Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sự cân bằng nước của thực vật trên cạn

Sự cân bằng nước của thực vật trên cạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thân:

 Nước được vận chuyển từ rễ lên lá trong mạch gỗ. Mạch gỗ cấu tạo

gồm quản bào và mạch ống.

 Quản bào Mạch ống

Có mặt ở cả TV hạt kín và TV hạt trần và các nhóm của TV có mạch

dẫn Chỉ thấy ở thấy TV hạt kín và 1 nhóm nhỏ của TV hạt trần, có thể

có ở một số dương xỉ

 Hình thon dài, rỗng, Tế bào chết với mức độ hóa gỗ cao của thành.

Ngắn hơn, đường kính rộng hơn,..

 Các pits thơng 2 mao quản liền kề theo chiều ngang Có thể thơng với

ống có kích thước lớn hơn qua pits ở đầu mút



Lá:

 Biểu bì của lá và gốc mất 1 lượng nước ít nhất do chúng tiết ra lớp sáp cutin, lớp

này không thấm nước.

 Cutin cũng khơng thấm CO2.

 Cây có sự tiến hóa để thỏa mãn 2 nhu cầu này đó là hệ thống khí khổng hay lỗ

khí.

 Cơ sở vật lí của q trình bốc hơi nước đã chứng minh rằng: các phân tử nước bốc

hơi và thốt vào khơng khí ở mép chậu nước dễ dàng hơn nhiều so với các phân tử

nước bốc hơi từ giữa chậu nước.

 Như vậy, vận tốc thốt hơi nước khơng chỉ phụ thuộc vào diện tích thốt hơi mà

còn phụ thuộc chặt chẽ vào chu vi của các diện tích đó. Rõ ràng là hàng trăm khí

khổng trên một lá sẽ có tổng chu vi lớn hơn rất nhiều so với chu vi lá

 



5. Các nhóm thực vật liên quan điến mơi trường nước

Thực vật thủy sinh (hay  thực vật sống dưới nước) là thực

vật thích ứng với việc sống trong mơi trường nước có 2 lồi :

 Các lồi tảo biển chúng có thể sống hoàn toàn trong nước ,

một phần trong nước hoặc trong mơi trường ẩm ướt như bùn.

 Các lồi sen, hoa súng thích ứng với mơi trường ngập nước

với phần lá nổi trên mặt nước. 

Các nhân tố chính kiểm sốt sự phân tán của thực vật thủy

sinh là độ sâu và chu kỳ lũ.

Tuy nhiên, các nhân tố khác cũng có thể được xem là kiểm

soát sự phân tán và phát triển của chúng như chất dinh dưỡng,

độ mặn và dao động sóng nước.



6. Sự cân bằng nước của động vật trên cạn

 Động vật ưa ẩm:Khi độ ẩm quá thấp, chúng khơng thể sống được vì trong cơ thể

của chúng thiếu cơ chế dự trữ và giữa nước. Ví dụ ếch, nhái trưởng thành,…

 Động vật các vùng hạn: Khả năng thích nghi của động vật đối với điều kiện khơ

hạn rất đa dạng, nhất là những tập tính sinh lý sinh thái. Các động vật này nhờ

có cơ chế tích trữ nước và bảo vệ nước chống bốc hơi, sử dụng thức ăn khơ.

Hoặc ở chúng có vỏ bọc khơng thấm nước, nhiều loài (gậm nhắm, sơn dương...)

sống ở hoang mạc có các tuyến mồ hơi kém phát triển.

 Chúng có nhu cầu nước thấp, lấy nước từ thức ăn, thải phân khơ, bài tiết ít nước

tiểu, một số (lạc đà) sử dụng cả nước nội bào (ơ xy hố mỡ dự trữ). Ngồi ra còn

có nhiều lồi động vật tránh khơ nóng bằng cách ngủ hè hay đào hang trong đất.

Sên (Helix desertorum) có thể sống 4 năm liền bằng cách ngủ hè khi khí hậu q

khơ. Các động vật sa mạc như các lồi bò sát đất cát; sâu bọ cánh cứng, châu

chấu sa mạc thuộc nhóm này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự cân bằng nước của thực vật trên cạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×