 bệnh nhân dính vừa và nặng. Sự khác việt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Tải bản đầy đủ - 0trang

48



Khi nghiên cứu với mẫu 156 bệnh nhân, chúng tôi thấy phân bố tất cả

mọi lứa tuổi sinh đẻ, thấp nhất là 19 tuổi và cao nhất là 43 tuổi. Tuy nhiên,

nhóm tuổi điều trị vơ sinh gặp nhiều nhất là nhóm 30 – 34 tuổi (chiếm 34%).

Điều này cũng hợp lý vì đây là lứa tuổi sinh đẻ nhiều nhất. Chiếm tỷ lệ tương

đương là nhóm tuổi từ 25- 29 tuổi (cũng chiếm 34%) và thấp hơn là nhóm

dưới 24 tuổi (chiếm 19,2%) cho thấy rằng ngày nay phụ nữ đã đi khám và

điều trị vô sinh sớm hơn. Chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm 40 – 45 tuổi (chiếm

tỷ lệ 1,9%), có thể do nhóm tuổi này gặp ở những người lập gia đình quá

muộn, hoặc họ ý thức rằng khả năng khó có con của họ còn do nhiều nguyên

nhân khác đặc biệt là về nội tiết và nếu có con thì khả năng dị tật cũng cao

hơn ở các nhóm trên.

Theo bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ vô sinh nguyên phát giảm dần theo tuổi, lứa

tuổi càng trẻ thì tỷ lệ vơ sinh ngun phát càng cao và ngược lại tỷ lệ vô sinh

thứ phát tăng dần theo tuổi, lứa tuổi càng lớn thì tỷ lệ vô sinh thứ phát càng

cao. Trong số 30 bệnh nhân ở độ tuổi ≤ 24 tuổi thì có 22 bệnh nhân là vô sinh

nguyên phát (chiếm 73,3%) trong khi vơ sinh thứ phát chỉ có 8 bệnh nhân

(26,7%). Ở nhóm tuổi 25 - 29 tuổi cũng phân bố tỷ lệ vô sinh nguyên phát

nhiều hơn 3,7 lần vô sinh thứ phát. Nhưng đến nhóm tuổi từ 30- 34 tuổi đã có

sự phân bố ngược lại, trong 53 bệnh nhân có đến 41 bệnh nhân vơ sinh thứ

phát (chiếm 77,4%), cao hơn hẳn nhóm vơ sinh ngun phát (chỉ có 12 bệnh

nhân chiếm 22,6%). Nhóm tuổi 35- 39, nhóm vơ sinh thứ phát có 15 bệnh

nhân (chiếm 88,2%), trong khi nhóm vơ sinh ngun phát chỉ có 2 bệnh nhân

(chiếm 11,8%). Ở nhóm 40 – 45 tuổi có 3 bệnh nhân đều là vô sinh thứ phát

(chiếm 100%).

Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của nhiều nghiên cứu

trước đây.



49



- Năm 2003 có nghiên cứu của Phan Thị Thắm tại BVPS Trung ương

tuổi dưới 24 tỷ lệ vô sinh thứ phát là 55,5%, 25- 29 tuổi là 78,8%, 30 -34 tuổi

là 83,8%, 35- 39 tuổi là 85,2%, trên 40 tuổi là 88,3% [20]. Nghiên cứu năm

2005 của Bùi Đình Long cũng cho kết quả vơ sinh ngun phát ở lứa tuổi 25 –

29 63.2%, lứa tuổi 30 -34 là 26,3%, vô sinh thứ phát lứa tuổi 30- 34 là 73,7%

[41].

- Năm 2009 nghiên cứu của Đinh Bích Thủy cho kết quả vơ sinh ngun

phát nhóm tuổi 25- 29 là 59,0%, 30- 34 tuổi (35,7%), nhóm tuổi 35- 39

(10,5%), 40- 45 tuổi (83,3%). Ở vơ sinh thứ phát, nhóm tuổi 25- 29 (41,0%),

30- 34 (35,7%), nhóm tuổi 35- 39 (89,5%), 40-45(83,3%)[42].

- Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Thùy Trang cũng cho kết quả

tương tự, tuổi bệnh nhân càng cao thì tỷ lệ vơ sinh thứ phát do tắc vòi tử cung

càng lớn [43].

4.1.2. Phân bố địa chỉ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng bệnh nhân ở các tỉnh chiếm tỷ lệ

rất cao (75%), bệnh nhân ở Hà Nội chỉ chiếm 25%. Điều này cho thấy nhu

cầu điều trị vô sinh càng ngày càng cao và lan rộng về các tỉnh, các vùng

nông thôn. Khi được hỏi tại sao lại chọn bệnh viện PSTƯ thì đều được trả lời

bệnh viện PSTƯ là bệnh viện hàng đầu ở khu vực phía bắc về điều trị vơ sinh

có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết, khoa học kỹ thuật hiện đại cũng như

chuyên môn cao về phẫu thuật nội soi và hỗ trợ sinh sản. Trong khi ở các

bệnh viện tuyến dưới chưa có đầu tư nhiều các trang thiết bị và con người về

lĩnh vực vơ sinh, có chăng cũng chỉ còn ở mức độ mới tiếp cận, mặt khác chi

phí cho các dịch vụ khám và điều trị vô sinh chưa được bảo hiểm chi trả, số

tiền bỏ ra để khám và điều trị ở tuyến trung ương và các tuyến dưới khơng

chênh lệch nhiều. Đó là lý do hàng ngàn lượt người lên tuyến trên khám và

chữa trị mỗi năm, gây tình trạng quá tải cho tuyến trung ương.

Vì vậy cần phát triển kỹ thuật chụp tử cung- vòi tử cung và phẫu thuật



50



nội soi tại các tỉnh, đào tạo dưới hình thức cầm tay chỉ việc, chuyển giao cơng

nghệ để nâng cao trình độ, trang thiết bị cho công tác khám và điều trị vô sinh

cho bệnh nhân và giảm tải cho các tuyến trung ương. Một vấn đề nữa là có

thể thống nhất một số danh mục có thể cho bệnh nhân được hưởng bảo hiểm,

như thế chắc chắn số bệnh nhân khám và điều trị tuyến dưới sẽ được cải thiện.

4.1.3. Phân bố nghề nghiệp.

Theo nghiên cứu này, trong 156 bệnh nhân được nghiên cứu, nhóm bệnh

nhân có nghề nghiệp là cán bộ cơng chức có 56 bệnh nhân (chiếm 35,9%) là

cao nhất. nghiên cứu này có cùng kết quả với Nguyễn Đức Vy (2007), tỷ lệ

nhóm CBCC là 48,9% [2] và nghiên cứu của Nơng Thị Hồng Lê (2012) thì

nhóm này chiếm 37,7% cũng chiếm tỷ lệ cao nhất [44]. Điều này cũng được

giải thích bệnh viện PSTƯ là cơ sở có uy tín nhất khu vực miền bắc nên

thường được các cán bộ cơng chức lựa chọn vì nhóm bệnh nhân này có điều

kiện kinh tế và điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế tốt nhất.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác như nghiên cứu của Nơng Minh

Hồng (2010) thì tỷ lệ nông dân lại chiếm cao nhất (51,6%) [45]. Theo nghiên

cứu Nguyễn Quốc Hùng thì tỷ lệ vơ sinh ở nhóm nơng dân chiếm tới 65%

[46]. Những nghiên cứu này đều thực hiện điều tra tại cộng đồng nên tỷ lệ

nhóm nơng dân cao hơn cả.

4.1.4. Thời gian vơ sinh

Theo kết quả nghiên cứu thời gian vơ sinh trung bình là 3,28 ±2,607;

Nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thùy Trang (2012) thời

gian vơ sinh trung bình là 3,90 ± 3,06 [43].

Thời gian vô sinh chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm trên 3 năm có tổng 69

bệnh nhân (chiếm 44,2%). Nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của



51



Đỗ văn Cân (2012) tỷ lệ vô sinh trên 3 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (52,6%).

Theo tác giả, thời gian vơ sinh càng lâu thì tỷ lệ tắc vòi tử cung càng cao [47].

Điều này chứng tỏ rằng những người có thời gian hoạt động tình dục càng lâu

thì nguy cơ viêm nhiễm gây tắc vòi càng cao. Vì vậy được điều trị càng sớm

càng có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, ở nghiên cứu này thời gian vơ sinh 1 năm,

2 năm có số lượng bệnh nhân cũng đáng kể chứng tỏ rằng số bệnh nhân đi

khám sớm cũng đang dần tăng lên, có thể do kinh tế khá hơn, trình độ nhận

thức thay đổi, quan hệ tình dục sớm hơn nên tỷ lệ đi khám ở nhóm này cũng

khơng phải là q ít.

Theo bảng 3.4 cho thấy thời gian vơ sinh càng tăng thì tỷ lệ vô sinh thứ

phát càng tăng, và ngược lại tỷ lệ vô sinh nguyên phát càng giảm. Điều này

cũng phù hợp vì trong vơ sinh thứ phát do đã có con hoặc đã từng có thai nên

các cặp vợ chồng chủ quan hơn và khi thời gian quá dài mới quyết định đến

khám và điều trị vô sinh.

4.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng tắc vòi

4.2.1. Mối liên quan giữa viêm đường sinh dục và tắc vòi trên PTNS

Nghiên cứu này được thực hiện tiến cứu nên chúng tơi có thể hỏi kĩ bệnh

nhân có tiền sử viêm đường sinh dục hay không. Đồng thời kết hợp với kết

quả khám và xét nghiệm trong sổ khám của bệnh nhân được thu thập lại làm

hồ sơ trước mổ, thơng qua đó phần nào biết rõ tiền sử của bệnh nhân. Trong

nghiên cứu này chúng tơi có 156 bệnh nhân thì có đến 93 trường hợp (chiếm

59,6%) có tiền sử viêm nhiễm, trong đó những bệnh nhân có viêm thì nguy cơ

tắc vòi lên đến 92,5% và nhóm bệnh nhân có viêm đường sinh dục nhưng

khơng tắc vòi chỉ có 7,5%. Bảng 3.5 cho thấy người bị viêm nhiễm có nguy

cơ tắc vòi tử cung cao gấp 3,8 lần người không bị viêm nhiễm, với khoảng tin

cậy 95% từ 1,4 – 10,1.



52



Nghiên cứu này trùng với nghiên cứu của tác giả Nông Thị Hồng Lê

(2012), tỷ lệ viêm nhiễm chiếm tới 75,4% và 24,6% khơng có tiền sử viêm

nhiễm.và theo nghiên cứu này thì người có tiền sử viêm nhiễm có nguy cơ tắc

vòi cao hơn nhóm khơng có tiền sử viêm nhiễm là 4,5 lần với khoảng tin cậy

95% là 2,2 – 9,3[44].

Theo Dương Thị Cương (2003) có đến 50% phụ nữ Việt Nam bị viêm

nhiễm đường sinh dục dưới, nếu không điều trị kịp thời cũng là nguy cơ gây

vơ sinh tắc vòi tử cung [48].

Nói về nguyên nhân gây viêm, Trong 156 trường hợp đều được tiến hành

làm test Chlamydia Trachomatis, chỉ có 2 bệnh nhân dương tính, trong khi

hình ảnh lúc phẫu thuật nội soi điển hình của chlamydia có đến 67 trường

hợp, chiếm tỷ lệ khá cao. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của nhiều

nghiên cứu khác: theo Macmyllan -S [49]. Tỷ lệ test Chlamydia Trachomatis

dương tính thấp có thể do thời gian nhiễm đã quá lâu, mặc dù đang có bệnh

vẫn có thể test Chlamydia Trachomatis âm tính.Trong nghiên cứu này, tỷ lệ

phát hiện nguyên nhân do lao hay lậu cầu cũng chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu khi

được hỏi bệnh nhân chỉ biết có viêm và có đặt thuốc (do bác sĩ cho hay tự

mua về dùng).

Bảng 3.6 cho thấy trong 93 bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm thì có đến

77 bệnh nhân (chiếm 82,8%) được chẩn đốn có dính ở các mức độ khác nhau

khi phẫu thuật nội soi. Khi có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục thì nguy cơ

bị dính tiểu khung và VTC cao gấp 2,6 lần, điều này có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05. Như vậy, viêm nhiễm là một yếu tố rất quan trọng liên quan đến tình

trạng dính và tắc vòi tử cung, đặc biệt là nhiễm C. Trachomatis. Theo nghiên

cứu ở các phụ nữ bị viêm nhiễm vùng chậu được kiểm chứng qua nội soi từ

năm 1960 - 1984, Westrom và cộng sự nhận thấy nguy cơ vô sinh do VTC



53



khoảng 10% sau 1 lần bị viêm nhiễm, 20% sau 2 lần và 40% sau 3 lần. Tỷ lệ

vô sinh do VTC tăng một cách đáng kể với mức độ của viêm nhiễm vùng

chậu lúc nội soi. Tỷ lệ này là 0,6% sau một lần bị viêm nhiễm vùng chậu mức

độ nhẹ, 6% sau một lần bị viêm mức độ trung bình và 21% sau một lần bị

viêm mức độ nặng [50].

Viêm nhiễm đường sinh dục làm ảnh hưởng đến chất nhầy CTC, thay đổi

môi trường âm đạo và có thể gây viêm ngược dòng lên tử cung, vòi tử cung,

đặc biệt là nguyên nhân do Chlamydia trachomatis. Vì vậy, việc hướng dẫn

bệnh nhân biết cách vệ sinh cá nhân phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh sống

đồng thời cần đi khám phụ khoa định kỳ để phát hiện sớm các viêm nhiễm

đường sinh dục và điều trị triệt để, tránh để lại hậu quả nặng nề là vơ sinh tắc

vòi tử cung.

4.2.2. Mối liên quan giữa tiền sử nạo, hút và tắc vòi trên PTNS

Kết quả nghiên cứu về mối liên quan giữa tiền sử phá thai và vơ sinh do

vòi tử cung cũng chưa có sự thống nhất với nhau. Nếu khơng có nhiễm trùng

thì phá thai an tồn khơng phải là yếu tố nguy cơ của vô sinh. Biến chứng

thường gặp của phá thai không an tồn là nhiễm trùng, có thể là viêm nội mạc

tử cung, viêm vòi tử cung hoặc trong trường hợp nặng là viêm nhiễm vùng

chậu và viêm phúc mạc chậu. Q trình viêm nhiễm (viêm vòi tử cung cấp

tính hay nhiễm trùng vùng chậu) có thể dẫn đến tắc vòi tử cung do dính hay

sẹo trong lòng vòi tử cung [51].

Theo bảng 3.7, trong 56 trường hợp có tiền sử nạo hút thai, có đến 53

bệnh nhân bị tắc vòi tử cung (chiếm 94,6%),Những bệnh nhân khơng có tiền

sử nạo hút thai mà bị tắc chiếm 81% (đây chủ yếu là bệnh nhân vơ sinh

ngun phát và có tiền sử viêm nhiễm). Theo nghiên cứu này, người có tiền

sử nạo hút có nguy cơ tắc vòi tử cung lên đến 4,1 lần so với nhóm chưa nạo



54



hút thai lần nào. Mặt khác theo bảng 3.9 cũng nhận thấy có đến 85,7% người

có tiền sử nạo, hút có dính tiểu khung, dính VTC trên nội soi, nguy cơ dính

VTC ở những người này cao gấp 2,6 lần so với nhóm khơng có tiền sử nạo,

hút thai (OR = 2,6 95% CI 1,1 – 6,1).

Nghiên cứu này cũng trùng với nhiều nghiên cứu khác, Nghiên cứu bệnh

chứng của Nguyễn Thị Thảo, những người phụ nữ có tiền sử nạo, hút thai có

nguy cơ bị vơ sinh do vòi tử cung cao gấp 2 lần so với người không nạo, phá

thai (OR = 2,2; KTC 95% 1,4 -3,4; p = 0,001) [52]. Theo Lê Hoài Chương

một lần nạo hút thai nguy cơ nguy cơ vô sinh tăng gấp 5,2 lần [53]. Một tác

giả khác tại Anh, Paintin David cho thấy tỷ lệ vô sinh tăng cao gấp 3 - 4 lần ở

phụ nữ có tiền sử nạo hút thai [54]. Nhận xét này cũng gần tương tự như nhận

xét của chúng tôi.

Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ về kinh tế và công nghệ thông tin, giới

trẻ được phát triển về mọi mặt, dậy thì sớm, suy nghĩ phóng khống hơn nên

tuổi hoạt động tình dục sớm hơn nhiều, đồng thời quan hệ trước hôn nhân

cũng trở nên phổ biến. Nhưng kiến thức hiểu biết về vấn đề phòng tránh thai

của lứa tuổi này còn hạn chế nên tỷ lệ phá thai ngày càng gia tăng. Hiện tại

chưa có nghiên cứu nào phản ánh được một cách trung thực tỷ lệ nạo, phá thai

của phụ nữ, đặc biệt ở phụ nữ trẻ và chưa có gia đình. Theo nghiên cứu của

GS Trần Thị phương Mai và cộng sự tại một số tỉnh miền bắc Việt Nam có

khoảng 83% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có ít nhất một lần nạo, hút thai và

trong số này có 50% ca nạo, hút khơng đảm bảo vô khuẩn và 57,3% các ca

không được theo dõi sau nạo, phá thai [55].

Trong nghiên cứu này của chúng tơi,Trong 56 bệnh nhân có tiền sử nạo

hút thai thì số trường hợp nạo, hút tại các phòng khám tư nhân gấp đơi hút tại

bệnh viện cơng lập, chính thống (bảng 3.8). Tại Việt Nam, mọi người vẫn có



55



một tâm lý nghĩ rằng nạo, hút thai là một thủ thuật đơn giản, mặt khác họ nghĩ

rằng khi vào viện phải chờ đợi, làm thủ tục rườm rà mất thời gian. Bên cạnh

đó, như đã nói hiện nay có nhiều bạn trẻ chưa chưa lập gia đình nên họ muốn

đến cơ sở y tế tư nhân để đảm bảo kín đáo, vì vậy họ chọn lựa cơ sở y tế tư

nhân mà khơng quan tâm việc các cơ sở đó có đủ trang thiết bị để đảm bảo vơ

khuẩn và nhân viên y tế làm đúng kỹ thuật hay không. Theo nghiên cứu của

tác giả Lê Hoài Chương (2010) nạo hút thai ở cơ sở không phải bệnh viện

nguy cơ vô sinh cao gấp 3,7 lần so với nạo hút thai ở bệnh viện [53].



Như vậy, làm thế nào để giảm thiểu tỷ lệ nạo, hút thai là một vấn đề của

các nhà y tế cũng như của cả xã hội, cần phải tăng cường hơn nữa công tác kế

hoạch hóa gia đình, tư vấn rộng rãi cho các đối tượng đã có con nhưng chưa

muốn có con tiếp, đặc biệt chú trọng đến nhóm đối tượng tuổi vị thành niên

ngay từ trên ghế nhà trường tác hại của việc nạo, phá thai, giáo dục dưới các

hình thức cộng đồng, nói chuyện và gần gũi để hiểu hơn tâm, sinh lý của

những trẻ mới lớn này. Các cơ sở y tế tư nhân cần phải được kiểm soát gắt

gao hơn về các quy trình và trang thiết bị, dụng cụ để có ý thức đảm bảo vơ

khuẩn khi làm thủ thuật, giảm thiểu biến chứng viêm nhiễm, từ đó phần nào

giảm nguy cơ vơ sinh do tắc vòi, giảm nguy cơ vô sinh.

4.2.3. Mối liên quan giữa đặt dụng cụ tử cung và tắc vòi trên PTNS

Có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối liên quan giữa đặt dụng cụ tử cung

với vơ sinh do bệnh lý vòi tử cung và kết quả cũng khơng có sự thống nhất

với nhau.

Ở nghiên cứu này, chúng tôi thấy trong 156 bệnh nhân, có 78 bệnh nhân

là vơ sinh thứ phát, trong đó có 55 trường hợp đã đẻ thường hay mổ đẻ, chỉ có

19 bệnh nhân có tiền sử đặt vòng. Khi lập bảng thống kê, nhận thấy trong 19



56



trường hợp này có 15 trường hợp bị tắc vòi tử cung (chiếm 78,9%), trong khi

bệnh nhân khơng có tiền sử đặt dụng cụ tử cung mà bị tắc vòi cũng chiếm đến

86,9%. Sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Trong một số nghiên cứu thế giới chưa ghi nhận nguy cơ vô sinh liên

quan rõ với nguyên nhân đặt dụng cụ tử cung. Một nghiên cứu bệnh chứng

của Hubacher và cộng sự cho thấy khơng có liên quan giữa tiền sử đặt dụng

cụ tử cung với vơ sinh do vòi tử cung khi phân tích với các nhóm chứng là

các bệnh nhân vơ sinh khơng phải do dụng cụ tử cung (OR = 1,0 với KTC

95% 0,6 – 1,7) hay khi phân tích với nhóm chứng là các phụ nữ có thai (OR =

0,9 với KTC 95% 0,5 -1,6). Vơ sinh do vòi tử cung cũng không liên quan đến

thời gian sử dụng và các tác giả này cho rằng dụng cụ tránh thai có chứa đồng là

biện pháp ngừa thai tạm thời an toàn nhất, hiệu quả nhất, chi phí thấp nhất [56].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thảo cho thấy thời gian đặt dụng cụ tử cung

không phải là nguy cơ của vô sinh do vòi tử cung mà số lần đặt dụng cụ tử

cung mới có sự liên quan, những phụ nữ có đặt dụng cụ tử cung nhiều hơn 1

lần có nguy cơ bị vơ sinh do vòi tử cung cao gấp 3 lần so với nhóm chỉ đặt 1

lần (OR = 3,4; KTC 95% 1,4- 8,6; p= 0,002) [52].

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho rằng đặt dụng cụ tử cung có mối

liên quan gây tắc vòi tử cung. Nghiên cứu của Nơng Thị Hồng Lê (2012) cho

thấy những người có tiền sử đặt dụng cụ tử cung có khả năng bị vơ sinh do tắc

vòi tử cung cao gấp 2,1 lần so với những người không đặt dụng cụ tử cung

[44]. Một phân tích gộp của Luttjeboer và cộng sự (gồm 5 nghiên cứu đoàn hệ

và 11 nghiên cứu bệnh chứng) cho thấy có mối liên quan yếu giữa tiền sử sử

dụng dụng cụ tử cung với vô sinh do VTC (OR= 2,0; 95% CI 1,6 -2,6) [57].

Một nghiên cứu của Phạm Như Thảo sau khi đặt dụng cụ tử cung tránh thai tỷ

lệ tắc vòi tử cung chiếm 5,7% [58].



57



Đặt dụng cụ tử cung có phải là một yếu tố gây tắc vòi tử cung hay khơng

vẫn còn là vấn đề chưa thống nhất, tuy vậy, khi thực hiện thủ thuật thì cán bộ

y tế cần phải tuân thủ các điều kiện, ngun tắc vơ khuẩn của đặt vòng tránh

thai, cũng như hướng dẫn bệnh nhân cách vệ sinh, khám phụ khoa định kì,

giảm thiểu nguy cơ viêm nhiễm để hạn chế tắc vòi tử cung.

4.2.4. Mối liên quan giữa tiền sử phẫu thuật và dính vòi trên PTNS

Theo bảng 3.11, trong số 156 bệnh nhân có 42 bệnh nhân có tiền sử phẫu

thuật vùng tiểu khung (chiếm 26,9%). Trong đó, các loại phẫu thuật bao gồm:

phẫu thuật phụ khoa(chửa ngoài tử cung, u nang buồng trứng, và u xơ tử

cung) có 29 bệnh nhân (chiếm 18,6%), Phẫu thuật ngoại khoa (Viêm ruột

thừa, tắc ruột) có 8 bệnh nhân (chiếm 5,1%) và phẫu thuật sản khoa (mổ lấy

thai) có 5 bệnh nhân (chiếm 3,2%). Theo nghiên cứu của Đinh Bích Thủy,

trong nhóm bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật thì tỷ lệ phẫu thuật phụ khoa như

chửa ngồi tử cung, bóc u xơ tử cung, u buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất

2,8%, Phẫu thuật ngoại khoa chiếm 2,2%, mổ lấy thai chiếm tỷ lệ thấp nhất

1,6% [42]. Theo Phan Thị Thắm, tỷ lệ vô sinh thứ phát sau mổ chửa ngoài tử

cung là 13,6% và sau mổ lấy thai là 3,6% [20].

Những phẫu thuật này có thể gây dính tiểu khung, dính quanh vòi tử

cung, từ đó làm biến dạng giải phẫu vòi tử cung làm cho sự tiếp xúc giữa

VTC và buồng trứng không thuận lợi cho sự thụ thai. Mặt khác, tổn thương

loa vòi, gây hẹp loa vòi và làm tắc hồn tồn hay một phần vòi tử cung. Theo

nghiên cứu này của chúng tơi nhận thấy những bệnh nhân nào có tiền sử phẫu

thuật thì khả năng bị dính vòi tử cung gấp 3 lần (Bảng 3.11: OR = 3,0; 95%

CI 1,1 – 8,3). Theo nghiên cứu của Cao Ngọc Thành và Lê Hoài Nhân tại

Huế, 22,8% bệnh nhân vơ sinh do VTC có tiền sử phẫu thuật [59]. Nghiên

cứu của Bùi Thị Phương Nga tại bệnh viện Từ Dũ là 32,47% [60].

Một nghiên cứu ở Đức năm 1997 có 25% phụ nữ sau phẫu thuật ruột



58



thừa, chửa ngoài tử cung, phẫu thuật trên tử cung hay buồng trứng, đều bị ảnh

hưởng xấu đến khả năng sinh sản [61]. Chính vì những thống kê đó, cần phải

chỉ định các phẫu thuật vùng tiểu khung hết sức chặt chẽ, đặc biệt ngày nay,

tỷ lệ mổ lấy thai đang gia tăng rất nhanh ở các tuyến cũng là một yếu tố nguy

cơ ảnh hưởng đến vô sinh do tắc vòi tử cung sau này.

4.3. Đối chiếu hình ảnh chụp TC-VTC với phẫu thuật nội soi

4.3.1. Đánh giá kết quả chụp X-Quang TC- VTC.

Theo bảng 3.12, trong 156 bệnh nhân được chẩn đốn có tắc vòi trên Xquang thì có 127 bệnh nhân là tắc cả 2 vòi (chiếm 81,1%), còn lại 29 bệnh

nhân chỉ tắc 1 vòi (vòi (P): 16 vòi, vòi (T): 13 vòi) khơng có sự khác biệt giữa

2 vòi. Theo nhiều nghiên cứu nhận thấy chủ yếu số tắc 2 vòi thường chiếm

nhiều hơn trường hợp tắc 1 vòi. Với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Kỳ (1998)

trong 149 bệnh nhân được chẩn đoán tắc vòi tử cung chỉ có 1 bệnh nhân bị tắc

1 vòi và 148 bệnh nhân bị tắc cả 2 vòi, chiếm tỷ lệ rất cao [62]. Nghiên cứu

của Trần Quốc Việt (2004) có 380 bệnh nhân được chẩn đốn tắc vòi thì có

203 bệnh nhân (chiếm 53,4%) được chẩn đốn tắc 2 vòi và 177 bệnh nhân bị

tắc 1 vòi (chiếm 46,6%) [63]. Trong ổ bụng, các bộ phận tử cung, vòi tử cung

và buồng trứng đều nằm trong tiểu khung và có sự thơng thương với nhau

khơng có màng ngăn cách, vì vậy khi có một tác nhân viêm nhiễm thường sẽ

thơng thương cả 2 bên vòi, điều này lý giải vì sao tỷ lệ tắc cả 2 vòi lại nhiều

hơn tắc 1 vòi.

Theo kết quả nghiên cứu tại bảng 3.13, tỷ lệ tắc ở các vị trí của 2 vòi tử

cung tương đương nhau, tỷ lệ tắc kẽ VTC (P) là 17,9% bên trái là 16,7%, tắc eo

(P) là 7,7% bên trái là 5,8%, tắc bóng cả 2 bên đều là 14,1%, tắc loa (P) là 51,9%

bên trái là 53,2%. Nhận thấy rằng tắc đoạn hai đầu vòi chiếm tỷ lệ cao nhất:

17,3% đoạn kẽ và 52,6% đoạn loa. Nghiên cứu này cũng trùng với nghiên cứu

của Trần Quốc Việt (2004), theo tác giả, điều này được giải thích là do giải phẫu,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong 22 bệnh nhân được chẩn đoán thông vòi tử cung có đến 15 bệnh nhân không bị dính (chiếm 50%), còn lại 5 bệnh nhân dính nhẹ (chiếm 13,2%), 1 bệnh nhân dính vừa và nặng. Sự khác việt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×