1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.11 MB, 138 trang )


- Các lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1986);

- Mơ hình HTTT thành cơng (DeLone và McLean, 1992, 2003)

- Các mơ hình HTTT (Bhattacherjee, 2001; Premkumar, 2004).

Những mơ hình này chủ yếu tiếp cận trên cơ sở là xem xét mối quan hệ của các

biến giả định, dẫn đến kết quả nghiên cứu.

Nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực HTTT đề cao hiệu quả của các hệ thống

quản lý tri thức (KMS) như là sự đổi mới tiên tiến nhất trong tương lai. Ví dụ các cuốn

sách và bài báo của các tác giả như Davenport và Prusak (1998), Johnson (1998), Zack

(1999) và Alavi (2001) nhấn mạnh vào tầm quan trọng liên quan đến phát triển KMS

trong tổ chức nhằm tạo ra và duy trì LTCT trong một mơi trường kinh doanh liên tục

thay đổi và năng động.

LTCT là kết quả của những quyết định tối ưu được tạo ra thông qua việc ứng

dụng tri thức và kỹ năng. Trong nghiên cứu của mình vào năm 2007, De Robillard đã

đề xuất mơ hình giải thích cách thức mà thơng tin, tri thức, kỹ năng được sử dụng để

tạo ra LTCT. Những quyết định tối ưu được sử dụng hàng ngày dựa trên việc áp dụng

tri thức ngầm và hiện có sẵn trong doanh nghiệp. Tri thức ngầm được hiểu như sự hiểu

biết của mỗi cá nhân, tập thể, khi áp dụng vào LTCT sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng

được những lợi thế mà đối thủ khó có thể sao chép được. Tri thức ngầm là một nhân tố

thành công quan trọng để đảm bảo LTCT (Van Beek, 2008).

Một nghiên cứu khác của Johannessen & Olsen (2003), cho rằng: có một sự

tương quan giữa mức độ quản lý tri thức, khả năng học tập của tổ chức với mức độ

LTCT. Quản lý tri thức đã dẫn đến việc cải thiện hoạt động trong dịch vụ khách hàng,

phát triển sản phẩm, giáo dục, đào tạo và quản lý sáng chế.

Trong các nghiên cứu của Porter (1985), Barney (1991), and Teece et al (1997)

cũng đã chỉ ra rằng các HTTT, hệ thống quản lý tri thức đặc biệt, phục vụ cho sự phát

triển của các LTCT. Trong khi hệ thống quản trị thơng tin và tri thức đơn độc khơng

thể có các chất lượng cần thiết để cung cấp cho các doanh nghiệp LTCT bền vững. Sự

kết hợp của hệ thống quản lý tri thức với các nguồn lực doanh nghiệp và năng lực cốt

lõi là chìa khóa cho sự phát triển và duy trì LTCT bền vững thơng qua cải tiến sản

phẩm và q trình. Trong vị trí đó, hệ thống quản lý tri thức nắm một vai trò quan

trọng trong việc chuyển từ khả năng học hỏi và năng lực cốt lõi sang LTCT và LTCT

bền vững, bằng cách cho phép và khơi phục lại q trình học hỏi và phát triển nguồn lực.

Tại Việt Nam cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu về quản lý tri thức của

các tác giả: Đoàn Quang Minh (2012) với Luận án tiến sĩ “Duy trì tri thức tại doanh



nghiêp vừa và nhỏ ở Việt Nam: mơ hình và quy trình”; Nguyễn Thị Nguyệt Quế

(2010) nghiên cứu về đề tài“Năng lực quản lý tri thức và LTCT: Một nghiên cứu tại

các doanh nghiệp Việt Nam”, Phạm Thị Bích Ngọc (2008) nghiên cứu quá trình

chuyển đổi tri thức trong tổ chức tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin ở Việt

Nam; Một vài tác giả khác nghiên cứu về quản lý tri thức trong doanh nghiệp Việt

Nam như: Nguyễn Hữu Lam (2003), Hoàng Việt Hà (2001), Nguyễn Ngọc Thắng

(2011). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ tập trung các khía

cạnh quản lý, chia sẻ, duy trì tri thức trong môi trường doanh nghiệp chứ chưa đề cập

tới hệ thống quản lý tri thức. Các nghiên cứu cũng chưa chỉ rõ vai trò của hệ thống

quản lý tri thức trong việc nâng cao LTCT cho doanh nghiệp.

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về Hệ thống quản lý tri thức và LTCT trong

doanh nghiệp, luận án đi sâu tìm hiểu về các mơ hình và nghiên cứu chính dưới đây:

- Mơ hình SECI do Nonaka đề xuất quy trình chuyển từ tri thức ẩn sang tri thức

hiện thông qua các bước: Xã hội hóa (Socialization), Ngoại hóa (Externalization), Kết

hợp (Combination) và Nội nhập (Internalization).

- Mơ hình chia sẻ tri thức do A.Taylor, H.Wright đề xuất năm 2006 chỉ ra các nhân tố

ảnh hưởng tới hiệu quả tri thức gồm: Xu hướng quản lý, Chiến lược phát triển và Hạ

tầng công nghệ thông tin và truyền thông của doanh nghiệp.

- Nghiên cứu của Lamont Bruce và cộng sự vào năm 2003 nhấn mạnh vào vai trò và

hiệu quả của hệ thống quản lý tri thức. Nghiên cứu chỉ rõ, các doanh nghiệp cần

thường xuyên xây dựng lại các năng lực nội bộ, các nguồn lực để duy trì LTCT theo

thời gian. Hệ thống quản lý tri thức tác động mạnh tới hai nhân tố này, qua đó tác động

tới LTCT của doanh nghiệp.

- Belbaly Nassim vào năm 2010 chỉ ra hệ thống quản lý tri thức ảnh hưởng đến LTCT

thông qua việc ra quyết định và khả năng học tập của tổ chức.

Còn một số tồn tại, các nghiên cứu kể trên mới chỉ xét tới từng khía cạnh riêng

của tác động từ hệ thống quản lý tri thức tới LTCT. Trong trường hợp kết hợp các

nhân tố phụ thuộc thì mức độ ảnh hưởng đó sẽ như thế nào? Nếu doanh nghiệp thiếu đi

các nhân tố đó thì sẽ ảnh hưởng ra sao? Làm cách nào để phát huy kiến thức, năng lực

của mỗi nhân viên; khuyến khích, đưa việc chia sẻ tri thức trở thành trách nhiệm,

nghĩa vụ và kèm theo là quyền lợi của mỗi nhân viên trong doanh nghiêp? Nhằm trả

lời các câu hỏi này, nghiên cứu sinh kết hợp tất cả các nhân tố Khả năng học tập của tổ

chức, Quá trình ra quyết định, Năng lực cải tiến của doanh nghiệp và đề xuất mơ hình



xác định mức độ ảnh hưởng của hệ thống quản lý tri thức tới LTCT trong doanh

nghiệp như sau:

Quá trình ra quyết định

-Khai thác tri thức ẩn

-Khai thác tri thức hiện

-Khai thác tri thức văn hóa



Hệ thống quản lý tri thức

-Độ tin cậy

-Tính linh hoạt

-Hội nhập

-Tiếp cận

-Kịp thời



Sáng tạo

Thu nhận

Tổ chức

Phổ biến



Lợi thế cạnh tranh

Chấtlượngsản phẩm

Vị thế thị trường

Đa dạng hóa sản phẩm

Khó bắt chước

Thủ tục hành chính



Đổi mới quy trình

Đổi mới sản phẩm



Hình 1. Mơ hình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả đề xuất

Theo mơ hình nghiên cứu đã đề xuất, tác giả tập trung vào các biến:

- Hệ thống quản lý tri thức

- Khả năng học tập của tổ chức

- Quá trình ra quyết định

- Năng lực cải tiến

Trong đó các nhân tố sẽ được khảo sát thơng qua một số biểu hiện:

- Đối với biến số Hệ thống quản lý tri thức:

Hệ thống quản lý tri thức trong doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở một hệ

thống tổng quan nhưng được đánh giá qua các tiêu chí: Độ tin cậy, Tính linh hoạt, Hội

nhập, Tiếp cận, Kịp thời



21

- Khả năng học tập của tổ chức:

Tổ chức học tập là việc sử dụng lại các kiến thức của các cá nhân và các nhóm

người sẵn sàng để áp dụng nó trong cơng việc của họ bằng cách ra quyết định và ảnh

hưởng đến những người khác để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đối với các tổ chức.

Khả năng tổ chức học tập bao gồm bốn quá trình: Thu thập tri thức, sáng tạo tri thức,

tổ chức tri thức và phổ biến tri thức.

- Quá trình ra quyết định:

Trong quá trình ra quyết định, người ra quyết định kết hợp các loại kiến thức

khác nhau (cả kiến thức ngầm và kiến thức rõ ràng) có sẵn trong các hình thức khác

nhau trong tổ chức. Ra quyết định là quá trình tạo kết quả trong việc cải thiện kiến

thức về các vấn đề và tạo ra tri thức mới. Vì vậy, quá trình ra quyết định bắt đầu với

việc cơng nhận và chẩn đốn các vấn đề, tiếp theo là sự phát triển của các phương án

thơng qua tìm kiếm giải pháp làm sẵn hoặc thiết kế những tùy chỉnh được thực hiện,

và kết thúc với việc đánh giá và lựa chọn một sự thay thế mà đã được ủy quyền hoặc

đã được phê duyệt. Trong nhiều tổ chức, các quyết định tốt nhất (phù hợp nhất) là các

quyết định được thực hiện từ việc lựa chọn, đánh giá và phát triển các lợi ích từ việc

trao đổi một lượng thơng tin lớn.Vì vậy, việc quản lý hiệu quả tri thức tương ứng với

việc loại bỏ tình trạng quá tải thông tin bằng cách tổng hợp, phân loại, và tham chiếu

dữ liệu quan trọng. Trong thực tế, sự sụt giảm trong nỗ lực nhận thức cần thiết để xử lý

một lượng lớn thông tin cho phép người ra quyết định tập trung vào các yếu tố trung

tâm hơn và các vấn đề trong quá trình ra quyết định.

- Năng lực đổi mới:

Năng lực đổi mới được đo qua các thang đo về năng lực cải tiến sản phẩm, năng

lực cải tiến quy trình sản xuất, tác nghiệp trong tổ chức

- Lợi thế cạnh tranh:

Lợi thế cạnh tranh được thể hiện thông qua các thang đo về Giá, Chất lượng,

Tốc độ đổi mới, Đa dạng hóa sản phẩm, Thủ tục hành chính, Liên minh, liên kết giữa

doanh nghiệp liên quan, thắt chặt quan hệ với các đối tác, đổi mới liên tục quá trình

kinh doanh.

7. Kết cấu của Luận án

Luận án được bố cục thành 04 chương:

- Chương 1: Quản lý tri thức với vấn đề tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho DNVVN



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (138 trang)

×