1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Đánh giá hiệu quả tài chính của chiến lược

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (316.95 KB, 56 trang )


Lợi nhuận gộp



286 tỷ đồng



361 tỷ đồng



Lợi nhuận sau thuế



214.5 tỷ đồng



270.75 tỷ đồng



Theo như thông tin thực tế cho thấy, thì có sự phát triển khả quan này là nhờ vào

sự đóng góp của dòng sản phẩm cao cấp, dòng Trăng Vàng tiếp tục mang đến cho khách

hàng sự hài lòng tuyệt đối về mẫu mã, chất lượng và đã “hút hàng” từ đầu mùa. Đặc biệt,

dòng sản phẩm bánh ngọt Xanh chế biến từ 100% thành phần thực vật tự nhiên, tốt cho

sức khỏe được Kinh Đô tiên phong giới thiệu trong năm nay và dòng sản phẩm truyền

thống đã được người tiêu dùng ủng hộ nhiệt tình và đánh giá cao.

Tập đoàn đạt được kết quả trên còn nhờ sản lượng và giá bán tăng. Giá sản phẩm

được điều chỉnh tăng bình quân 10-20% so với năm 2010. Cơ cấu sản phẩm đa dạng với

chất lượng, mẫu mã thiết kế vượt trội đã giúp Kinh Đô giữ được khách hàng và tăng

doanh thu.

Với tiềm lực đầu tư cho dòng bánh ngọt ngày càng mạnh, thì khả năng trong tương

lai của bánh ngọt Kinh Đô mang lại lợi nhuận là rất lớn, và ngày càng mở rộng thị phần

hơn nữa. Dự báo trong mùa trung thu cho hai năm tiếp theo cơng ty sẽ có tốc độ phát

triển bình qn về lợi nhuận là 1.12, ta có thể có kết quả dự báo về lợi nhuận như sau:

Năm

2011



2012



2013



1.12



1.12



303.24 tỷ đồng



339.63 tỷ đồng



Chỉ tiêu

Tốc độ tăng trưởng

Lợi nhuận



270.75 tỷ đồng



3. CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC

MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO KINH ĐÔ

3.1 Đánh giá việc vận dụng chiến lược marketing của công ty cổ phần Kinh Đô:



41



3.1.1 Chiến lược sản phẩm

Sản phẩm công ty nhiều nhưng chưa quy hoạch thương hiệu cho từng ngành, chưa

phát huy hết những sản phẩm chủ lực, sản phẩm tiềm năng. Một số sản phẩm lỗ nhưng

vẫn duy trì, chưa có biện pháp khắc phục như: kẹo, bánh bơ ký,... Một số sản phẩm chưa

có sự khác biệt nhiều so với đối thủ cạnh tranh.

Một số mẫu mã trong cùng nhóm sản phẩm hay cùng dạng sản phẩm thường bị

trùng nhau về cách thiết kế mẫu mã cũng như quy cách đóng gói. Điều này đã gây khó

khăn cho các nhà quản lý marketing trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu, cũng

như quy hoạch và phát triển theo từng dạng từng nhóm sản phẩm.

3.1.2 Chiến lược giá

Theo chiến lược giá các nhà phân phối của Kinh Đo sẽ được hưởng lợi nhuận từ

mức chiết khấu cố định theo đơn đặt hàng, từ những chương trình ưu đãi theo khối lượng

đặt hàng định kỳ và mức thưởng của công ty. Nếu nhà phân phối đặt hàng vượt qua số

lượng qui định sẽ được cộng tích lũy thêm 1 -2% mức chiết khấu. Ngồi ra, nếu nhà phân

phối nhanh chóng trả tiền liền có thể được cộng thêm 1-2% nữa, vậy một nhà phân phối

thành cơng có thể đạt đến mức chiết khấu từ 8 - 10%. Đây là chính sách giá linh động,

khuyến khích. Cho nên nó rất thu hút và thúc đẩy các hệ thống bán sỉ lấy hàng của công

ty và chống lại cạnh tranh .

Tuy nhiên, giá bán lẻ của công ty tuy ổn định phù hợp với giá thị trường nhưng việc xây

dựng giá chưa có những bước đột phá dựa vào sản phẩm độc đáo khác biệt.

Bên cạnh đó, công ty chỉ nhắm vào các nhà phân phối lớn chứ không chú ý nhiều đến hệ

thống bán lẻ trực tiếp như các Shop, các tiệm tạp hóa,... Do đó, cơng ty chưa thật sự

khuyến khích điểm bán lẻ trung thành với công ty, cũng như trung thành với các hệ thống

phân phối mà công ty đã ủy thác phân phối



3.1.3 Chiến lược phân phối

Các dạng sản phẩm của công ty tuy đa dạng nhưng cơng ty chưa có sự chuyện biệt

theo từng kênh từng nhĩm mặt hàng. Nên sẽ gây rất nhiều khó khăn cho vấn đề quản lý vì

42



có một số sản phẩm đặc thù. Các hình thức quản lý kênh vẫn chưa chắc chế. Một số

vùng sâu vùng xa chưa được theo dõi, chưa có số liệu. Đặc biệt là vấn đề liên kết các số

liệu tiêu thụ hàng từ nhà phân phối về công ty, vấn đề này vẫn chưa được hệ thống hóa về

số liệu. Do đó, rất khó khăn trong việc theo dõi doanh số bán hàng của từng mặt hàng.

* Kênh siêu thị, trường học

Hiện nay vẫn chưa được công ty quan tâm đúng mức Công ty chỉ tập trung vào

các kênh này chủ yếu để đưa hàng vào thị trường với mục đích quảng cáo quảnh bá, chứ

chưa có đội ngũ chun chăm sóc các kênh siêu thị và sắp xếp hàng của công ty theo

danh mục hoặc theo những đầu tư chuyện nghiệp mà các công ty hàng tiêu dùng khác đã

làm như hiện nay. Do đó, sản phẩm của cơng ty tuy rất đa dạng và tiêu thụ hiệu quả trong

siêu thị nhưng những sản phẩm của công ty được trưng bày cùng với các nhóm bánh kẹo

khác nhau của các đối thủ cạnh tranh nên rất khó tạo được sự khác biệt cho sản phẩm

Kinh Đô trên thị trường.

Đối với kênh trường học công ty khai thác chưa nhiều, chưa có đội ngũ chuyên

biệt để thâm nhập vào kênh này. Trong khi đó, sản phẩm của cơng ty thì cần 40% là

nhóm hàng dành cho đối tượng học sinh. Nên đây là kênh công ty cần hướng tới trong

tương lai.

Với hệ thống phân phối như trên, sản phẩm của Kinh Đơ có thể đến tay người tiêu

dùng trên khắp miền đất nước, giảm được các đơn đặt hàng nhỏ, ... việc chọn lựa và phân

bố các nhà phân phối, các đại lý làm giảm thiểu tình trạng cạnh tranh, phá giá hàng hóa

làm rối loạn thị trường. Thơng qua các nhà phân phối, đại lý cơng ty có thể nghiên cứu và

thực hiện các chương trình khuyến mãi phù hợp.

Tuy nhiên, công ty sẽ khĩ biết được nhận xét của người tiêu dùng về sản phẩm của

cơng ty vì phải thông qua trung gian. Trong khi các kênh khác chưa được chú trọng, đội

ngũ quản lý còn thiếu.

3.1.4 Chiến lược chiêu thị

Nhìn chung, các hoạt động chiêu thị được phân bố khá đều những đối với từng



43



hình thức thì chưa được chuyên sâu như: đối với công tác quảng cáo, công ty chú trọng

nhiều đến quảng cáo trên ti vi chiếm 35% ngân sách chiêu thị. Các hoạt động khuyến mãi

thực hiện không đều đối với các dạng sản phẩm.

Công ty chưa xây dựng được những chiến lược thương hiệu sản phẩm. Nên phần

lớn các mẫu quảng cáo, trong thời gian qua chỉ tập trung vào quảng cáo những nhóm sản

phẩm hoặc hình ảnh về thương hiệu Kinh Đơ chứ chưa đi sâu vào vấn đề phát triển

thương hiệu cho một sản phẩm cụ thể. Ví dụ như quảng cáo Snack, cơng ty giới thiệu tất

cả các nhóm sản phẩm của Snack như sị, tôm,... nhưng chỉ là thương hiệu Kinh Đô chứ

chưa tạo được một tên sản phẩm Snack cụ thể.

Các chương trình khuyến mãi của cơng ty ít chú trọng đến vấn đề đi kèm với

quảng cáo truyền thông. Mặc dù, công ty tổ chức rất nhiều chương trình khuyến mãi,

nhưng sự hưởng ứng và nhận biết của người tiêu dùng về chương trình khuyến mãi còn

rất thấp. Do công ty chưa biết kết hợp tổng lực tồn diện các hình thức truyền thơng trong

một chiến dịch khuyến mãi mà chỉ thực hiện những chiến dịch khuyến mãi đơn lẽ nên đã

làm cho các chương trình khuyến mãi chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

3.2 Phân tích SWOT

Điểm mạnh(S)



Điểm yếu (W)



- tuy mạng lưới phân phối tốt nhưng

vẫn chưa phát huy hết được chức năng

- Là nhãn hiệu có uy tín và được ưa

của kênh hiện có trên thị trường

chuộng nhiều năm nay trên thị trường.

- kênh bakery chưa được phủ rộng ra

- có nguồn tài chính vững mạnh thơng

các thành phố khác

qua việc phát hành cổ phiếu

- có nhiều các dòng sản phẩm trùng với

- đội ngủ nhân viên của cơng ty có

các cơng ty khác

năng ,trình độ có tinh thần đồn kết

cao

- chất lượng sản phẩm luôn được đánh

giá cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế



Cơ hội(O)



Đe dọa(T)

44



- việt nam là một trong những thị

trường đang phát triển, dân số đông

- nguy cơ về an tồn thực phẩm dê hiểu

còn rất nhiều tiềm năng khai thác

lầm với sản phẩm các công ty khác

- kinh đô đang dẫn đầu trong cả nước

- canh tranh ngày càng gay gắt với các

về thị phần nên có cơ hội để phát riển

đối thủ có nhiều tiềm năng và quy mơ

các dòng sản phẩm mới dễ dàng

ngày càng mở rộng trên thị trường

- với uy tín đã xây dựng có thể phát

triển ra nhiều hơn thị trường nước

ngoài



3.3 Một số biện pháp nhằm hòan thiện chiến lược marketing tại cơng ty cổ phần

bánh kẹo Kinh Đơ

3.2.1 Hòan thiện chiến lược sản phẩm

3.2.1.1 Xác định thị trường mục tiêu và phát triển sản phẩm

Theo thống kê nội bộ. khách hàng dùng sản phẩm của cơng ty Kinh Đơ là những

người có thu nhập trung bình trở lên và tập trung chủ yếu là nữ giới (60%). Các chủng

loại sản phẩm hiện nay được bán tại tất cả các khu vực trên cả nước.

Như vậy, về hành vi mua sản phẩm và khuynh hướng tiêu dùng ngày nay của cơng

ty có thể phân loại theo nhóm đối tượng tiêu dùng như sau:

Bảng : phân loại khuynh hướng tiêu dùng và hành vi mua sắm

Khuynh hướng

Đối tượng mục tiêu



Miêu tả sản phẩm



tiêu dùng

Tiêu dùng ở mọi Giới trẻ : thanh niên / giới văn Sản phẩm chất lượng cao,

nơi, (tiêu dùng phòng/ cơng nhân viên



trọng lượng được thiết kế vừa



hàng ngày)



khẩu phần tiêu dùng, quy



Nơi tiêu dùng : công sở, trạm xe

buýt, khu vui chơi, trên xe, tàu...



cách, trọng lượng sản phẩm

vừa phải với khẩu phần người



45



tiêu dùng.

Quà tặng /biểu



Mọi người/ mọi giới,



(Sản phẩm cao Nơi tiêu dùng : Mùa Tết, lễ,

cấp)



hội/tiệc



Sản phẩm đạt chất lượng tốt

nhất. Bao bì thiết kế đẹp, sang

trọng . Quy cách bao bì, trọng

lượng phải tương xứng với

món quà tặng/ biểu



Lựa chọn cho sức Mọi người/ mọi giới,



Sản phẩm có chất lượng tốt và



khỏe



có bổ sung nhiều hàm lượng



Nơi tiêu dùng : Mọi nơi, mọi lúc



chất có lợi cho sức khỏe. Bao

bì thơng tin rõ ràng về lợi ích

và tính năng sử dụng. Quy

cách sản phẩm phù hợp với

khẩu phần.



Tuy nhiên, khuynh hướng tiêu dùng lựa chọn cho sức khỏe có thể được phát triển

chung cho cả hai khuynh hướng: tiêu dùng cho mọi nơi và mua sắm làm quà tặng /quà

biếu. Bởi vì thực tế, khuynh hướng tiêu dùng lựa chọn cho sức khỏe phù hợp cho cả hai

khuynh hướng còn lại và có thể đáp ứng mong muốn cho mọi phân khúc thị trường. Như

vậy, dạng sản phẩm có thể phát triển với một số lượng chung.

Hình : Sơ đồ phát triển thương hiệu

BRAND

Cho một nhóm sản

phẩm nào đó



SP nào đó



Nhóm

Nhóm sản

sản phẩm

phẩm tiêu

tiêu dùng

dùng

mọi

nơi

mọi nơi



Nhóm

Nhóm sản

sản phẩm

phẩm quà

quà biếu

biếu

tặng

tặng



Sub

Sub brand

brand A

A



Sub

Sub brand

brand A’

A’



Sub

Sub brand

brand B

B



Sub

Sub brand

brand B’

B’



Sub

Sub brand

brand C

C



Sub

Sub brand

brand C’

C’



46



3.2.1.2 Xây dựng chiến lược thương hiệu

Theo sơ đồ phân nhóm sản phẩm trên, định vị thương hiệu cho một thương hiệu cụ

thể cần được xác định trên hai quan điểm:

Quan điểm 1 : Xây dựng định vị chung cho thương hiệu một dạng sản phẩm nào đó.

Thương hiệu đó có thể được xem là thương hiệu chính cho dạng sản phẩm của cơng ty.

Quan điểm 2 : Tùy vào khuynh hướng tiêu dùng, công ty sẽ xây dựng những nhóm

sản phẩm phù hợp và tạo ra nhãn hiệu phụ (Sub-brand) được định vị bổ sung tương xứng,

trên cơ sở định vị của thương hiệu chung.

Ví dụ như q trình hồn thiện, tái định vị thương hiệu Marie được xem xét lại các

nội dung:

 Tiến hành nghiên cứu các thuộc tính liên quan đến chất lượng, đặc tính sản phẩm:

mùi vị thơm, độ xốp và cấu trúc bánh. Các thành phần vi lượng cần thiết mà có

nhu cầu cao để bổ sung vào bánh.

 Nghiên cứu lại quy cách kích thước bánh, quy cách đóng gói mới, kiểu dáng thiết

kế và chất lượng bao bì sao cho phù hợp từng nhóm sản phẩm (tiêu dùng hàng

ngày và quà tặng).

 Thị trường tiêu thụ chính của mỗi nhóm sản phẩm.

 Xác định đối thủ chính của từng nhóm, dạng sản phẩm trên thị trường. Việc phân

tích thương hiệu cạnh tranh có thể được xem xét cho mỗi nhóm sản phẩm (nhóm

sản phẩm tiêu dùng hàng ngày và nhóm sản phẩm cao cấp làm quà tặng).

3.2.1.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kiểu dáng bao bì

Phát triển sản phẩm là một trong những thành phần cốt lõi của chiến lược sản

phẩm. Do đĩ, để phát triển sản phẩm cần đánh giá lại nhu cầu thị trường và tăng trưởng

47



của dịng sản phẩm đĩ. Chiến lược sản phẩm trong giai đoạn này cần phải được tập trung

vào mục tiêu sau:

- Về chất lương sản phẩm: Tạo ra dạng sản phẩm chất lượng cao, đa dạng hóa

thành phần bổ sung cho bánh. phù hợp với tiêu dùng của khách hàng. Đẩy mạnh các hoạt

động nghiên cứu và phát triển để tạo ra các đặc tính riêng biệt của dạng sản phẩm Marie

so với dạng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Để thực hiện điều này, thông tin sản phẩm

phải được cập nhật, xử lý và gởi đến các bộ phận liên quan như bộ phận nghiên cứu &

phát triển, bộ phận sản xuất, bộ phận tiếp thị và kinh doanh một cách liên tục, kịp thời về

những nhu cầu thị trường cũng như thông tin đối thủ cạnh tranh. Phân loại và phát triển

sản phẩm theo hai nhóm chính: nhóm sản phẩm tiêu dùng hàng ngày và nhóm sản phẩm

cao cấp dùng làm quà tặng.

* Về hình thức đóng gói bao bì: Bao bì đóng một vai trị quan trọng trong chức

năng thông tin sản phẩm và có tác dụng bảo quản sản phẩm trong quá trình vận chuyển từ

nhà sản xuất - điểm bán lẻ - người tiêu dùng. Bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về cơng ty

và thương hiệu sản phẩm. Bao bì được thiết kế đẹp và sang trọng tạo sự thu hút khách

hàng nhưng phải được xem xét dưới góc độ tối ưu hóa về chi phí. Do đó để thực hiện có

hiệu quả phải đảm bảo một số nguyên tắc:

 Các phòng ban trong cơng ty có liên quan phải tham gia đóng góp ý kiến nghiên

cứu và cải tiến mẫu mã.

 Các quyết định về bao gói phải được tiến hành sớm trong quá trình phát triển sản

phẩm.

 Kiểu dáng bao bì phải phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng và người bán lẻ.

 Dám bảo những tiêu chuẩn giá và khả năng thu lợi nhuận cao.

 Không được thay đổi nhiều về quy cách của bao bì.

 Thu thập thơng tin phản hồi từ thị trường trong quá trình phát triển bao bì.

 Các tiêu chuẩn thiết kế trên bao bì phải được thống nhất và xuyên suất.



48



 Căn cứ vào những quy tắc trên, chiến lược sản phẩm nên chú ý đến sự thay đổi

hình thức đĩng gĩi mới cho phù hợp với định vị mà sản phẩm đĩ đã được phát triển.

3.2.2 Hoàn thiện chiến lược giá

Xác định một chính sách giá đúng đắn là một vấn đề quan trọng đối với các doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh. Bởi vì, nó đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối

cùng và ngày càng mở rộng thị phần trong nước cũng như nước ngồi.

Trong thời gian qua, cơng ty áp dụng chính sách giá linh hoạt, biến động theo thị

trường, theo khu vực, theo vụ mùa, ... Việc định giá tùy thuộc vào biến phí và số lượng

hàng hóa bán ra nhiều hay ít, từ đó định ra cơ chế giá theo phân khúc thị trường (thị

trường đô thị lớn, thị trường đồng bằng, thị trường miền núi,...). Theo đối tượng khách

hàng, theo số lượng mua nhiều hay ít, theo thời gian thanh tốn nhanh hay chậm, theo nhà

bán buơn hay nhà bán lẻ, theo tình hình thực tế cạnh tranh trên thị trường.

Tuy nhiên, với sản phẩm chất lượng cao cấp thì cơng ty khơng thể định mức giá

theo cách như trên (giá thấp), vì đó là chưa tính đến chi phí thực tế sản xuất bao bì dạng

hộp, chi phí cải tiến và phát triển sản phẩm sẽ tăng lên. Ngoài ra:

Xét về yếu tố khách hàng: Thị phần của cơng ty Kinh Đơ hiện nay chiếm vị trí dẫn

đầu. Chủng loại sản phẩm đa dạng và đã được thị trường chấp nhận nên đã từng bước

thâm nhập vào hệ thống bán hàng của công ty tương đối tốt. Do đó, khi nâng cấp hình

ảnh sản phẩm cơng ty từ dạng cấp thấp sang phân khúc giá trị cao thì sự thay đổi nhóm

khách hàng này khơng lớn.

Xét về yếu tố cạnh tranh: Độ nhạy về giá cả cho mặt hàng này khá cao vì có nhiều

sản phẩm cạnh tranh thay thế. Một số công ty trong nước, kể cả hàng ngoại nhập có thể

điều chỉnh mức giá rất cạnh tranh để thâm nhập. Như vậy, để gia tăng mức giá, cơng ty

phải đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hình ảnh các sản phẩm công ty trở thành một

thương hiệu mạnh và nâng cao giá trị của thương hiệu trên thị trường.

Xét về yếu tố chi phí : Nâng cao hơn nữa cơng tác quản lý chi phí cấu thành trong

sản phẩm và xây dựng phương pháp định giá phù hợp.



49



Căn cứ vào các yếu tố trên. hướng đề xuất cho chiến lược định giá của cơng ty nói

chung là chiến lược mức giá trung hòa nhưng sẽ được định ở mức giá cao hơn so với sản

phẩm lúc chưa cải tiến để bù đắp chi phí gia tăng do cải tiến và đầu tư tiếp thị. Hơn nữa,

ngay trong giai đoạn đầu đưa sản phẩm mới ra thị trường nếu định mức giá rất cao (chiến

lược giá hớt váng) sẽ khó thâm nhập trên thị trường.

3.2.3 Hồn thiện chiến lược phân phối

Phân phối là khâu vừa tiêu thụ sản phẩm, vừa hiểu được nhu cầu của thị trường,

thị hiếu của người tiêu dùng. Đặc biệt là sự đóng góp của khách hàng về mẫu mã, chất

lượng, bao bì, đóng gói, hoặc cách thức quảng cáo, chiêu thị ...

Nhưng việc áp dụng hệ thống phân phối thông qua đội ngũ nhân viên bán hàng và

phân phối trực tiếp dưới hình thức bán lẻ như hiện nay tuy có quan hệ kinh doanh tốt,

nhưng xét ở khía cạnh quản lý thì chưa đủ sức bao quát hết, tốn chi phí. Do đó, nên áp

dụng một số mơ hình về quản lý đội ngũ nhân viên bán hàng như mơ hình của các tập

đoàn P&G và Unilever. Các tập đồn này quản lý theo phương pháp: đội ngũ nhân viên

bán hàng do nhà phân phối quản lý, cơng ty chỉ quản lý trưởng khu vực kinh doanh đến

giám sát, với cách quản lý đĩ cho phép cơng ty tiết kiệm được chi phí quản lý nhân viên,

ràng buộc nhà phân phối gắn chặt kinh doanh với công ty.

Ngồi ra, mục tiêu cuối cùng của phân phối là làm cho sản phẩm đến được tay

người tiêu dùng. Do đó hệ thống phân phối của công ty cũng được xem là một phương

tiện để quảng bá hình ảnh thương hiệu sản phẩm cơng ty rất tốt.

Đối với kênh Siêu thị:

Mặc dù doanh số hệ thống siêu thị chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh số

thị trường, mức độ quảng bá khá cao vì đối tượng tiêu dùng đến mua tại hệ thống Siêu thị

khá phù hợp với đối tượng sử dụng bánh. Theo số liệu thống kê 2002 - Cục thống kê.

65% lượng khách đến siêu thị, trung tâm mua bán là nữ giới. Hơn nữa nhu cầu mua sắm

tại siêu thị, trung tâm mua bán ngày càng tăng lên trong những năm gần đây.

Một số biện pháp cần triển khai :

50



 Thuê các kệ để tăng bày phù hợp với từng loại sản phẩm tại các vị trí có người qua

lại đông.

 Thông khai quảng cáo các vật phẩm quảng cáo thương hiệu bánh bên trong và bên

ngồi tại các hệ thống siêu thị. Đa dạng các hình thức quảng bá như phát hàng mẫu,

quảng cáo bảng hiệu, hộp đèn hoặc treo các áp phích tại các quầy tính tiền ...VV.

Chiến dịch quảng bá phải được tổ chức đồng loạt và phù hợp với chiến dịch tiếp

thị tổng thể.

 Thiết lập đội ngũ nhân viên 'tiếp thị trực tiếp thường xuyên chăm sóc hàng hóa,

đảm bảo các nguồn hàng được cung cấp đầy đủ và trưng bày đẹp trên các kệ, giới

thiệu sản phẩm và quản lý các vật dụng quảng cáo.

Đối với hệ thống Bakery :

Đẩy mạnh hơn nữa các hình thức quảng bá thương hiệu sản phẩm.

Mở rộng hệ thống này tại các tỉnh miền Tây, miền Trung (các khu vực thu hút

nhiều khách du lịch như Nha Trang, Đànẵng..).

Nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ khách hàng như cung cấp thông tin sản

phẩm, tư vấn khách hàng về sản phẩm, giải quyết các khiếu nại nhanh chóng.

Đối với hệ thống sỉ và rẻ:

Duy trì hệ thống phân phối hiện hành và thiết lập chặt chẽ hơn nữa hệ thống bán

sỉ, lẻ đảm bảo các đơn hàng luân chuyển tốt ra thị trường.

Khai thác, tổ chức và kiểm sốt các kênh trường học, căn tin, khu vui chơi.

Thiết lập mạng lưới thơng tin hai chiều giữa nhà bán buôn, nhà bán lẻ với thương

hiệu cho hệ thống kênh và thu nhận thông tin phản hồi về thương hiệu, tình hình thị

trường, tồn kho sản phẩm từ hệ thống này.

Đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ tiếp thị tại hệ thống kênh như áp dụng mức

chiết khấu trưng bày hấp dẫn, cung cấp vật dụng quảng cáo, kệ trưng bày và hỗ trợ xúc



51



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

×