Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo kết quả của bảng 3.15, trên vòi tử cung (T), trên phim chụp X-Quang phát hiện được 16/156 trường hợp (10,3%) thông vòi (T) thì khi phẫu thuật nội soi phát hiện được 29/156 vòi thông, tương đương 18,6%.

Theo kết quả của bảng 3.15, trên vòi tử cung (T), trên phim chụp X-Quang phát hiện được 16/156 trường hợp (10,3%) thông vòi (T) thì khi phẫu thuật nội soi phát hiện được 29/156 vòi thông, tương đương 18,6%.

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



Khi phân tích 83 trường hợp được chẩn đốn tắc loa của vòi tử cung (T)

trên HSG, khi PTNS cho kết quả 70 trường hợp (84,3%) tắc loa, có 3 trường

hợp (3,6%) tắc bóng và 10 trường hợp (12,1%) thơng vòi. Trong 10 trường

hợp thơng vòi này đều khơng có hình ảnh dính trên nội soi.

Khi nghiên cứu vòi tử cung (P), cũng có sự thay đổi giống VTC (T).

Theo bảng 3.17 tỷ lệ thơng vòi chẩn đốn trên nội soi gấp 3 lần so với tỷ lệ

thơng vòi trên X-quang (8,3% và 23,7% theo thứ tự) và sự khác nhau này có ý

nghĩa thống kê với p< 0,05.

Xét các vị trí tắc vòi ở vòi tử cung (P) cũng nhận thấy đoạn kẽ có sự thay

đổi rõ rệt nhất, HSG chẩn đốn có 28 vòi (17,9%) bị tắc kẽ nhưng trên PTNS

chỉ có 21 trường hợp (13,5%) bị tắc ở đoạn này. Khi phân tích 28 trường hợp

tắc kẽ này nhận thấy có 14 trường hợp tắc kẽ thực sự (50%), 10 trường hợp

thơng (35,7%), còn lại 1 trường hợp tắc bóng (3,6%), và 3 trường hợp tắc loa

(10,7%). Những trường hợp thơng thì có 8 vòi khơng dính và 2 vòi bị dính

nhẹ. còn những trường hợp có tắc kẽ thì có11 vòi có dính và 3 vòi khơng dính.

Những trường hợp tắc bóng, loa trên nội soi X-Quang chẩn đốn tắc kẽ thì có

liên quan đến dính từ mức độ nhẹ, trung bình đến nặng. Đó chính là lý do có sự

chênh lệch chẩn đốn giữa tắc kẽ trên X-quang với PTNS của vòi (P).

Khi nghiên cứu 81 trường hợp tắc loa trên HSG vòi tử cung (P), thấy có

66 trường hợp (81,5%) tắc loa thực sự, 3 trường hợp (3,7%) tắc bóng, 1

trường hợp (1,2%) tắc kẽ và có đến 11 (13,6%) trường hợp thơng vòi.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho số liệu của 2 vòi gần như tương đương

nhau. Thơng qua đó, chúng tơi thấy rằng khi HSG chẩn đoán tắc kẽ và tắc loa

thì phẫu thuật nội soi cho kết quả có sự khác biệt. Để giải thích có sự khác

biệt khi chẩn đốn tắc kẽ, có thể khi bệnh nhân chụp HSG khơng được gây

mê, thuốc vào buồng tử cung, vòi tử cung đột ngột gây đau và có phản xạ co



62



thắt tại vùng kẽ VTC nên thuốc không vào tiếp được, khi nội soi thì bệnh

nhân được gây mê nên khơng có cảm giác đau, căng tức nữa, VTC khơng có

phản xạ bị co thắt nên thuốc vào được dễ dàng, điều đó chứng tỏ rằng PTNS

có thể chẩn đốn được những trường hợp tắc VTC cơ năng do co thắt. Nghiên

cứu của Trần Quốc Việt (2004) cũng cho thấy rằng hiện tượng co thắt VTC là

nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đáng kể trong chẩn đoán tắc VTC trên

phim chụp và nội soi. Tác giả cũng đưa ra đề nghị sử dụng thuốc chống co

thắt trước khi tiến hành chụp TC- VTC [63].

Để giải thích sự khác biệt khi chẩn đoán tắc đoạn loa, giả thiết cho rằng

khi chụp, bơm thuốc cản quang chưa đủ áp lực nên thuốc mới dừng lại ở loa

mà chưa vào đến ổ bụng. Điều này chứng tỏ nội soi có ưu điểm, có thể quan

sát trực tiếp tình trạng vòi, thuốc qua loa vòi vào ổ bụng dễ dàng nếu áp lực

bơm đủ mạnh. Theo các tác giả Luo XM [27], Trần Quốc Việt [63] thì nội soi

ổ bụng kết hợp với bơm xanh methylene là phương pháp chẩn đốn độ thơng

VTC chính xác hơn chụp TC- VTC.Tỷ lệ tắc giả VTC (T) là 18,6% (bảng

3.15) và tỷ lệ tắc giả VTC (P) là 23,7% (Bảng 3.17), tương đương với kết quả

của Trần Quốc Việt là 20,6% [63]. Như vậy phương pháp nội soi chẩn đốn

độ thơng vòi tử cung chính xác hơn phương pháp chụp TC-VTC phù hợp với

nghiên cứu của Duff DE [69].

4.4. Giá trị chẩn đốn tắc vòi tử cung của HSG có đối chiếu với PTNS

4.4.1. Giá trị chẩn đốn số vòi tắc của HSG có đối chiếu với PTNS

Để xác định giá trị, độ tin cậy của phương pháp chụp TC- VTC, nghiên

cứu này chúng tôi xem nội soi là tiêu chuẩn vàng để so sánh.

Thông qua các bảng 3.19; 3.20; 3.21 chúng tôi nhận thấy phương pháp

chụp X-quang TC- VTC có:

- Độ nhạy : Phương pháp HSG có độ nhạy cao dao động từ 93% đến



63



98,3: 98,3% đối với chẩn đoán VTC (P) và 95,5% đối với chẩn đốn VTC

(T). Tính chung tắc cả 2 vòi thì độ nhạy là 92,9%.

- Giá trị chẩn đoán đúng: với vòi (P) là 82% (có nghĩa là 100 trường hợp

thì chẩn đoán đúng 82 trường hợp), giá trị chẩn đoán đúng với VTC (T) là

84% và cả 2 vòi là 80,2%. Nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Bùi

Đình Long và cộng sự trên 140 trường hợp vơ sinh do tắc 2 vòi tử cung được

chỉ định nội soi chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cũng

cho ra kết quả giá trị chẩn đoán đúng của HSG từ 69,5% đến 88,4% [41].

Trong nghiên cứu khác của Trần Quốc Việt thì tỷ lệ chẩn đoán phù hợp là

74% với VTC(P) và 70% với VTC(T) [63].

- Dương tính giả: Trong 156 trường hợp nghiên cứu thì số lượng trường

hợp thơng vòi được chẩn đốn bằng Xquang ít hơn so với số trường hợp

được chẩn đốn bằng nội soi ổ bụng. Tỷ lệ dương tính giả của HSG là 8,2%

ở VTC (P), 13,6% ở VTC(T) và 18,1% ở cả 2 vòi. Kết quả này thấp hơn kết

quả nghiên cứu của Trần Quốc Việt (2004) tỷ lệ dương tính giả VTC (P) là

22,8%; VTC (T) là 27,2% và của 2 vòi là 25%. Như vậy qua 10 năm có thể

trình độ các bác sỹ, kỹ thuật viên đã khá hơn và trang thiết bị tốt hơn nên việc

chẩn đốn trên phim chụp cũng chính xác hơn, giảm thiểu tỷ lệ tắc giả trên X

–Quang. Tuy nhiên, theo Hồ Mạnh Tường và cộng sự (2006), tỷ lệ dương tính

giả của HSG khi chẩn đốn tắc VTC lên đến gần 48,9%. Các tác giả này kết

luận rằng chụp TC-VTC khơng là một phương pháp chính xác trong chẩn

đốn tổn thương của VTC. Nội soi chẩn đoán là một phương pháp cần thiết để

xác định tổn thương của VTC khi có nghi ngờ [70].

- Âm tính giả: Ở VTC (P) tỷ lệ âm tính giả là 15,4%, VTC(T) là 37,3%

và cả 2 vòi là 17,3%. Theo nghiên cứu của Trần Quốc Việt cho kết quả tỷ lệ

âm tính giả của VTC (T) là 33,3% và của 2 vòi là 25% [63].

4.4.2. Giá trị chẩn đốn tắc VTC có kèm theo ứ dịch trên phim chụp XQuang có đối chiếu với PTNS



64



Theo bảng 3.22, trong 156 bệnh nhân được chẩn đoán có tắc vòi trên

phim chụp X-quang, có 25 trường hợp bị ứ dịch (chiếm 16%), khi PTNS thì

có 35 trường hợp (22,4%) được chẩn đoán là ứ dịch. Như vậy việc chẩn đốn

ứ dịch trên HSG có độ nhạy là 80% và độ đặc hiệu khá cao là 94,3% có nghĩa

là khi có 100 bệnh nhân khơng phải ứ dịch thì chẩn đốn đúng được 94 bệnh

nhân nhưng trong 100 bệnh nhân bị ứ dịch chẩn đoán được 80 bệnh nhân là

có ứ dich trên HSG.Trong 100 phim chụp cho kết quả ứ dịch thì có 85 phim là

cho kết quả đúng (tương ứng với giá trị chẩn đoán (+) là 84,9%), và trong 100

phim chụp cho kết quả không ứ dịch thì có 94,3 phim là cho kết quả đúng

(tương ứng với giá trị chẩn đốn âm tính 94,3%). Khi tính ra giá trị chẩn đốn

đúng của phim chụp HSG có tắc VTC kết hợp với ứ dịch thì cho kết quả đúng

đến 91%. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của tác giả Bùi Đình Long,

khi X-quang chụp tử cung- vòi tử cung có cản quang chẩn đốn tắc vòi tử

cung kèm theo ứ nước, thì sự phù hợp với chẩn đoán nội soi là cao nhất

88,4% [41].

4.4.3. Giá trị chẩn đốn vị trí tắc của HSG có đối chiếu với PTNS

Trong nghiên cứu này, quy định VTC đoạn gần là gồm đoạn kẽ và đoạn

eo; VTC đoạn xa là gồm đoạn bóng và đoạn loa. Nhận thấy vị trí tắc trên vòi

trái và vòi phải có số liệu tương đương nhau nên chúng tơi gộp tổng 2 vòi để

đánh giá giá trị chẩn đốn của HSG về vị trí tắc có đối chiếu với PTNS như ở

bảng 3.23 và 3.24.

Trong 312 vòi được nghiên cứu thấy HSG cho kết quả 75 trường hợp tắc

đoạn gần, trong khi PTNS cho kết quả chỉ có 54 trường hợp tắc đoạn gần thực

sự. Như vậy, HSG chẩn đoán tắc đoạn gần có độ nhạy 79,6%, nhưng độ đặc

hiệu cao hơn(87,6%), tỷ lệ dương tính giả là 42,7% có nghĩa là trong 100 bệnh

nhân chụp tử cung- vòi tử cung có thể chẩn đốn tắc giả đoạn gần đến 42,7%.

Tuy nhiên, với đoạn xa của VTC thì ngược lại; kết quả bảng 3.24 cho thấy



65



HSG có độ nhạy cao (90,6%) nhưng độ đặc hiệu lại thấp (chỉ có 71,7%) và tỷ

lệ dương tính giả chỉ có 16,4% có nghĩa là có 100 bệnh nhân chụp TC-VTC có

thể chẩn đốn tắc giả 16 trường hợp. Đó chính là giá trị chẩn đốn của HSG

trên từng đoạn, với đoạn gần thì độ nhạy không cao nhưng độ đặc hiệu lại cao

và ngược lại với đoạn xa thì độ nhạy lại cao và độ đặc hiệu thấp hơn.

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Phương Nga và cộng sự từ tháng 9/2002

đến tháng 5/2003 tại bệnh viện Từ Dũ trên 219 bệnh nhân vơ sinh cho thấy

chụp phim TC-VTC có giá trị cao trong chẩn đoán tắc VTC đoạn gần với độ

đặc hiệu là 72,24% và khả năng dự báo âm tính là 96,4%. Đối với tắc VTC

đoạn xa, chụp phim TC- VTC có thể được xem như là một test sàng lọc chẩn

đoán với độ nhạy 88,55% và khả năng dự báo dương tính là 76,66% [71].

4.5. Mối liên quan giữa tình trạng tắc VTC với tình trạng dính khi PTNS

Theo như kết quả ở các bảng 3.6; 3.9 và 3.11 đã cho nhận xét bệnh nhân

có tiền sử viêm nhiễm, nạo hút thai hay có phẫu thuật tiểu khung là một trong

những yếu tố nguy cơ gây dính vòi tử cung ở các mức độ khác nhau lần lượt

là 2,6; 2,6 và 3,0 lần so với những người khơng có tiền sử.

Khi nghiên cứu mối liên quan giữa tình trạng dính vòi với tình trạng tắc

vòi thì kết quả bảng 3.25 cho thấy những trường hợp dính tiểu khung nguy cơ

tắc vòi gấp 10 lần trường hợp khơng dính (OR = 10,3 KTC 95% 3,8- 28,2).

Khi nghiên cứu mối liên quan giữa tình trạng tắc vòi với mức độ dính nhận

thấy những trường hợp bị tắc VTC bị dính nặng là 97,1%, dính vừa là 98,1%

và dính nhẹ là 86,8%, trong khi đó khơng dính mà bị tắc chỉ có 50%, sự khác

biệt rất có ý nghĩa thống kê với p< 0,001 (bảng 3.26). Qua bảng này ta cũng

nhận thấy trong 156 bệnh nhân được chẩn đốn tắc vòi trên X-quang chỉ có

30 bệnh nhân khơng bị dính trên nội soi (chiếm 19,2%), còn lại là dính ở các

mức độ khác nhau (chiếm 80,8%).

Như vậy, phương pháp chụp X-quang chỉ cho biết hình ảnh VTC khi



66



bơm thuốc cản quang vào, từ đó cho kết quả nghĩ đến VTC có bị tắc hay

khơng chứ khơng thể đánh giá được tình trạng quanh vòi tử cung (dính, lạc

nội mạc) hay quanh buồng trứng để từ đó có những định hướng đúng đắn cho

người bệnh có nên chuyển IVF hay khơng. Phẫu thuật nội soi có thể cho các

nhà sản phụ khoa một cái nhìn tổng thể hình ảnh VTC (mềm mại, gấp khúc, ứ

dịch, loa vòi có tạo thành túi bịt hay khơng), từ đó tìm được ngun nhân gây

tắc vòi tử cung (dính Chlamydia, lạc nội mạc hay do tiền sử của lần phẫu

thuật trước). Không những thế, phẫu thuật nội soi còn có thể giúp đánh giá

mức độ dính VTC và tiểu khung một cách khá chính xác (theo bảng AFS

1985), từ đó đưa ra các quyết định giúp thơng vòi như gỡ dính, tạo hình loa

hay kết hợp. Với những trường hợp tắc kẽ, tắc ở các vị trí khác mà mức độ

dính quá nặng, hay VTC ứ nước, giãn to, viêm cứng có thể tư vấn kẹp vòi

chuyển làm IVF.

Theo nghiên cứu của Bacevac J và cộng sự [72] ở 140 bệnh nhân vô sinh

do VTC được phẫu thuật nội soi cho kết luận:

- Chụp tử cung – vòi tử cung là một biện pháp đơn giản trong chẩn đốn

vơ sinh nữ;

- Chụp tử cung- vòi tử cung và nội soi ổ bụng là hai phương pháp bổ

sung cho nhau trong đánh giá vơ sinh do vòi tử cung;

- Nội soi ổ bụng ưu việt hơn so với chụp tử cung- vòi tử cung trong đánh

giá dính quanh vòi tử cung.



67



KẾT LUẬN

1. Một số đặc điểm của phụ nữ vơ sinh do tắc vòi

- Những bệnh nhân có tiền sử bị viêm nhiễm có nguy cơ tắc vòi tử cung

cao gấp 3,8 lần và có nguy cơ dính vòi tử cung gấp 2,6 lần người khơng có

tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục.

- Những bệnh nhân có tiền sử nạo hút có nguy cơ tắc vòi tử cung lên đến

4,1 lần và có nguy cơ dính vòi tử cung gấp 2,6 lần so với nhóm chưa nạo hút

thai lần nào.

- Những bệnh nhân nào có tiền sử phẫu thuật tiểu khung thì có nguy cơ

bị dính vòi tử cung gấp 3 lần so với nhóm khơng có tiền sử phẫu thuật.

2. Đối chiếu hình ảnh X-Quang TC-VTC với PTNS

- Tỷ lệ tắc 2 vòi chiếm 81,1% và tắc 1 vòi chiếm 18,9%.

- Trong 156 bệnh nhân được chẩn đốn tắc vòi tử cung trên HSG thì

PTNS cho kết quả tắc 134 bệnh nhân bị tắc và 22 bệnh nhân thơng cả 2 vòi.

Như vậy sự phù hợp giữa chẩn đoán qua HSG qua nội soi là 85,9%.

- Phương pháp chụp tử cung - vòi tử cung có độ nhạy cao: 98,3% với

VTC(P), 95,5% với VTC(T) và 92,9% khi tắc cả 2 vòi.

- Giá trị chẩn đốn đúng của phương pháp chụp X quang TC- VTC vòi

(P) là 82%, với VTC (T) là 84% và cả 2 vòi là 80,2%.

- Tỷ lệ dương tính giả của HSG là 8,2% ở VTC(P), 13,6% ở VTC(T) và

18,1% ở cả 2 vòi.

- Tỷ lệ âm tính giả: Ở VTC (P) là 15,4%, VTC(T) là 37,3% và cả 2

vòi là 17,3%.

- Khi chụp tử cung- vòi tử cung có cản quang chẩn đốn tắc vòi tử cung

kèm theo ứ nước, thì sự phù hợp với chẩn đoán nội soi là cao nhất, cho kết

quả đúng đến 91%.

- Giá trị chẩn đoán của HSG trên từng đoạn, với đoạn gần thì độ nhạy

khơng cao nhưng độ đặc hiệu lại cao và ngược lại với đoạn xa thì độ nhạy lại

cao và độ đặc hiệu thấp hơn.



KIẾN NGHỊ



68



- Với những bệnh nhân vô sinh, sau khi đã khám loại trừ hết các nguyên

nhân vô sinh khác vẫn nên chỉ định chụp tử cung - vòi tử cung để đánh

giá tình trạng vòi tử cung.

-



Nếu chụp HSG có tắc, cotte(-) ngay cả tắc đoạn gần vẫn nên được nội

soi khẳng định chẩn đoán và điều trị (nếu cần) trước khi chuyển sang

thụ tinh ống nghiệm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo kết quả của bảng 3.15, trên vòi tử cung (T), trên phim chụp X-Quang phát hiện được 16/156 trường hợp (10,3%) thông vòi (T) thì khi phẫu thuật nội soi phát hiện được 29/156 vòi thông, tương đương 18,6%.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×